Bảo vệ Ruột già, trực tràng, gan và đường tiêu hoá khỏi ung thư

Bảo vệ ruột già, trực tràng và đường tiêu hoá khỏi ung thư

Trong số những người tôi quen biết bị tử vong vì ung thư, thì nhiều nhất là bị ung thư trực tràng hay ruột già. Điều này thật ra không có gì là lạ, một phần vì số người bị ung thư đường ruột chiếm 25% (1 phần tư) tổng số bịnh nhân ung thư và 27% số người chết vì ung thư trên thế giới năm 2020 (Globalcan 2020, WHO) . Và một phần vì ung thư trực tràng và ung thư ở các bộ phận tiêu hoá thường không thể hiện triệu chứng nào cả trong những giai đoạn đầu. Khi phát hiện thì đã đến lúc khá trể.

Khi việc phát hiện ung thư đường tiêu hoá không phải đơn giản, thì phòng ngừa là cách an toàn nhất, nếu có thể được. Nghiên cứu y học gần đây cho thấy chúng ta có thể tránh và chống  ung thư trực tràng và ung thư ở các bộ phận tiêu hoá khác khi có tập hợp vi sinh đường ruột (gut microbiota) lành mạnh. Chúng ta có thể cải thiện tập hợp vi sinh đường ruột cách bổ sung vi sinh tốt (uống probiotics) cùng với chế độ dinh dưỡng lành mạnh, sinh hoạt thể lực đều đặn và lối sống tinh thần tình cảm thư thái, tích cực, lành mạnh. Nếu đã bị ung thư đường tiêu hoá, thì cách phòng ngửa ung thư đường tiêu hoá cũng giúp tăng hiệu quả phương pháp hoá trị, xạ trị và giải phầu nhờ giảm các tác dụng phụ bất lợi của những phương pháp đó.

Cách phòng chống ung thư đường tiêu hoá

Trước khi bắt đầu phòng chống ung thư bằng cách tự nhiên, không dùng thuốc chúng ta cần nắm vững nền tảng của phương pháp này. Có nắm vững thì chúng ta mới thực hiện cách ăn uống và lối sinh hoạt cần thiết để đạt được mục đích mong muốn cách hữu hiệu. Sau đây là những điều chúng ta cần nắm vững:

  1. Tin và hiểu rằng cơ thể chúng ta được tạo ra một cách tuyệt vời. Nó có cơ chế tự chữa lành những hư hỏng (bịnh tật) khi có điều kiện thích hợp. Ngược lại, điểu kiện/môi trường bất lợi kéo dài sẽ làm cho nó hư hỏng ( binh tật mãn tính). Muốn phòng chống bịnh mãn tính kể cả ung thư, chúng ta cần phục hồi và bảo tồn điều kiện thích hợp cho nó tự chữa lành.
  2. Chúng ta cần kiên trì vì cơ thể cần thời gian để loại bỏ các yếu tố bất lợi đã tich luỹ nhiều năm và phục hồi trạng thái lành mạnh. Thông thường sau 3 tháng chúng ta mới thấy công hiệu rõ ràng, mặc dầu có trường hợp sớm hơn tuỳ theo tình trạng mỗi người. Vì vậy đừng bỏ cuộc.
  3. Chúng ta cần hiểu rằng để phòng chống bịnh mãn tính, nhất là ung thư, chúng cần lọai trừ những yếu tố tạo nên môi trường, điều kiện bất lợi và có hại cho cơ thể. Những yếu tố đó nằm trong thực phẩm và thức uống chúng ta tiêu thụ hằng ngày, không khí chúng ta thở, sự căng thẳng tinh thần, tình cảm (xúc cảm tiêu cực – kể cả lo lắng, tức giận, ghen ghét, …), âm thanh ồn ào, tình trạng thiếu ngủ, thiếu nghỉ ngơi, thiếu vận động thể lực của mình (xin xem bài viết Lối sống bình thản, thư thái là chìa khoá sức khoẻ). Việc loại bỏ những yếu tố / môi trường có hại này là việc thiết yếu cần thực hiện cách nghiêm túc, chứ không phải tuỳ tiện và xem thường.

Đi vào chi tiết hơn, chúng ta cần loại/ tránh ăn thịt đỏ, thịt chế biến, thực phẩm chế biến kể cả các loại dầu thực vật tinh chế, ngũ cốc tinh chế – như cơm trắng, bún/ mì làm bằng bột gạo trắng, bánh mì trắng, sản phẩm bột mì trắng (refined grains)- bánh kẹo ngọt.

Thứ nhất, tại sao cần tránh ăn thịt? Vì thịt và sản phẩm gốc động vật nào cũng chứa nhiều vi sinh tiết ra nhiều độc tố (endotoxin). Ăn thịt sống hay chín đếu có nghĩa là ăn những độc tố đó. Mỡ bảo hoà trong thịt lại tăng lượng độc tố chuyển vào máu. Kết quả là tăng chứng viêm trong người (Greger, 2012). Vi sinh độc hại có sẵn trong cơ thể lại thích mội trường axit do thịt ăn vào tạo ra, nên ăn nhiều thịt mỡ sẽ làm vi sinh độc hại sinh sôi và tăng trưởng trong đường tiêu hoá, nâng cao mức lượng nội độc tố, gây thêm viêm đưa đến nhiều thứ bệnh (Minich D., 2017). Chứng viêm kéo dài thường gây nên ung thư ( Coussens, M.L. & Werb, Z., 2002)

Thứ hai, chúng ta cần hiểu rằng hầu hết dầu thực vật tinh chế (khác với dầu thực vật ép lạnh) có hại cho sức khoẻ vì 1. chúng có quá nhiều axit béo ômega 6 so với ômega 3 nên gây viêm cho cơ thể đưa đến những bịnh của thời đại như là tiểu đường, cao huyết áp, ung thư, mất trí nhớ, phong thấp… 2. Chứa nhiều hoá chất dùng trong qui trình sản xuất có hại cho cơ thể và 3. Các dầu này thoá hoá sinh ra chất độc có hai cho cơ thể khi dùng để nấu ăn (từ 70 độ C hay 158 độ F) gây ra nhiều bịnh mãn tính như ung thư, tim mạch và bịnh tâm thần. Dầu bắp (corn oil) dầu hạt bông (cotton seed oil), dầu đậu nành, dầu hạt hoa hướng dương (sunflower seed oil), dầu phụng (peanut oil) dầu canola tinh chế, dầu hạt nho (grapeseed oil) là những dầu thực vật tinh chế không nên dùng. (Hyman, 2016; Patterson et al, 2012; Sifferlin , 2018).

Thứ ba, chúng cần hiểu là nên tránh thức ăn chế biến vì chúng luôn luôn có hoá chất bảo quản nên có hại cho đường ruột.

Thứ tư, âm thanh ồn ào, kích động lâu dài có ảnh hưởng gây căng thẳng thần kinh đưa đến tình trạng mất ngủ, mệt mỏi, đau tim, suy yếu thần kinh.. (Australian Academy of science, 2021) https://www.science.org.au/curious/earth-environment/health-effects-environmental-noise-pollution. Một trong những hậu quả của căng thẳng thần kinh là làm mất thăng bằng hệ vi sinh đường ruột, do đó có thể gây ung thư như đã nói ở trên.

  1. Chúng ta cần hiểu rằng để cho cơ thể tự chữa lành, chúng ta cần tạo môi trường/ điều kiện thich hợp cho nó, nghĩa là cần ăn uống lành mạnh, cần nghỉ ngơi và ngủ đầy đủ, cần đều đặn vận động thể lực, cần nghe âm thanh/ âm nhạc êm nhẹ,  cần hoà mình với thiên nhiên đều đặn…. Và đây là việc thiết yếu phải làm cách nghiêm túc thích thú không thể coi nhẹ.

Thứ nhất, chúng ta cần tạo cho cơ thể trạng thái bình thản, thư thái càng nhiều càng tốt để có tối đa thời gian và năng lượng dồn cho công tác chữa lành cơ thể.  Cách hữu hiẹu nhất là dành nhiều thì giờ nghỉ ngơi, tập thở sâu bằng bụng, nuôi dưỡng liên hệ tình cảm gia đình và xã hội lành mạnh, xây dựng tấm lòng khoan dung, tha thứ, nhân ái, thương yêu, một tâm tình biết ơn, và một lối sống tích cực quan tâm giúp đở người khác.

Thứ hai, trong đường ruột chúng ta lúc nào cũng có những vi sinh trục lợi (opportunistic bacteria and viruses). Khi chúng ta mạnh khoẻ, số lượng những vi sinh này rất thấp nên hệ thống miễn nhiễm chúng ta không phát hiện. Ngược lại khi bi căng thẳng lâu dài, hoc môn căng thẳng cortisol, epinephrine, norepinephrine được tiết ra tràn lan tạo điều kiện thuận lợi cho những vi sinh trục lợi này nhanh chóng sinh trưởng gấp bội, trong khi vi sinh tốt bị thất sủng. Vi sinh trục lợi (xấu) này tiết ra chất độc. Những chất độc này lại làm cho cơ thể tiếp tục sản xuất thêm hoc môn căng thẳng (cortisol…)  Cơ thể chúng ta bị một vòng lẩn quẩn độc hại kiềm chế. Tình trạng này làm hỏng màng ruột non, gây ra rò rỉ đường ruột,  tạo điều kiện cho chất độc lipopolysaccharides lẻn vào cơ thể gây nên hầu hết các bịnh mãn tính như tiểu đường, trầm cảm, Alzheimer’s, Parkinson’s, bịnh tim, cao huyết áp, ung thư v.v. (Krishnan, 2020).

Thứ ba, theo kết quả nghiên cứu, những người vận động thề dục đều đặn có nhiều loại và lượng vi sinh tốt trong đường ruột hơn là những người không hoạt động. Và lượng vi sinh tốt trong người có thể tăng 40% nhờ thể dục. (Monda et al , 2017; Morea, 2017).

Thứ tư, ăn uống lành mạnh đơn giản không có gì phức tạp. Chúng ta chỉ cần nhớ ăn thật nhiều thức ăn chưa chế biến (hạt thô như gạo lức, yến mạch thô, hạt có dầu thô..), ăn thức phẩm  lên men (như sửa chua – yogurt sống, kim chi, rau cải lên men, natto, miso), thât nhiều rau quả củ tươi đa màu, rau thơm, và tránh ăn đường, tránh ăn thịt, tránh dầu tinh chế, tránh thức ăn bột chế biến khi có thể tránh được và uống đủ nước lọc. Ăn uống lành mạnh cũng có nghĩa là ăn uống từ từ, nhai thật kỹ trước khi nuốt, không ăn nhiều quá, và ăn trong khung cảnh nghỉ ngơi, thư dãn. (Axe, 2018). Xin xem bài “ Chỉ ăn thức ăn gốc thực vật không chế biến có thể ngừa cà trị được mọi thứ bệnh mãn tính” https://wp.me/p94GZh-1kU

Chúng ta cũng cần biết rằng trong đường ruột chúng ta có một tập đoàn vi sinh với hàng tỉ tỉ vi trùng, vi khuẩn, nấm vi mô sống trong đó. Tập đòan vi sinh này đóng vai trò quan trọng đối với sức khoẻ chúng ta, từ hệ miễn nhiễm đến sức khoẻ của não bộ và sinh hoạt toàn diện của cơ thể. Cơ thể lành mạnh khi tập đoàn này có khoảng 85% vi sinh là vi sinh tốt. Vi sinh tốt là vi sinh giúp phân hoá các phân tử thực phẩm lớn thành nhiên liệu cần thiết cho cơ thể. Chúng cũng giúp sản xuất vitamin và giúp bảo vệ cơ thể khòi bịnh tật. Ngoài ra, vi sinh (vi trùng) tốt còn một vai trò rất quan trọng là nhờ sinh sôi nhanh chóng chúng kiềm chế vi sinh (vi trùng) xấu.

Khi lượng vi sinh xấu cao hơn 15% thì hệ vi sinh mất thăng bằng, có thể  gây ra nhiều tình trạng rối loạn trong cơ thể và ung thư. Vì vậy, làm sao gia tăng loại và lượng vi sinh tốt trong đường ruột để lập lại thăng bằng và bảo trì tập đòan vi sinh đường ruột là quan trọng trong việc phòng chống bịnh mãn tính, nhất là ung thư.

Thật may mắn là ai nấy trong chúng ta củng có thể lập lại và bảo trì một hệ vi sinh đường ruột lành mạnh bằng cách ăn uống lành mạnh, thể dục đều đặn với lối sống bình thản hiền hoà, nghỉ ngơi, thư dãn đầy đủ như đã trình bày ở phần trên.

Khi có triệu chứng hệ tiêu hoá không ổn như thường xuyên bị bón, hoặc tiêu chảy, hoặc lúc tiêu chảy, lúc bón, hoặc hay ợ chua, hoặc hay no hơn , đầy bụng, đau bụng..   nhất là sau khi ăn rau cải sống, và thực phẩm thực vật khác, đó là dấu hiệu cho biết ruột chúng ta bị hư hại và vi sinh trùng trong đó thiếu en-zim cần có để biến chế (chuyển hoá) chất bột (carbs) và xơ trong thức ăn đó. Có nghĩa là chúng ta không có đủ loại vi sinh tốt cần có trong ruột. Cách cấp tốc làm giải quyết tình trạng không tiêu, no hơi đầu bụng này là uống en zime tiêu hoá (digestive enzyme). Nhưng điều đáng mừng là chúng ta có thể giúp đường ruột chữa lành bằng cách từ từ ăn thêm nhiều loại rau quả và củ chứa chất xơ (bắt đầu ít tù từ tăng lên dần) mà không bị khó chịu. Nói tóm lại, từ từ ăn nhiều loại rau quả củ khác nhau là (=) ăn thêm nhiều loại chất xơ khác nhau tức là (=) tạo phát triển nhiều loại vi sinh trùng tốt, (=) tạo nên hệ vi sinh đường ruột thăng bằng lành mạnh (=) tăng sản xuất mỡ chuổi ngắn (=) kết quả là sức khoẻ tốt toàn diện (Shea, 2020). Điển hình là một trái táo có khoảng 1 trăm triệu vi sinh tốt đa loại (Wassermann, Müller, Berg, 2019).

Khi bị ung thư đường ruột hay bất cứ ung thư loại nào khác, hệ vi sinh đường ruột chúng ta  bị mất thăng bằng trầm trọng, và đường ruột bị hư hại trầm trọng. Chúng ta có thể giúp phục hồi và chữa lành đường ruột nhanh hơn bằng cách uống bổ sung vi sinh tốt gây giống (spore probiotics).  Loại vi sinh này giúp diệt vi sinh trục lợị, không những nuôi dưỡng vi sinh tốt mà còn giúp tăng đa dạng vi sinh tốt (nên gọi là spore probiotics – spore có nghĩa là seed, hạt giống).  Chúng ta có thể mua Youtheory Spore probiotic ở iherb.com.  Sản phẩm này có 3 dòng vi sinh gây giống là Bacillus clausii, Bacillus subtilis và Bacillus coagulans. (Krishnan, 2020) Nếu không tiện mua Youtheory spore probiotics đó thì cũng có thể thay thế nó bằng cách ăn kim chi, sửa chua, dưa cải và natto mỗi ngày vì B. coagulans có rất nhiều trong  kim chi , sửa chua, dưa cải. Còn B. subtilis thì có trong natto (đậu nành lên men của Nhật).

Cách phòng ngừa hữu hiệu ung thư đường ruột vì thế không thể thiếu thói quen ăn đa loại thức ăn lên men.

  1. Nếu đã được bác sĩ chẩn đoán là mình bị ung thư trực tràng, ung thư ruột già , ung thư gan, hay ung thư tuỵ tạng.. chúng ta cũng nên biết những loại vi sinh sau đây có tác dụng diệt tế bào ung thư theo các kết quả nghiên cứu lâm sàng để chọn thêm thuốc bổ sung vi sinh tốt thích hợp nếu muốn (Karolina Kazmierczak-Siedlecka et al. , 2020; Nicoletti A., Pompili M. […] and Ponziani, F.R. , 2019):
  • Ung thư trực tràng, ruột già:

L. rhamnosus, Bifidobacterium adolescentis, Lactobacillus casei, L. acidophilus, Bacillus polyfermenticus , Bifidobacterium animalis

  • Ung thư bao tử:

B. bifidum, L. acidophilus, L. rhamnosus, L. salivarius, B. lactis, B. animalis , L. casei, L. reuteri, B. breve, Bacillus subtilus. L. gasseri.

  • Ung thư tuỵ tạng.

L. Plantarum, B. longum, L. bulgaricusS. thermophilus, L. paracasei.

  • Ung thư gan:: L. rhamnosus, B. subtilis, Bacillus coagulans (Javanmard A. et al , 2018).

Xin lưu ý:

Tài liệu này chỉ có mục tiêu thông tin chứ không thay thế sự chỉ dẫn của bác sĩ chăm sóc sức khoẻ cho bạn.

Tham khảo:

Coussens, M.L. & Werb, Z. (2002). Inflammation and cancer. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2803035/pdf/nihms163568.pdf

Greger, M. (2012). Dead Meat Bacteria Endotoxemia. NutritionFacts.org

Globalcan 2020. WHO. https://gco.iarc.fr/today/data/factsheets/cancers/40-All-cancers-excluding-non-melanoma-skin-cancer-fact-sheet.pdf

Hyman, M. (2016) Why oil is bad for you. https://drhyman.com/blog/2016/01/29/why-oil-is-bad-for-you/

Karolina Kazmierczak-Siedlecka et al. (2020). Gastrointestinal cancers: the role of microbiota in carcinogenesis and the role of probiotics and microbiota in anti-cancer therapy efficacy. Cent Eur Immunol. 2020. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7882408/

Krishnan, K. (2020). Microbiome and Your Parasympathetic State. Parasymnpathetic Summit 2020 etranscript. Pages 217-230

Javanmard A. et al (2018). Probiotics and their role in gastrointestinal cancers prevention and treatment; an overview. Gastroenterology and Hepatology From Bed to Bench. ©2018 RIGLD, Research Institute for Gastroenterology and Liver Diseases https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6204245/pdf/GHFBB-11-284.pdf

Minich, D. (2017) What you need to know about a high-fat diet. Huffpost. https://www.huffingtonpost.com/entry/what-you-need-to-know-about-a-high-fat-diet_us_595f22c4e4b0cf3c8e8d57b0

Monda, V. et al (2017). Exercise Modifies the Gut Microbiota with Positive Health Effects. Oxidative Medicine and Cellular Longevity. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5357536/

Morea, J. (2017). Is Gut Health The Key To A Good Night’s Sleep?Take care of the friendly flora within to help get the sleep you need. Thrive Global. https://medium.com/thrive-global/is-gut-health-the-key-to-a-good-nights-sleep-414e9e7df545

Nicoletti A., Pompili M. […] and Ponziani, F.R. (2019) Going with the gut: probiotics as a novel therapy for hepatocellular carcinoma. Hepatobiliary Surg Nutr. 2019 June: 8(3): 295-297. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6561884/

Patterson, E., Wall, R., Fitzegerald, G.F., Ross, R.P. & Stanton, C. (2012). Health Implications of High Dietary Omega-6 Polyunsaturated Fatty Acids. Review Article. Journal of Nutrition and Metabolism. Volume 2012, Article ID 539426, 16 pages. http://dx.doi.org/10.1155/2012/539426

Shea, T. (2020). The power behind diversity of plants. Foodnerd.

Sifferlin , A. (2018). The 10 best and worst Oils for your health. Time. http://time.com/5342337/best-worst-cooking-oils-for-your-health/

Wassermann B., Müller H., Berg G. (2019) Front. Microbiol., 24 July 2019 | https://doi.org/10.3389/fmicb.2019.01629

 

 

 

 

 

Lợi ích tuyệt vời của dầu dừa

Lợi ích sức khoẻ của dầu dừa

Dầu dừa có thể giúp cơ thể khoẻ mạnh, tăng năng lực, ngăn ngừa và giảm triệu chứng nhiều bệnh mãn tính như bệnh tim mạch, bệnh ung thư, mất trí nhớ, lỡ loét đường ruột, tiểu đường, viêm khớp, bệnh viêm da, hư tóc, viêm nướu, mập phì, khô da, viêm lá lách, loãng xương và bịnh già. Kinh nghiệm dân gian ở nhiều quốc gia Á châu và Thái bình Dương và kết quả nghiên cứu khoa học đã xác nhận như vậy. Ngoài ra dầu dừa là món dầu mỡ tốt nhất dùng để nấu thức ăn vì nó có tính bảo hoà, không biến chất ở nhiệt độ cao.

Sơ lược

Với khoảng 1500 nghiên cứu khoa học về đặc tính và lợi ích sức khoẻ của dầu dừa, dầu dừa được công nhận là thực phẩm tự nhiên siêu hạng. Mặc dầu trong năm 2018, TS Karin Michels, một giáo sư ở Đại học Harvard tuyên bố dầu dừa là độc hại, bà ta và không ai đưa ra được bằng chứng cụ thể cho thấy có một người nào vì tiêu thụ dừa mà hại đến sức khoẻ. Ngược lại bằng chứng về lợi ích của dầu dừa cho sức khoẻ thì hằng hà sa số.

Bằng chứng hùng hồn nhất là rất hiếm người bị bịnh tim mạch, ung thư, mất trí nhớ và tiểu đường ở những vùng khi cơm dừa và dầu dừa  trước năm 1960 là nguồn chất béo dinh dưỡng chủ yếu, như Việt nam,  Tích lan, Thái Lan, Mã lai, Ấn đô, Nam dương, và các đảoThái bình Dương. Theo kết quả nghiên cứu về lien hệ giữa mức tiêu thụ dừa và sức khoẻ của cư dân đảo Tích Lan, Pakapuka và Tolekau, khi dừa là nguồn mỡ chính trong dinh dưỡng hàng ngày, cư dân những đảo này không hề biết các triệu chứng bịnh tim mạch, ung thư ruột, xơ vữa động mạch,  trĩ, lỡ loét đường ruột, ruột dư… (Prior, Davidson, Salmond & Czochanska, 1981 trích trong sách của  Bruce Fife, 1999).

Ngoài cách dùng dầu dừa để nấu ăn, chúng ta còn có thể ăn mỗi ngày 3 muỗng canh dầu dừa để bảo vệ sức khoẻ bằng cách hoà 1-2 muỗng canh (tablespoon – muỗng lớn) dầu dừa vào cốc cà phê hoặc vào chén canh rau, hoặc chén cháo hoặc rưới vào sà lách trộn.

Xin thận trọng: Dầu dừa có nhiều lợi ích cho sức khoẻ, nhưng chỉ là một phần trong chế độ ăn uống lành mạnh. Ăn dầu dừa nhiều mà thiếu rau quả có chất xơ sẽ tạo nên tình trạng mất thăng bằng có thể có hại cho sức khoẻ. 

Tốt nhất là dùng dầu dừa ép lạnh nguyên chất. Tuy nhiên dầu dừa sản xuát bằng phương pháp thủ công, theo qui trình nạo cơm dừa, vắt nước cơm dừa, nấu cho bay hơi chỉ còn dầu như cách của cư dân Bến tre (https://www.youtube.com/watch?v=PZgBLePUVhE&t=553s) hoặc cách làm mới nhanh hơn ( https://www.youtube.com/watch?v=LYTrQqn3FCc ) , cũng không làm mất các hoạt chất bổ dưỡng của dầu dừa. Nên tránh dầu dừa khử mùi vì có thể có thêm hoá chất độc hại dùng trong qui trình khử mùi.

Thành phần axit béo chủ yếu dầu dừa gồm:

– Axit béo bảo hoà: 88% gồm

                                                      Axit caprylic (8 car bon): 8%

Axit capric (10 car bon): 7%

                                                    Axit lauric (12  car bon): 48%

                                                      Axit Myristic: (14 car bon): 16%

                                                      Axit palmitic ( 16 car bon): 10%

Axit béo  không bảo hoà: 12%

                                                      Axit oleic: 18 carbon :  6.5%

                                                      Axit khác:                               5%

(Nguồn:  https://en.wikipedia.org/wiki/Coconut_oil)

Axit béo bảo hoà trong dầu dừa không giống axit béo bảo hoà trong mỡ động vật và các nguồn khác ở chổ hầu hết axit bảo hoà của dầu dừa là axit tầm trung, có phân tử nhỏ, có thể đi thẳng vào máu và gan, thành nhiên liệu cho cơ thể – nhất là cho não bộ- có hoạt tính sát trùng, tăng khả năng hấp thụ vitamin và khoáng chất của cơ thể, và không trở thành mỡ trong cơ thể. Dầu dừa chủ yếu là axit béo bảo hoà, rất ổn định, không bị oxy hoá, và không biến chất trong quá trình nấu ăn vì vậy là loại dầu mỡ tốt nhất để nấu ăn.

Lợi ích sức khoẻ: Theo kinh nghiệm dân gian và kết quả nghiên cứu khoa học, dầu dừa được công nhận có những lợi ích sức khoẻ sau đây:

  1. Ngăn ngừa bịnh tim mạch và cao huyết áp. Theo các nghiên cứu lâm sàng sử dụng dầu dừa tự nhiên  với hơn 60 % axit béo chuỗi cac bon dài hạng trung, dầu dừa có tác dụng tăng mức mỡ máu tốt (HDL cholesterol) và  giảm vòng bụng (Cardioso, de Oliverira , Luiz & Rosa, 2015; Dayrit, 2014, trang 162-3). Vì vậy tiêu thụ dầu dừa (thay vì dầu tinh chế) sẽ giúp ngăn ngừa bịnh tim mạch và cao huyết áp. Trước năm 1978, Tích Lan là nơi cư dân ít bị bịnh tim mạch nhất khi mỗi người tiêu thụ trung bình 130 trái dừa 1 năm. Đến năm 2003 thì bịnh tim mạch gia tăng nhanh khi mức tiêu thụ dừa giảm còn 100-110 trái dừa/đầu người /năm. (Amarasiri & Dissanayake, 2006).
  2. Cải thiện trí nhớ và chức năng não bộ cho bệnh nhân Alzheimer’s và người già.  Khi ăn vào, axit béo chuổi cac bon tầm trung (MCFA) trong dầu dừa sẽ vào thẳng gan. Gan sẽ chuyển nó thành ketones. Ketones có thể vượt qua hang rào máu-não bộ (blood-brain barrier) trở thành năng lượng cho não. Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy não bộ tạo ra insulin riêng để chuyển biến glucose và cung cấp năng lượng cho não. Vì não bộ của người bệnh Alheimer’s mất khả năng tạo insulin này, ketones trong máu tạo ra ở gan từ dầu dừa được não bộ sử dụng như một nguồn năng lượng thay thế để chữa lành chức năng não bộ – và trí nhớ (Nafar & Mearow , 2014; Newport et al, 2015). Đã có nhiều kết quả nghiên cứu lâm sàng (Ota et al, 2019; Croteau et al, 2018) chứng tỏ sử dụng dầu dừa giúp những người bị bịnh Alzheimers phục hồi trí nhớ và chức năng trí não rất đáng kể ngay sau khoảng 6 tuần lễ. Bác sĩ Mary Newport là một trong những người đầu tiên dung dầu dừa để phục hồi trí nhớ của chồng mình một cách đáng kể chỉ sau 35 ngày (Newport, 2008).

3. Trị nhiễm trùng đường tiểu,  nhiễm trùng thận và bảo vệ gan. Dầu dừa chứa axit béo tầm trung, nhất là axit caprylic và axit capric có tính diệt vi sinh trùng rất mạnh. Hầu hết nhiễm trùng đường tiểu là do vi trùng E. Coli gây ra. Kết quả nghiên cứu của Nair et al (2005) đang trên tạp chí khoa học Sửa bò (J. Dairy Science) khám phá  axit caprylic có tác dụng diệt E. Coli , vi trùng dòng Staphylococcus  và Streptococcus  rất công hiệu. Vì vậy dầu dừa có thể dùng để trị nhiễm trùng đường tiểu, bảo vệ thận, gan và đường ruột khỏi tai hại của vi trùng E. Coli.

4. Giảm viêm cơ thể và viêm khớp. Kết quả một công trình nghiên cứu  tại Ấn độ xác định dầu dừa giảm viêm và chữa trị thấp khớp hữu hiệu hơn thuốc tây thịnh hành. (Vysakh et al , 2014).

5. Phòng ngừa và trị ung thư.  Kết quả nghiên cứu đang trên tạp chí Cell Death Discov cho thấy axit lo-ric trong dầu dừa có tác dụng ngăn cản sự phát triển của tế bào ung thư ruột già và kích động cơ chế tự diệt trong những tế bào ung thư vú và tử cung (Lappano et al, 2017). Xin xem kinh nghiệm dùng dầu dừa chữa ung thư của Julie Figaro

6. Tăng cường hệ miễn nhiễm và tăng sức đề kháng của cơ thể. Vì 50 % dầu dừa là axit lauric có tác dụng diệt vi trùng, vi khuẩn và nấm vi sinh thuộc nhóm vi-sinh gram-positive (Kabara, Swieczkowski, Lonley, & Truant, 1972) nên khi dầu dừa là nguồn dinh dưỡng axit béo chính, cơ thể có thể có hệ miễn nhiễm và đề kháng rất lớn nhất là đối với những bịnh do vi trùng gram-positive gây nên như

  • nhiễm trùng gây viêm gồm cả nhiễm trùng da, viêm phổi, viêm màng tim, viêm khớp, viêm xương tuỷ, ung nhọt (pneumonia, endocarditis, septic arthritis, osteomyelitis, and abscesses),
  • viêm xoang, viêm màng não (sinusitis, meningitis),
  • nhiễm trùng sinh mủ như viêm họng, viêm dưới da, bệnh chốc lỡ, viêm quầng (pharyngitis, cellulitis, impetigo, erysipelas)
  • viêm thận (glomerulonephritis) sốt thấp khớp (rheumatic fever), viêm ống túi mật, nhiễm trùng đường tiểu,
  • viêm màng họng , viêm cơ tim, và chứng loạn nhịp tim (arrhythmias)
  • viêm dạ dày và ruột (gastroenteritis), viêm màng não trẻ sơ sinh (neonatal meningitis) và
  • nhiễm trùng máu.

(Sizar & Unakal, 2019)

7. Tăng sinh lực và sức chịu đựng. Dầu dừa dễ tiêu hoá , cung cấp năng lượng lâu dài hơn thức ăn khác và tăng nhịp độ chuyển hoá. Khi tiêu thụ dầu dừa ép lạnh cơ thể nhanh chóng được cung cấp năng lượng vì axit lauric, axit crapylic và capric trong dầu dừa đi thẳng tới gan để được biến thành năng lương.  Dầu dừa được các vận động viên điền kinh dùng khi tập luyện cung như khi tranh tài. Theo bác sĩ Axe,  dầu dừa, mật ong và hạt chia (chia seeds) một thứ 1 muỗng canh trộn với nhau rồi dùng 30 phút trước khi tập luyện hay bắt đầu công việc lao lực.

8. Cải thiện tiêu hoá, trị lỡ loét bao tử (stomach ulcers) và ruột già (ulcerative colitis). Dầu dừa giúp cơ thể hấp thụ vitamin D, A, K và E cũng như calcium và magnesium nên giúp cãi thiện tiêu hoá.  Nếu dùng dầu dừa cùng một lúc với dầu chứa ô mê ga 3 như dầu cá và dầu hạt lanh (flaxseed oil), công hiệu của nó tăng gấp đôi (Axe, 2018). Dầu dừa cũng giúp diệt những vi sinh độc hại trong đường ruột nên giảm viêm đường ruột và gíup ngăn ngừa cũng như chữa trị bịnh lỡ loét bao tử và đường ruột (Whiteman, 2017)

9. Giảm triệu chứng bịnh túi mật  (gallbladder disease) và viêm lá lách (pancreatitis). Lá lach không cần sản xuất enzyme để phân hoá axit béo chuổi tầm trung trong dầu dừa. Vì vậy lá lách sẽ không bị quá tải (và viêm) khi chúng ta tiêu thụ dầu dừa thay vì những chất béo khác. Thêm vào đó dầu dừa rất dễ tiêu hoá nên giúp cải thiện những bịnh liên quan đến túi mật khi chúng ta thay thế những chất béo khác bằng dầu dừa (Axe, n.d.; Fife, 1999).

10. Cải thiện tình trạng da  như khô da, mụn trứng cá (acne) (Nakatsuji et al, 2009), gầu (dandruff), viêm da (dermatitis) ( Elmore, Nance, Singleton & Lorenz, 2014).

11. Ngừa và trị bịnh sưng nướu (gum disease) và hư răng (tooth decay). Axit lauric chiếm 50% axit béo trong dầu dừa có hoạt tính chống viêm và diệt vi sinh độc hại. Súc miệng bằng dầu dừa để giữ vệ sinh răng miệng, chữa trị chứng sưng nướu, ngừa hư răng đã được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới từ ngàn năm qua. Công dụng của truyền thống này đã được xác nhận qua một cuộc nghiên cứu lâm sàng năm 2015 (Peedikayil,  Sreenivasan and Narayanan, 2015) Nếu muốn chữa lành chứng sưng nướu và bảo vệ răng, chúng ta cần súc miệng bằng dầu dừa 15- 20 phút ( giữ trong miệng) mỗi ngày (hoặc ít nhất 3 lần một tuần).  Nhớ nhổ dầu dừa ra và súc miệng kỹ càng sau đó.  Bịnh viêm nướu nếu không trị sớm để dây dưa có thể gây nhiễm trùng các nội tạng, nhất là tim vì vi sinh độc nhiễm vào nướu sẽ vào máu và xâm lăng nội tạng.

12. Ngừa và trị bịnh loãng xương (osteoporosis).  Kết quả nghiên cứu của Hayatullina et al năm 2016 chứng tỏ dầu dừa có tác dụng giúp ngừa và trị bịnh loãng xương rất tốt. Thứ nhất nhờ dầu dừa có hoạt tính chống oxit hoá và giảm áp lực ôxit hoá (oxidative stress). Thứ hai nhờ dầu dừa tăng (hay phục hồi) khả năng hấp thụ calcium và cân bằng hoc môn (Feranil, Duazo,  Kuzawa & Adair, 2011). 

13. Ngăn ngừa và cải thiện bịnh tiểu đường (Diabetes type 2 ). Học viện nghiên cứu y khoa Garvan tại Úc khám phá là chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa bảo  vệ tính nhạy ứng insulin bình thường của các tế bào trong cơ thể và làm giảm mỡ (giảm cân) cho những người có nhiều mỡ. Nói cách khác, chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa giúp cơ thể chữa lành bịnh tiểu đường (Turner, 2009). Theo TS Turner, sỡ dĩ dầu dừa có tác dụng này vì dầu dừa là một loại mỡ có chuổi a-xit mỡ tầm trung (medium chain fatty acids), có kích cở nhỏ đủ để vào thẳng tiểu thể (mitochondria)  nhà máy năng lượng – của các tế bào. Sự kiện này không khác gì trường hợp các tế bào phải dùng mỡ làm nhiên liệu trong lúc nhịn ăn theo nghiên cứu của Cahill ( 2006), nghĩa là làm các tế bào tăng nhạy ứng hay giảm tính đề kháng insulin – dẫn đến tác dụng chấm dứt bệnh tiểu đường. TS Turner còn giải thích: Khi ăn nhiều mỡ, cơ thể cố gắng bù chỉnh (compensate) bằng cách tăng khả năng oxit hoá mỡ. Chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa có tác dụng gia tăng khả năng oxit hoá ở bắp thịt hơn là các loại dầu mỡ khác, làm giảm mỡ chứa trong bắp thịt và cải thiện tác dụng của insulin. 

Nhiều người đã làm chứng là nhờ theo chế độ ăn uống nhiều dầu dừa (ít nhất 3 muỗng canh hay 50 – 60 phân khối chia ra làm 3 lần một ngày) họ đã hết bịnh tiểu đường trong vòng 1-2 tháng (Shilharvy, 2012)

14. Phòng ngừa và trị bịnh mập phì (nhất là ở vùng bụng). Nhiều kết quả nghiên cứu xác định axit béo chuổi tầm trung  trong dầu dừa có tác dụng đốt mỡ trắng, tăng tiêu thụ năng lựợng và làm giảm vòng bụng, ngược với tác dụng tăng vòng bụng của dầu đậu nành (Dayrit, 2014, trang 162-3)

15. Dầu dừa làm đẹp tóc, trị gầu, kích thích mọc tóc nhiều (thickening hair) nhờ có hoạt tính chống vi trùng (anti-microbial) mạnh, có axit lo rit và axit béo chuổi dài tầm trung  (medium chain fatty acids). Axit lo-rit  có phân tử lượng thấp và có thể thấm vào chân tóc, ngăn cản thất thoát chất đạm ( nên tóc không bị dòn và gãy) và  bồi dưỡng tóc với  vitamins, khoáng chất (Rele & Mohile , 2003). Vì vậy dầu dừa bổ dưỡng tóc, da đầu và giúp tóc mọc lại.

Muốn trị gầu và kích thích tóc mọc dày  thì xoa bóp 1 muỗng canh (muỗng lớn 15 phân khối) trộn với 10 giọt tinh dầu hương thảo (rosemary essential oil)  lên da đầu chừng 3 phút rồi chờ 30 phút sau gội đầu. Dầu dừa có thể dùng để chải gở tóc rối, bồi dưỡng tóc (hair conditioner) tuyệt vời. Nên biết rằng gầu không phải chỉ là do da đầu khô mà do loại nấm tên gọi là Malassezia globosa (Dr Axe, ) gây nên vì vậy dầu dừa với hoạt tính kháng sinh – kể cả nấm vi sinh-  có công hiệu trị gầu tốt nhất.

16. Giết chí tóc (head lice). Theo thử nghiệm lâm sàng đăng trong Tạp chí Nhi KHoa Âu châu, dầu dừa giết chí tóc hữu hiệu gấp đôi thuốc tây trị chí thông dụng Permetrin (Burgess, Brunton & Burgess, 2010) mà tránh được hoá chất độc hại trong thuốc tây.

 17. Trị bịnh ngứa miệng và bộ phận sinh dục do nhiễm trùng nấm Candida albican và nấm vi sinh (yeast infections) (Bergsson, Arnfinnsson & Thormar, 2001). Muốn hữu hiệu diệt trừ nấm Candida và các chứng nhiễm trùng nấm vi sinh khác phải 1. ngừng tiêu thụ đường chế biến (ngoại trừ đường trong trái cây rau quả) và ngũ cốc tinh chế (refined grains) 2.  ăn nhiều chất béo lành mạnh như dầu dừa, dầu ô liu. 3. Uống 1 muỗng canh dầu dừa  ba lần một ngày như chất dinh dưỡng phụ trợ.

18. Làm chậm già. Theo kết quả nghiên cứu đăng trên tạp chí  Food and Function, dầu dừa cải thiện mức chống ôc xít hoá và có thể làm chậm diễn trình lão hoá vì nó giảm gánh nặng làm việc cho gan và hạ áp lực ôc xy hoá (oxidative stress) (Arunima  & Rajamohan , 2013) . Dầu dừa cũng hổ trợ chức năng tẩy độc của gan. Để làm chậm già một cách tự nhiên, chúng ta nên ăn điểm tâm với 1 muỗng canh (tablespoon) dầu dừa chung với một ít quả mọng (berries). Đồng thời mỗi ngày có thể xoa dầu dừa trưc tiếp lên da.

19. Cân bằng hoc môn. Kết quả  nghiên cứu tình trạng sức khoẻ của phụ nữ Phi luât Tân cho thấy tiêu thụ nhiều dầu dừa tăng mức mỡ máu tốt (HDL cholesterol) giúp cân bằng hoc môn estrogen qua giai đoạn mãn kinh (Feranil, Duazo,  Kuzawa & Adair, 2011).  Những người thiếu estrogen thường bị loãng xương, vì vậy dầu dừa giúp ngăn ngừa bệnh loãng xương cho phụ nữ mãn kinh.

Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến và hướng dẫn của bác sĩ.

Xin xem kinh nghiệm của một số người dùng dầu dừa trị bịnh:

– của 1 chuyên gia y tế

Tham khảo:

Amarasiri, W.A.D.L. & Dissanayake A.S. (2006).  Coconut fats. THE CEYLON MEDICAL JOURNAL. Sri Lanka Medical Association. Volume 51, No. 2, December 2006 https://cmj.sljol.info/articles/10.4038/cmj.v51i2.1351/galley/1200/download/

Arunima S. & Rajamohan T. (2013). Effect of virgin coconut oil enriched diet on the antioxidant status and paraoxonase 1 activity in ameliorating the oxidative stress in rats – a comparative study. Food Funct. 2013 Sep;4(9):1402-9. doi: 10.1039/c3fo60085h https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23892389

 Burgess, I.F, Brunton, E.R. & Burgess, N.A. (2010) Clinical trial showing superiority of a coconut and anise spray over permethrin 0.43% lotion for head louse infestation, ISRCTN96469780. Eur J Pediatr. 2010 Jan;169(1):55-62. doi: 10.1007/s00431-009-0978-0. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19343362

Axe, J. (2018) 20 Coconut Oil Benefits for Your Brain, Heart, Joints + More! https://draxe.com/coconut-oil-benefits/

Bergsson, G., Arnfinnsson, J. & Thormar, H. (2001) In Vitro Killing of Candida albicans by Fatty Acids and Monoglycerides. Antimicrob Agents Chemother. 2001 Nov; 45(11): 3209–3212. doi: 10.1128/AAC.45.11.3209-3212.2001. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC90807/

Cardioso, A.A, de Oliverira , G. M.M., Luiz, R.R. & Rosa, G. (2015). A coconut extra virgin oil-rich diet increases HDL cholesterol and decreases waist circumference and body mass in coronary artery disease patients. Nutricion Hospitalaria. Nutr Hosp. 2015;32(5):2144-2152 http://www.nutricionhospitalaria.com/pdf/9642.pdf

Croteau E., Castellano C.A., Richard M.A., Fortier M., Nugent S., Lepage M., Duchesne S., Whittingstall K., Turcotte É.E., Bocti C., Fülöp T., Cunnane S.C. (2018). Ketogenic Medium Chain Triglycerides Increase Brain Energy Metabolism in Alzheimer’s Disease [Abstract] . J Alzheimers Dis. 2018;64(2):551-561. doi: 10.3233/JAD-180202.

Dayrit, F.M. (2014). Lauric Acid is a Medium-Chain Fatty Acid, Coconut Oil is a Medium-Chain Triglyceride -Review Article. Philippine Journal of Science 143 (2): 157-166, December 2014 ISSN 0031 – 7683. https://pdfs.semanticscholar.org/34bc/db43c84b418b4b309c1c6babe1c873dc900a.pdf

Elmore, L.K., Nance, G., Singleton, G., Lorenz, L. (2014) .Treatment of Dermal Infections With Topical Coconut Oil. A review of efficacy and safety of Cocos nucifera L. in treating skin infections. Natural Medicine Journal. May 2014 Vol. 6 Issue. https://www.naturalmedicinejournal.com/journal/2014-05/treatment-dermal-infections-topical-coconut-oil

Faizal C., Peedikayil, F.C., Prat Sreenivasan, P., & Narayanan, A. (2015). Effect of coconut oil in plaque related gingivitis — A preliminary report. Niger Med J. 2015 Mar-Apr; 56(2): 143–147. doi: 10.4103/0300-1652.153406

Feranil, A.B., Duazo, P.L., Kuzawa, C.W. & Adair, L.S. (2011). Coconut oil predicts a beneficial lipid profile in pre-menopausal women in the Philippines. Asia Pac J Clin Nutr. 2011; 20(2): 190–195. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3146349/

Fife, B. (1999). The coconut oil miracle. Penguin Group (USA) ISBN 1-58333-204-9

Hayatullina Z., Muhammad N., Mohamed N, Soelaiman I.N. (2016) Virgin coconut oil supplementation prevents bone loss in osteoporosis rat model [Abstract]. Evid Based Complement Alternat Med. 2012;2012:237236. Epub 2012 Sep 16. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23024690

Healthline (n.d.) 7 science-based benefits of MCT oil. https://www.healthline.com/nutrition/mct-oil-benefits#section2

Jockers (2017) Is coconut oil bad for your heart. https://drjockers.com/coconut-oil-bad/

Kabara, J.J, Swieczkowski, D.M. Lonley, A.J. & Truant, J.P. (1972) Fatty Acids and Derivatives as Antimicrobial Agents. ANTIMICROBIAL AGENTS AND CHEMOTHERAPY, July 1972, p. 23-28. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC444260/pdf/aac00361-0029.pdf

Kaur, C.D. & Saraf, S.(2010).In vitro sun protection factor determination of herbal oils used in cosmetics Pharmacognosy Res. 2010 Jan-Feb; 2(1): 22–25. doi: 10.4103/0974-8490.60586

Lappano, R., Sebastiani, A., Cirillo,F., Rigiracciolo,D.C., 1 Galli, G.R., Curcio, R. … Maggiolini, M. (2017) The lauric acid-activated signaling prompts apoptosis in cancer cells. Cell Death Discov. 2017; 3: 17063 doi: 10.1038/cddiscovery.2017.63. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5601385/

Nafar,  F. & Mearow K.M. (2014). Coconut oil attenuates the effects of amyloid-β on cortical neurons in vitro. J Alzheimers Dis. 2014;39(2):233-7. doi: 10.3233/JAD-131436.

Nair, M.K., Joy J., Vasudevan P., Hinckley L., Hoagland T.A., Venkitanarayanan K.S. (2005) Antibacterial effect of caprylic acid and monocaprylin on major bacterial mastitis pathogens. J Dairy Sci. 2005 Oct;88(10):3488-95. https://www.journalofdairyscience.org/article/S0022-0302(05)73033-2/fulltext#Results

Nakatsuji T., Kao M.C., Fang J.Y., Zouboulis C.C., Zhang L., Gallo R.L., Huang C.M. (2009) Antimicrobial property of lauric acid against Propionibacterium acnes: its therapeutic potential for inflammatory acne vulgaris. J Invest Dermatol. 2009 Oct;129(10):2480-8. doi: 10.1038/jid.2009.93

Newport, M. (2008) What if there is a cure for Alzheimer’s disease and no one knew? http://coconutketones.com/wp-content/uploads/2016/09/whatifcure.pdf

Newport M.T., VanItallie T.B., Kashiwaya Y., King M.T., Veech R.L. (2015). A new way to produce hyperketonemia: use of ketone ester in a case of Alzheimer’s disease. Alzheimers Dement. 2015 Jan;11(1):99-103. doi: 10.1016/j.jalz.2014.01.006.

Ota M., Matsuo J., Ishida I., Takano H., Yokoi Y., Hori H., Yoshida S., Ashida K., Nakamura K., Takahashi T., Kunugi H. (2019). Effects of a medium-chain triglyceride-based ketogenic formula on cognitive function in patients with mild-to-moderate Alzheimer’s disease. Neurosci Lett. 2019 Jan 18;690:232-236. doi: 10.1016/j.neulet.2018.10.048.

Prior, I.A., Davidson, F., Salmond, C.E., Czochanska, Z., 1981. Cholestertol, coconuts, and diet on Polynesian atolls: A natural experiment: The Pukapuka and Tolkelau Island studies. American Journal of Clinical Nutrients 34(8).

Rele, A.S. & Mohile, R.B. (2003)  Effect of mineral oil, sunflower oil, and coconut oil on prevention of hair damage. J Cosmet Sci. 2003 Mar-Apr;54(2):175-92 https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/12715094

Shilhavy, B. (2019) Virgin coconut oil effective in treating diabetes. Health Impact News. https://healthimpactnews.com/2012/virgin-coconut-oil-effective-in-treating-diabetes/

Sizar, O. & Unakal, C.G. (2019) Gram Positive Bacteria. StatsPearl. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK470553/

Turner, N. (2009). How coconut oili could help reduce symptoms of type 2 diabetes. Media release. Garvan Institute of Medical Research. Media release 08 September 2009.

Vysakh A., Ratheesh M., Rajmohanan T.P., Pramod C., Premlal S., Girish kumar B., Sibi P. (2014). Polyphenolics isolated from virgin coconut oil inhibits adjuvant induced arthritis in rats through antioxidant and anti-inflammatory action. Int Immunopharmacol. 2014 May;20(1):124-30. doi: 10.1016/j.intimp.2014.02.026

Whiteman, H. (2017) Plant fats alter gut bacteria to ease Crohn’s symptoms. Medical news today 23 June 2017. https://www.medicalnewstoday.com/articles/318097.php

Công dụng và cách dùng Dầu Ô liu, dầu ăn tuyệt vời cho sức khoẻ

Dầu ô liu là loại mỡ chính đóng góp khoảng 30 % năng lượng thực phẩm của dân vùng Địa Trung Hải. Họ được công nhận là có một trong những chế độ ăn uống lành mạnh nhất trên thế giới nên sống khoẻ mạnh, ít bị bệnh tim mạch và những bệnh mãn tính.

Người dân Địa Trung Hải (CDDTH) trung bình dùng dầu mỡ để cung ứng 36-40 % tổng số năng lượng ca lô ri hằng ngày (so vói 33% ở Mỹ) trong đó mỡ bảo hoà cung ứng 7-10% (so với 11% ở Mỹ), mỡ đơn kết không bảo hoà (MUFA) 19-25% (so với 12.5 % ở Mỹ) và mỡ đa kết không bảo hoà (PUFA) chỉ có 3-6% (so với 7% ở Mỹ).

Dầu ô liu là dầu ăn tốt nhất cho sức khoẻ trong các loại dầu ăn vì nó có thành phần chủ yếu (71%) là axit béo Ômêga 9 còn gọi là axit oleic và popyphenol oleocanthal.

Chủ yếu dầu Ô liu gồm những thành phần dinh dưỡng chính sau đây:

• Mỡ béo bảo hoà (Saturated fat): 13.8%.
• Mỡ béo đơn kết không bảo hoà (Monounsaturated fat): 73% – hầu hết là axit ô lê ic có 18 car bon

• Omega-6: 9.7%.
• Omega-3: 0.76%.
• Vitamin E: 72% of the RDA.
• Vitamin K: 75% of the RDA.

Cơ thể cần axit Ôleic để giữ màng tế bào mềm dẻo linh động, đảm bảo cho màng bọc tế bào dày đủ để chống ngoại xâm, vận chuyển khóang chất và ứng đáp tác động hoc môn. Axit Ô lê ic còn là nguồn năng lượng chính cho các tế bào trong việc sản xuất và sinh tổng hợp (biosyntheisis) nhiều chất chuyển hoá (metabolites

Axit ô lê ic giúp dầu ô liu có công dụng

  1. giảm huyết áp
  2. Bảo vệ màng mạch máu
  3. Ngừa máu đông – giảm nguy cơ quỵ tim (heat attacks) hay đột quỵ (strokes)
  4. giảm mỡ máu (lowering cholesterol),
  5. giảm mập phì (burning fat)
  6. trị tiểu đường 2
  7. bồi dưỡng trí tuệ (boosting cognitive brain function)
  8. ngừa viêm loét ruột già (Ulcerative Colitis)
  9. tăng khả năng miễn nhiểm và chống nhiễm trùng
  10. dưỡng da và làm lành da,
  11. chống ung thư .

Ngoài ra , hoạt chất Popyphenol oleocanthal được khẵng định giúp dầu ô liu có thêm công dụng

  • chống viêm mãn tính kể cả chống phát triển ung thư (anti cancer growth) và di căn ung thư (anti metastasis)
  • chống diễn tiến thoát hoá thần kinh (Alzheimer’s) và
  • chống thoái hoá khớp.

Dầu vậy theo nghiên cứu của University Health News thì không phải loại dầu nào cũng có nhiều chất Oleocanthal. Muốn mua dầu ô liu có nhiều Oleocanthal thì phải chọn dầu Ô liu đầu mùa nguyên si ép lạnh. (Early Harvest extra virgin cold pressed Olive Oil )

Chọn dầu Ô liu:
Không phải mọi loại dầu Ô liu bán trên thị trường đều giống nhau. Chúng ta ta phải chọn loại tốt nhất cho sức khoẻ theo những tiêu chuẩn sau đây:

  1. Phải là dầu Ô liu nguyên thuỷ ép lạnh (Virgin or extra virgin cold pressed Olive oil)
  2. Phải chứa trong chai màu đậm.
  3. Chọn chai có ghi ngày sản xuất hoặc ít nhất có ghi hạn ngày tốt nhất (best before date)
  4. Tránh những chai dầu không có ghi rõ chính xác điểm sản xuất ( tên nhà máy cụ thể – specific mill)
    Nếu có bằng chứng nhận hoặc giải thưởng của những Hiệp hội/ Hội đoàn Dầu Ô liu thì có thể đảm bảo dầu sản xuất đúng tiêu chuẩn, chẳng hạn như Hiệp hội Ôliu Úc ( Australian Olive Association), Hội đồng Dầu Ô Liu California (the California Olive Oil Council),

Dùng dầu Ôliu nấu ăn được không?

Theo nghiên cứu thử nghiệm của nhóm Allouche năm 2007 và nhóm Casal et al năm 2010, dầu Ô liu không thay đổi bao nhiêu sau khi nấu nóng ở 180 độ C và cũng không biến chất khi dùng để chiên ngập lâu cả ngày. Tuy nhiên không nên dùng dầu Ô liu để chiên đi chiên lại vì nó sẽ mất chất bổ dưỡng mà có thể có hại cho sức khoẻ.

Dùng dầu Ô liu như thế nào để có lợi ích tối đa cho sức khoẻ

Dùng dầu Ô liu càng tươi càng tốt. Theo chuyên gia chế độ ăn uống Địa Trung Hải, nên ăn dầu thu hoạch sản xuất không quá 1 năm. Nhưng sau khi đã mở chai thì nên dùng hết trong vòng 3 tháng thôi. Vì vậy không nên mua chai quá lớn. Nếu ăn mỗi ngày thì sẽ không có vấn đề.
Dùng 2-3 muỗng canh dầu Ô liu mỗi ngày. Đây là mức tiêu thụ dầu Ô liu trung bình của mỗi người dân Địa Trung Hải. Dân Địa Trung Hải trưa ăn dầu ô liu trộn xà lách, tối ăn dầu ô liu rưới lên rau cải nướng, trên thịt cá nướng, và ăn dầu ô liu chiên xào rau cải. Dùng với rau cải và thịt cá như vậy, mỗi người họ ăn 2-3 muỗng canh (30-50 phân khối) dầu ô liu mỗi ngày.
Xin lưu ý là chế độ ăn uống dân Địa Trung Hải, ngoài dầu Ô liu là nguồn mỡ chính, họ ăn nhiều rau cải, đậu (legume), trái cây. Trái lại họ ăn vừa phải sản phẩm sửa bò và ít ăn thịt (kể cả gà vịt – trung bình 1-2 lần 1 tuần hoặc ít hơn)
• Nếu muốn tránh bệnh Alzheimer’s tri nhớ thì mỗi ngày nên tiêu thụ 1-2 muỗng canh dầu Ô liu ép lạnh đầu mùa (early harvest extra virgin olive oil) và tăng mức tiêu thụ thức ăn gốc thực vật.

Lưu ý: Bài này chỉ có mục tiêu thông tin chứ không thay thế ý kiến chỉ dẫn của y sĩ, bác sĩ.

Tham khảo:

Allouche, Y., Jimenez, A., Gaforio, J.J. Uceda, M. & Beltran, G. (2007) How heating affects extra virgin olive oil quality indexes and chemical composition. J Agric Food Chem. 2007 Nov 14;55(23):9646-54. Epub 2007 Oct 13. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/17935291
Casal, S., Malheiro, R, Senda, A.. Oliveira, B.P. & Pereira, J.A. (2010) Olive oil stability under deep-frying conditions. Food Chem Toxicol. 2010 Oct;48(10):2972-9. doi: 10.1016/j.fct.2010.07.036. Epub 2010 Aug 3. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/20678538
Gunnars, K. (2017) Why Extra Virgin Olive Oil is The Healthiest Fat on Earth. Nutrition. Healthline https://www.healthline.com/nutrition/extra-virgin-olive-oil
Paravantes, E. (2013) How to use olive oil to get the most benefits. OliveTomato. https://www.olivetomato.com/how-to-use-olive-oil-to-get-the-most-benefits/
Paravantes, E. (2014) 5 ways you are using olive oil wrong. OliveTomato. https://www.olivetomato.com/5-ways-you-are-using-olive-oil-wrong/Parkinson, L. & Keast, L. (2014) Oleocanthal, a Phenolic Derived from Virgin Olive Oil: A Review of the Beneficial Effects on Inflammatory Disease . Int J Mol Sci. 2014 Jul. doi: 10.3390/ijms150712323
Romagnolo, D.F. & Selmin, O.I. (2017) Mediterranean Diet and Prevention of Chronic Diseases. Nutrition Today. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5625964/pdf/nt-52-208.pdf
Ruggeri, C. (2018) Oleic Acid: Top 9 Uses & Benefits of This Healthy Fat. Dr Axe Food is Medicine. https://draxe.com/oleic-acid/


Tại sao không nên ăn dầu thực vật tinh chế

Dầu thực vật tinh chế (khác với dầu thực vật ép lạnh) có hại cho sức khoẻ vì 1. chúng có quá nhiều axit béo ômega 6 so với ômega 3 nên gây viêm cho cơ thể đưa đến những bịnh của thời đại như là tiểu đường, cao huyết áp, ung thư, mất trí nhớ, phong thấp… 2. Chứa nhiều hoá chất dùng trong qui trình sản xuất có hại cho cơ thể và 3. Các dầu này thoá hoá sinh ra chất độc có hai cho cơ thể dùng để nấu ăn (từ 70 độ C hay 158 độ F) gây ra nhiều bịnh mãn tính như ung thư, tim mạch và bịnh tâm thần.

Dầu ăn tốt nhất là dầu ôliu nguyên chất ép lạnh và dầu trái bơ ép lạnh.

Dầu ăn tốt nhất cho việc chiên  xào nấu nướng là dầu dừa ép lạnh, vì 90% dầu dừa là axit béo bảo hoà không thay đổi khi bị nóng. Nhưng dầu ô liu cũng tốt cho việc chiên xào vì có nhiều mỡ đơn kết nên ít bị biến chất ở nhiệt độ cao.

Cho tới thời gian gần đây tôi nghe bác sĩ và nhiều nguồn thông tin bảo rằng ăn mỡ động vật có thể gây bịnh tim mạch. Còn dầu thực vật là tốt cho sức khoẻ, nhất là tim mạch. Nhưng bây giờ tôi mới biết đó là lời khuyên sai, dựa trên cơ bản khoa học què quặt. Nghiên cứu y học đã làm sáng tỏ vấn đề cho biết mỡ động vật, hãy mỡ bảo hoà có vai trò quan trọng cho sức khoẻ khi dùng vừa phải. Trong khi đó dầu thực vật tinh chế có hại cho cơ thể vì những lý do sau đây:

1. Dầu thực vật tinh chế có quá nhiều a-xit mỡ ô-mê-ga 6 so với a-xit mỡ ô-mê-ga 3, gây viêm cho cơ thể.

Cơ thể chúng ta cần cả hai thứ mỡ omega 6 và omega 3, tỉ lệ omega 6 và o mega 3 phải cân bằng. Tốt nhất là tỉ lệ này nằm trong khoảng 1:1 – 4: 1. Phần lớn Ômêga 6 có khuynh hướng tăng viêm trong khi omega 3 hạ viêm.  

Tỉ lệ omega 6 và ômega 3 rất cao trong những dầu thực vật tinh chế thịnh hành.

Tỉ lệ này là

  • 54:1    dầu hạt bông (cotton seed)
  • 58:1    dầu bắp ngô (corn)  
  • 51:7    dầu đậu nành (soya bean)
  • 66 : 0  dầu hạt hoa hướng dương (standard sunflower)
  • 31:0    dầu phụng (peanut)
  • 75:0    dầu hạt nho  (grapeseed)

Ngoại trừ dầu phộng, axit béo ômega 6 chiếm hơn 50 % trọng lượng những loại dầu này. Xem thành phần axit béo trong dầu thực vật

Xin lưu ý là dầu ô liu và dầu bơ (ép lạnh ) có tỉ lệ omega 6 /omega3 khá cao nhưng lại là loại dầu tốt nhất cho sức khoẻ vì tổng số axit mỡ đa kết không bảo hoà rất thấp (10-13% trọng lượng) trong khi có tỉ lệ tổng axit béo đơn kết không bảo hoà  oleic ômega 9 rất cao (70-73%) xin xem bảng 1). Hơn nữa không phải thêm hoá chất  trong qui trình sản xuất dầu ép lạnh.

Tiêu thụ dầu ăn chứa quá nhiều omega 6 so với ômega 3 lâu dài làm cho cơ thể bị viêm mãn tính trầm trọng. Nhịp độ gia tăng viêm cơ thể quá nhanh trên thế giới  trong 50 năm nay là nguyên nhân gia tăng những bịnh mãn tính nguy hiểm như

  • Tiểu đường loại 2
  • Rối loạn chuyển hoá / tiền tiểu đường (Metabolic syndrome or pre-diabetic)
  • Rối loạn đường ruột (IBS)
  • Viêm đường ruột (inflammatory bowel disease IBD)
  • Bịnh mỡ gan- không vì rượu (nonalcoholic fatty liver disease NAFLD),
  • Bịnh tim mạch (cardiovascular disease),
  • Mập phì (obesity),
  • Hen suyển (asthma)
  • Ung thư
  • Phong thấp (rheumatoid arthritis),
  • Bịnh tự miễn nhiễm (Autoimmune disease)
  • Alzheimer’s  (AD) và 
  • Những bệnh rối loạn tâm thần.

2. Dầu ăn tinh chế chứa nhiều hoá chất có hại cho sức khoẻ.

Dầu ăn tinh chế được sản xuất bằng cách dùng hoá chất để chiết dầu từ các hạt và cũng dùng hoá chất, nhất là hai chất BHA and BHT (Butylated Hydroxyanisole and Butylated Hydroxytoluene) để bảo quản. Hai chất này được các cơ quan y tế thế giới cảnh báo là có thể gây ung thư, gây hại cho thận, gây rối hệ thống miễn nhiễm và ảnh hưởng tâm thần trẻ em. Thêm vào đó, dầu ăn thực vật tinh chế còn chứa tàn dư hoá chất diệt sâu diệt bịnh và sinh thể gen biến đổi (gen modified organism) có ảnh hưởng bất lợi cho sức khoẻ.

Điển hình là dầu Canola. 87-90% canola trồng ở Mỹ và Canada thuộc giống bị biến gen. Dầu Canola có lượng ômega 3 và axit béo đơn không bảo hoà khá cao. Nhưng Canola giống như các loại dầu tinh chế khác  đều phải đi qua qui trình sản xuất gồm tinh chế (refining), tẩy trắng (bleaching) và loại bỏ chất nhựa (degumming) tất cả đều cần hoá chất và nhiệt độ cao làm mất ômega 3, tạo ra mỡ “trans fat” có hại cho sức khoẻ.

Theo tạp chí nghiên cứu Environmental Sciences Europe năm 2011, 19 công trình nghiên cứu về hạt biến gen đều đi đến kết luận thức ăn biến gen gây thiệt hại cho gan và thận.

Axit erucic và transfat trong Canola gây bịnh tim mạch, gây viêm và làm đóng vôi thành mạch máu, tăng huyết áp và tăng nguy cơ đột quỵ, cũng như tai biến mạch máu não.

3.  Dầu thực vật  tạo ra chất độc khi dùng nấu ăn

Ngoại trừ dầu dừa chứa 90% là axit béo bảo hoà và dầu ô liu chứa 71 % axit béo đơn kết không bảo hoà, tất cả dầu thực vật khác phần lớn là axit béo đa kết không bảo hoà nên dễ bị oxy hoá biến thành chất cực hại tự do (free radicals) gây viêm cho cơ thể.

Chỉ cần nóng tới 70 độ C hay (158 độ F), các loại dầu thực vật tinh chế cũng như ép lạnh đều bị thoái hoá (degraded). Chiên xào thì sinh ra hydroperoxides  trước tiên, rồi đến aldehydes. Dùng lò vi sóng (microwave oven) để nấu thức ăn có dầu ăn tinh chế thì dầu ăn tinh chế thoái hoá thành aldehydes. Hydroperoxide là một chất ROS (reactive oxygen species) dễ dàng lan tràn qua các thế bào gây hậu quả tai hại cho các tế bào. Aldehydes là  chất độc liên hệ đến nhiều chứng bịnh thoái hoá kể cả bịnh tim, ung thư và bịnh mất trí nhớ (Dementia, Alzheimer’s).

Xin lưu ý là hầu hết thực phẩm chế biến đều dùng dầu thực vât tinh chế qua qui trình chế biến ở  nhiệt độ cao. Vì vậy nên tránh tối đa thực phẩm chế biến bao gói sẵn kể cả biscuits, potato chips..

Vậy nên dùng dầu nào.

Thứ nhất nên chỉ nên dùng dầu thực vật sản xuất bằng qui trình ép lạnh. Như dầu ô liu, dầu avocado ép lạnh, dầu hạt lanh  ép lạnh, dầu dừa ép lạnh…

Dầu vậy ngoại trừ dầu dừa và dầu ô liu, chỉ nên ăn sống những thứ dầu ép lạnh khác vì chiên xào sẽ làm chúng biến chất. Bài kế tiếp tôi sẽ tóm tắt thông tin về lợi ích của dầu avocado, dầu ôliu và dầu dừa.

Xin lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến của bác sĩ và y sĩ chăm sóc sức khoẻ cho quý bạn.

Tham khảo:

Alexander, S. (2015) The oil guide: which to use for frying, drizzling and roasting. Telegraph November 2015. https://www.telegraph.co.uk/health-fitness/nutrition/everything-you-know-about-cooking-with-oil-is-wrong/

David Suzuki Foundation (n.d.) The Dirty Dozen: BHA and BHT. https://davidsuzuki.org/queen-of-green/dirty-dozen-bha-bht/

Fundazioa. E. (2005) Toxic substances in the Oxidation of Fats and Oils. Science Daily. July 17, 2005. https://www.sciencedaily.com/releases/2005/06/050617065306.htm

Gropper S. S. & Smith J.L. (2009) Advanced Nutrition and Human Metabolism. 6th Edition. Wadsworth Cengage Learning. Trang 418.

Held, P. (2015)  An Introduction to Reactive Oxygen Species – Measurement of ROS in Cells. Biotek White Paper. https://www.biotek.com/assets/tech_resources/ROS%20White%20Paper_2015.pdf

Healthline News. Why Heart Disease is on the Rise in America https://www.healthline.com/health-news/why-is-heart-disease-on-the-rise#3

Hyman, M. (2016) Why oil is bad for you. https://drhyman.com/blog/2016/01/29/why-oil-is-bad-for-you/

Patterson, E., Wall, R., Fitzegerald, G.F., Ross, R.P. & Stanton, C. (2012). Health Implications of High Dietary Omega-6 Polyunsaturated Fatty Acids. Review Article. Journal of Nutrition and Metabolism. Volume 2012, Article ID 539426, 16 pages. http://dx.doi.org/10.1155/2012/539426

Sifferlin , A. (2018). The 10 best and worst Oils for your health. Time. http://time.com/5342337/best-worst-cooking-oils-for-your-health/

Bảo vệ và phục hồi sức khoẻ đường ruột

Phục hồi và bảo vệ sức khoẻ đường ruột sẽ giúp cơ thể phòng chống và chữa trị rất nhiều bịnh nan y kể cả dị ứng, ho suyễn, rối loạn tuyến giáp trạng, viêm loét đại tràng, viêm khớp, tiểu đường, bịnh tim, ung thư cổ họng, ung thư đường ruột, vi sinh tăng quá nhiều trong ruột non (SIBO), lo âu, trầm cảm, viêm chàm, vãy nến, các bịnh tự miễn.. Đường tiêu hoá sẽ suy yếu khi ruột bị rò rỉ và hệ vi sinh trong ruột bị mất thăng bằng. Nguyên nhân có thể  là vì không được uống sữa non của mẹ khi sinh ra, ăn uống không lành mạnh, căng thẳng thể lực, tình cảm và thần kinh thường xuyên, uống thuốc kháng sinh nhiều. Dùng sữa bò non, hạt thi là đen, ăn uống thực phẩm lên men, thay đổi cách ăn uống, cách sinh hoạt là phương cách tự nhiên có thề bảo vệ và phục hồi sức khoẻ đường tiêu hoá  để phòng chống được các bịnh nan y kể trên.

Sơ lược chức năng đường ruột hay đường tiêu hoá

Đường ruột có nhiệm vụ đưa chất dinh dưỡng vào máu để nuôi cơ thể, đồng thời ngăn cản không cho những chất liệu có hại đi vào cơ thể và tống những chất thừa thãi, không tiêu hoá được ra khỏi cơ thể.

90% nhiệm vụ tiêu hoá và hấp thụ dinh dưỡng được thực hiện tại ruột non. Phía trong thành ruột có một lớp màng mỏng, chỉ dày bằng bề dày 1 tế bào biểu mô (epithelia cell) có kẽ hở đủ cho dinh dưỡng đã được tiêu hoá đúng mức đi vào cơ thể. Các tế bào biểu mô này giống như một đội quân lính đứng sát với nhau, nắm chặt tay nhau, tạo nên là những cầu nối chặt (tight junctions) với nhiệm vụ không cho những phân tử lớn (large molecule) đi vào máu.

Hệ tiêu hoá muốn làm việc hữu hiệu ngoài đường ruột tốt còn cần hệ sinh thái vi sinh ruột (gut microbiota or gut flora) lành mạnh. Hệ sinh thái vi sinh này gồm hàng chục ngàn tỉ vi sinh vật sống trong ruột có liên hệ mật thiết với não bộ. Hệ này có ít nhất 1000 loại vi sinh với hơn 3 triệu gen (150 lần nhiều hơn gen người). Hệ sinh thái vi sinh cân nặng tổng cộng tới 2 ki lô. Phần lớn vi sinh vật trong ruột là vi trùng không có hại. Một phần 3 hệ vi sinh của chúng ta đều giống nhau, còn 2 phần 3 thì đặc thù của mỗi người.

Tập hợp vi sinh đường ruột thật sự thiết yếu cho cơ thể với nhiều vai trò khác nhau bao gồm :

• Giúp sản xuất hoc mon, như serotonin chẳng hạn.

• Giúp rút ra năng lượng và chất dinh dưỡng kể cả vitamin, khóang chất, a xit đam, a xit mỡ và chất chống oxy hoá.

• Điều hợp khẩu vị và trọng lượng cơ thể

• Tiêu hoá chất xơ tạo hình phân thải

• Kiểm soát tâm tình, động cơ và trí tuệ.

• Giúp chúng ta phòng ngừa nhiễm lạnh và nhiễm khuẩn

• Giúp chữa lành các mô hư hại và thương tích.

Hệ vi sinh đường ruột lành mạnh khi có nhiều vi sinh tốt hơn vi sinh có hại và vi trùng chủ yếu chỉ ở ruột già thôi. Vi trùng tốt tiết ra những chất có ích cho cơ thể, còn vi trùng xấu chỉ tiết ra những chất độc hại cho cơ thể con người. Vi trùng tốt có thể kềm chế vi trùng xấu. Khi có ít vi trùng tốt thì vi trùng xấu không bị kềm chế, sinh sôi nhiều, thải ra độc tố nhiều hơn khả năng thu dọn của cơ thể. Tình trạng này gọi là “hệ vi sinh mất thăng bằng” (dysbiosis) thường xãy ra sau khi chúng ta uống thuốc kháng sinh vì thuốc kháng sinh giết hết vi sinh. Theo kết quả nghiên cứu : sau một tuần trị bịnh bằng thuốc kháng sinh, một năm sau hệ vi sinh đường ruột vẫn chưa phục hồi nếu không bồi dưỡng bằng vi sinh.

Phần lớn vi sinh sống trong ruột già. Ruột non thường là nơi vô sinh (không có vi trùng). Nhưng khi vi trùng lén lên sinh sôi trong ruột non thì hệ vi sinh hết lành mạnh, gây ra nhiều triệu chứng bịnh. Tình trạng này gọi là “Vi sinh nảy nở quá mức trong ruột non” (SIBO- small intestine bacteria overgrowth), một trong các nguyên nhân chính gây bịnh “ruột khó tinh / thất thường” (IBS – irritable bowel syndrome – ở VN gọi là bịnh ruột kích thích ), và cũng là môt nguyên nhân có thể gây chứng rò rỉ ruột. Bài viết này chủ yếu nhắm vào rối loạn tiêu hoá liên quan đến rò rỉ ruột. Tình trạng “Vi sinh quá nhiều trong ruột non” (SIBO)  sẽ được trình bày trong bài viết khác.

Rò rỉ ruột người lớn

Khi màng mỏng ruột non bị rách, hay bị rò rỉ, các kẽ hở giữa các tế bào biểu mô tách rộng ra, cho phép các chất độc và phân tử dinh dưỡng quá cở đi vào máu. Các cơ phận trong cơ thể bị xâm lăng, cơ quan miễn dịch lập mặt trận chống lại khắp nơi gây ra thương tích, làm suy yếu và hư hỏng nhiều bộ phận – làm xuất hiện đủ thứ triệu chứng bịnh.

Có một số biến cố có thể làm cho ruột bị rò rỉ.

Biến cố thứ nhất và thường gặp là khi ăn những món có chứa gluten, một chất đạm chủ yếu trong lúa mì (wheat), đại mạch (barley), lúa mạch đen (rye), tiểu mạch hay lúa mì nâu (spelt), bột farina, hột couscous. Gluten làm tăng chất zonulin, một chất protein làm nới lỏng cầu nối tế bào ruột, tức là làm rò rỉ ruột.

Thứ hai là khi trong ruột chúng ta có quá nhiều thức ăn chưa tiêu hoá vì ăn nhiều, ăn những thức ăn không tốt mà lại ăn vội ăn vàng nên không có thể tiêu hoá kỹ càng, gây nên qui trình viêm trong ruột. Viêm giống như lửa. Nó bắt đầu đốt cháy và phá huỷ các cầu nối tế bào màng ruột, gây rò rò rỉ lớn. Những mảnh nhỏ thức ăn chưa tiêu hoá kỹ (undigested food particles), vi trùng (bacteria), nấm men (yeast) và những thứ giống như vậy đi vào máu. Cả cơ thể kể cả não nổi viêm để chống xâm lăng.

Thông thường hệ miễn nhiễm có thể chữa lành vết thương rò rỉ trong giấc ngủ mỗi ngày nếu vết rò rỉ có giới hạn, không quá lớn và trầm trọng. Tuy nhiên chúng ta cứ liên tục ăn thực phẩm chứa gluten, hoặc cứ liên tục ăn vội vàng, hoặc không cho hệ tiêu hoá nghỉ đủ ít nhất 12 giờ 1 ngày thì hệ miễn nhiễm không thể chữa lành ruột rò rỉ. Không cho ruột nghỉ ngơi lâu đủ mỗi ngày là nguyên thứ ba có thể gây rò rỉ ruột.

Trường hợp thứ tư là khi tinh thần, tình cảm và thể chất bị căng thẳng quá nhiều và quá thường. Khi người căng thẳng cơ thể tiết ra hoc mon cortisol. Cortisol làm giảm hoc mon giúp cơ thể chữa lành, như hoc mon DHEA va hoc mon tăng trưởng (growth hormone). Corticol làm giảm IGA (immunoglobin) một kháng thể nằm trong tất cả màng nhớt của cơ thể, nhất là ở ruột với nhiệm vụ bảo vệ không cho vi sinh trùng và nấm meo sinh sôi quá mức và chống ký sinh trùng. Vì vậy, cần giảm cả ba loại căng thẳng đó, cơ thể mới tránh được tình trạng rò rỉ ruột.

Rò rỉ ruột trẻ em

Hiện nay có rất nhiều trẻ em bị dị ứng thực phẩm, bị viêm chàm do rò rỉ ruột. Nguyên nhân chính là vì những trẻ em này được sinh ra bằng đường mổ, chứ không phải sinh tự nhiên qua đường âm đạo. Và chúng không được bú sữa mẹ trong 4-5 ngày đầu đời. Sinh tự nhiên cho phép em bé hấp thụ hằng hà sa số vi trùng tốt trong âm đạo của mẹ. Những vi trùng tốt này là chiến sĩ cần thiết để bảo vệ sức khoẻ của bé. Trẻ em sinh bằng đường mỗ sẽ thiếu vi trùng tốt cho hệ tiêu hoá và hệ miễn nhiểm nên dễ bị bịnh.

Khi mới sinh ra, ruột của bé sơ sinh rò rỉ bẩm sinh theo thiết kế của Tạo hoá. Tuy nhiên ruột rò rỉ này không còn nữa sau hai ngày bú sữa non của mẹ. Sữa non có yếu tố (hoc mon) tăng trưởng thành ruột và màng ruột, có tác dụng thắt chặt cầu nối tế bào màng ruột. Vi thế sau 2 ngày bú sữa non của mẹ, trẻ sơ sinh không còn rò rỉ ruột nữa. Bé nào không được bú sửa mẹ ngay sau khi chào đời bị mất cơ hội đó và chịu nhiều hậu quả của rò rỉ ruột, nhất là bị dị ứng thức ăn và viêm chàm.

May mắn thay là chứng rò rỉ ruột này sẽ hết khi uống sữa non ( colostrum) của người hay bò mới sinh con, theo kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm lâm sàng gần đây. Đáng tiếc là thông tin mới này chưa được phổ biến rộng rãi nên quá nhiều trẻ em phải chịu dị ứng và viêm chàm năm này qua năm khác.

Triệu chứng và dấu hiệu Rò rỉ ruột

  • Dị ứng thực phẩm – ăn cái gì cũng bị dị ứng là triêu chứng thông thường nhất của tình trạng rò rỉ ruột. Dễ hiểu. Vì ngay cả khi thức ăn bình thường vào máu khi chưa được tiêu hoá đúng mức cơ thể phải tiết antihistamine chống lại chúng như chống kẻ xâm lăng.
  • Hội chứng tiêu hoá thất thường (Irritable Bowel syndrome – no hơi, táo bón, tiêu chảy, đau bụng bất thường..) và viêm đường tiêu hoá như bịnh Crohn (tiêu chảy, đau bụng, sụt cân, chảy máu hậu môn, bón, buồn nôn, sốt, mệt, tiểu thường) và loét đại tràng (ulcerative colitis). Vì rò rỉ ruột nặng có thể xãy ra ở ruột già.
  • Bịnh tự miễn như Lupus ( khi hệ miễn nhiễm tấn công bộ phận và mô cơ thể), đa xơ (MS), tiểu đường loại 1, thấp khớp (arthritis), vãy nến (psoriasis) và viêm chàm da (eczema).
  • Rối loạn tuyến giáp trạng ( thyroid disorders) như Hashimoto’s một bệnh viêm tuyến giáp trạng (thyroidisis) gây thiệt hại chu trình chuyển hoá (metabolism), gây mệt mỏi, trầm cảm, lên cân, mập phì
  • Suy giảm hấp thụ dinh dưỡng làm cơ thể thiếu hụt nhiều sinh tố cần thiết như B12, magnesium và các enzyme tiêu hoá.
  • Ảnh hưởng thần kinh và não bộ như triệu chứng tự kỷ, trầm cảm, lo âu kinh niên, Parkinson’s

Ngoài những triệu chứng trên những dấu hiệu sau đây có thể do rò rỉ ruột gây ra:

  • Lở bao tử, 
  • Tiêu chảy truyền nhiễm 
  • Bịnh Celiac 
  • Ung thư cổ họng và ruột già
  • Nhiễm trùng đường hô hấp
  • Tình trạng viêm cấp tính như viêm toàn thân (Sepsis), hội chứng phản ứng viêm toàn thân (SIRS – với chứng sốt hay rét, và tim đâp nhanh)
  • Những chứng liên hệ đến tình trạng mập phì (như gan có mỡ – fatty liver, tiểu đường loại 2, bịnh tim) •
  • Có khuynh hướng dễ lên cân hay mập phì

Phương pháp tư nhiên chữa rò rỉ ruột để bảo vệ và phục hồi sức khoẻ ruột 

Phần này có thể tải xuống dưới dạng PDF ở đây  Cẩm nang tiêu hoá

1. Loại bỏ yếu tố làm hại đường ruột và  thức ăn gây dị ứng/viêm

Trước hết tập ăn uống chậm rãi, nhai kỹ khi nuốt, đừng ăn khi chưa ngồi xuống bàn ăn được. Thứ hai là nên nhịn ăn ít nhất 12 giờ 1 ngày.

Kế đến là ngưng ăn • hạt không nẩy mầm, • hạt và động vật thay đổi gen (GMO) • thức ăn có thêm đường • dầu thực vật tinh chế như dầu đậu nành, dầu bắp, dầu canola, dầu cám… • Thực phẩm chế biến có hoá chất. • Sản phẩm sữa bò thông thường

2. Chữa lành ruột bằng phụ trợ đặc thù

Sữa bò non hay sữa dê non. Sữa non chứa pep tit kháng vi sinh (antimicrobial peptides), hợp chất điều hoà miễn nhiễm (immune-regulating compounds) và yếu tố tăng trưởng (growth factors). Nó có tác dụng cung cấp thành phần dinh dưỡng thiết yếu, tăng cường hệ miễn nhiều , điều hợp phản ứng phòng vệ tự nhiên, cân bằng hệ vi sinh đường ruột, nâng cao chất lượng tăng trưởng và chữa lành một số mô tế bào. Kết quả nghiên cứu lâm sàng xác nhận sữa non có tác dụng chữa rò rỉ ruột và các triệu chứng bịnh liên hệ rất công hiệu nhất là viêm chàm, vãy nến, suyễn, dị ứng và làm trẻ da. Sữa non có bán dưới dạng viên con nhộng và dạng bột hầu như ở mọi nơi. Phần lớn những người bị dị ứng sữa bò không bị dị ứng với sữa bò non, nhưng cứ cẩn thận thử trước 1 liều nho nhỏ thì tốt hơn.

Dầu hạt thì là đen. Theo kinh nghiệm và nghiên cứu lâm sàng, dầu hạt thì là đen có công dụng chữa lành rò rỉ ruột và các bịnh liên hệ như vãy nến, viêm chàm, dị ứng, ho suyễn. Tác dụng chữa trị có thể nhanh với trẻ em, nhưng tuỳ trường hợp có thể sau 1-2 tháng mới thấy công hiệu. (xin xem bài viết  Dầu hạt thì là đen). Liều cho trẻ em nên bắt đầu 1 ml  2 lần 1 ngày và gia tăng từ từ nhưng  không quá 1/2 thìa cafe 2 lần 1 ngày.

Uống probiotics (khoảng 50-100 tỉ vi sinh một ngày) để giúp bồi đắp lại lượng vi sinh tốt và giảm vi sinh xấu trong ruột.

Uống L-Glutamine – đây là phụ trợ dinh dưỡng axit amino thiết yếu giúp bảo vệ và chữa lành màng ruột

•Rễ Cam thảo dưới dạng chiết xuất, bột hay trà có tác dụng cân bằng hoc mon cortisol, cải thiện mức độ axit trong bao tử, trị lở bao tử, và bảo vệ, chữa lành màng đường tiêu hoá kề cả ở cuống họng. Uống trà cam thảo khi cần hoặc một ngày 2 gói sẽ có công dụng giảm rất nhanh chứng no hơi, đau bụng và cảm giác vướng cổ họng. Cùng với dầu hạt thì là đen, chiết xuất cam thảo không có glycyrrhizin (deglycyrrhised licorice) giúp bảo vệ bao tử khỏi bị vi trùng H. Pylori gây lở loét bao tử.

3. Thay thế thức ăn hại ruột bằng thức ăn chữa lành ruột như:

• Nước hầm xương (gà, bò, heo) hoặc hầm rau cải. Nhịn ăn chỉ uống nước hầm xương/ rau cải trong 3 ngày có thể chữa lành rò rỉ ruột và chứng tự miễn.

• Sữa chua chứa nhiều vi sinh tốt có thể giúp chữa lành thành ruột

• Rau cải lên men: Hằng ngày nên ăn uống thức ăn nước uống chứa nhiều vi sinh tốt như cải chua, dưa giá, dưa chua cà rốt, kim chi, đậu tương lên men (natto), sữa chua, nước rau cải chua, nước lên men Kombucha, gừng chua . Mỗi thứ rau có tập hợp vi sinh khác nhau. Nên ăn nhiều thứ rau cải chua khác nhau để được nhiều vi sinh tốt cho đường ruột. Rau cải và thức ăn lên men có thể gây dị ứng nếu ruột còn rò rỉ. Vì vậy nên từ từ thử trước. Nếu có phản ứng bất thường hay triêu chứng da tệ hơn thì nên ngừng ngay. Nếu không có vấn đề thì rau cải lên men có thể thay thế probiotics.

• Sản phẩm dừa – tất cả sản phẩm dừa đều rất tốt cho ruột. Axit mỡ với mắc xích hạng trung (medium chain fatty acids) trong dầu dừa dễ tiêu hoá hơn các thứ mỡ khác , nên tốt cho ruột. Kem hay nước cốt dừa lên men (coconut yogurt or kefir) còn tốt hơn sữa chua.

• Ăn rau cải có nhiều chất xơ hoà tan để làm thức ăn cho vi sinh tốt trong ruột (prebiotic) như củ đậu, hành, tỏi, táo, chuối sắp chín (nhưng không còn nhớt), khoai lang, hạt lên mầm như giá đậu xanh, giá hạt chia, giá hạt lanh (flax seed sprout). Nếu bị rò rỉ nặng thì bắt đầu bằng rau cải nấu chín. Nếu món nào  gây dị ứng thì chờ đến khi ruột hết rò rỉ.

• Tiêu thụ mỡ tốt – vừa phải như lòng đỏ trứng, trái bơ, dầu dừa ép lạnh , dầu lanh (flax seed oil) , cá sông, cá biển (không phải cá nuôi)

• Ăn trái cây điều độ mỗi ngày 1 – 2 lần. Tốt nhất là buổi sáng trong ngày.

• Thêm gừng và nghệ vào thức ăn mỗi ngày vì hai thứ này có tác dụng hổ trợ tiêu hoá hữu hiệu kể cả giải toả no hơi, sình bụng, ợ chua, làm lành màng nhớt trong đường ruột và bao tử.

4. Giải toả căng thằng tình cảm và tinh thần để giảm mức hoc mon có ảnh hưởng gây viêm, tai hại cho đường tiêu hoá và giảm nguy cơ gâyrò rỉ ruột. Tập thở sâu và chậm bằng bụng, thư giãn, thể dục, thề thao, cầu nguyện, cảm tạ, tỉnh tâm (thiền) và giải toả tình cảm (Emotional Freedon Technique – EFT) là những phương pháp có thể dùng đề giải toả căng thẳng tình cảm và tinh thần. Nên nhớ rằng căng thẳng thể lực cũng gây viêm làm hại tiêu hoá làm rất nhiều vận động viên bị rò rỉ ruột. Vi vậy thể dục thể thao cũng nên điều hoà vừa phải thôi.

Xin lưu ý: Bài viết này chỉ có mục tiêu phổ biến thông tin chứ không thay thế chỉ dẫn của bác sĩ chăm sóc sức khoẻ quý bạn.

Tài liệu tham khảo

Axe, J. 7 Signs and Symptoms You Have Leaky Gut Syndrome. Dr Axe Food is Medicine Published: May 8, 2018. https://draxe.com/7-signs-symptoms-you-have-leaky-gut/

Axe, J. The Leaky Gut Diet and Treatment Plan. Dr Axe Food is Medicine. Published: July 30, 2018

Bryant, T. Gluten: What One bite of Bread Can do. IBS & SIBO SOS Summit Colostrum. Sciencedaily. URL: https://www.sciencedaily.com/terms/colostrum.htm Gundersen, M. 5 Ways

Ginger Benefits Digestion. Gut Health Project. June 9, 2016. https://www.guthealthproject.com/5-ways-ginger-benefits-digestion/

Halasa et al. Oral Supplementation with Bovine Colostrum Decreases Intestinal Permeability and Stool Concentrations of Zonulin in Athletes. Nutrients. 2017 Apr; 9(4): 370. Published online 2017 Apr 8. doi: 10.3390/nu9040370 https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5409709/

Jockers, D. The vitamin Summit Interview Transcript

Menchetti et al. Potential benefits of colostrum in gastrointestinal diseases . Frontiers in Bioscience, Scholar, 8, 331-351, June 1, 2016

Partha Nandi, M.D. The big picture: 5 Key steps to healing Your gut and your life. IBS & SIBO SOS Summit Interview Transcript

Siebecber, M.D. IBS and SIBO Foundations & Fundamental. IBS & SIBO SOS Summit Interview transcript

Tamara Vukavić . Timing of the Gut closure. Journal of Pediatric Gastroenterology and Nutrition. 3(5):700–703, NOV 1984 Publication Date: 1984/11/01

Wyatt, D.A. (2014) Leaky Gut Syndrome: A Modern Epidemic with an Ancient Solution? Townsend Letter, June 2014 http://www.sovereignhealthinitiative.org/articles/lgs_townsend.html