Ăn chay (rau quả và hạt nguyên thể) trị dứt bịnh tim mạch nhất là đứng tim và đột quỵ

Bệnh tim mạch (cardiovascular disease) là chết người nhiều nhất trên thế giới, nhiều hơn bất cứ nguyên nhân nào khác. Bác sĩ phẫu thuật Esselstyn thấy biện pháp giải phẫu rồi cũng bó tay  nên đã nghiên cứu và khám phá một chế độ ăn uống trị dứt được bịnh tim mạch.  Chế độ này là ăn thực phẩm gốc thực vật, nhất là rau quả và hạt nguyên thể, không qua chế biến và  tránh tất cả các loại đường và dầu mỡ kể cả dầu mỡ thực vật. Qua 30 năm chữa bịnh, với hiệu quả 100% bệnh nhân nào của ông chịu ăn chay kiểu này triệt để đều dứt bịnh  và  hoàn toàn không còn phải lo nguy cơ đứng tim hay đột quỵ nữa. Chế độ ăn chay  này chính là chế độ ăn uống mà Đấng Tạo hoá đã chỉ dẫn cho loài người ngay từ buổi sáng thế (Sáng thế ký 1:29) nhờ đó mà thuở ban đầu loài người sống đến gần 1000 tuổi như chép trong Kinh thánh.

Sơ lược

Năm 2015 có 17,7 triệu người chết vì bịnh tim mạch, gần một phần ba (31%) số người tử vong trên thế giới. Trong số 17,7 triệu người chết này, 7,4 triệu người chết vì đứng tim (heart attacks) và 6,7 triệu người chết vì đột quị (stroke).

Là một bác sĩ giải phẩu ở bệnh viện nổi tiếng Cleveland Clinic, bác sĩ Esselstyn nhận biết phẩu thuật dầu đã phát triển tinh vi cuối cùng cũng bó tay trước bịnh tim mạch. Ông nghiên cứu và tin rằng chỉ có cách dinh dưỡng mới phòng ngừa và trị dứt được bịnh tim mạch. Ông đã xác định được chế độ ăn uống cần phải theo để đạt mục tiêu này.

Năm 1985 có 23 bệnh nhân đàn ông và 1 bệnh nhân đàn bà tuyệt vọng vì các bác sĩ phẩu thuật của bệnh viện đã nói với họ lời xin lỗi là họ không giúp gì hơn được nữa. 24 bệnh nhân này đến nhờ bác sĩ Esselstyn giúp. Vì họ không còn cách nào khác nên họ đồng ý tuân theo đòi hỏi khá khắt khe trong chế độ dinh dưỡng thử nghiệm mà bác sĩ Esseltyn đề ra và tin tưởng. Hai mươi năm sau, tất cả nhóm bệnh nhân này vẫn còn sống và không còn bịnh tim mạch nữa (Esselstyn, 2007).

Năm 2007, để cổ võ và khuyến khích dân chúng dùng chế độ dinh dưỡng để phòng ngừa và chữa trị bịnh tim mạch, bác sĩ Esselstyn viết ra cuốn sách về 20 năm kinh nghiệm chữa bịnh tim mạch của mình với tựa đề “Prevent and Reverse Heart Disease” (Phòng ngừa và chữa trị bịnh tim tim). Quyển sách này một thời là sách bán chạy nhất theo Thời báo New York Times. Dành một chương với tựa đề “Chừng mực làm chết người” ( Moderation kills) Bác sĩ Esselstyn nhấn mạnh rằng chế độ ăn uống này phải được tuân thủ triệt để thì mới có hiệu quả. Ai thực hiện nửa vời, lỏng lẽo, chung chung thì bịnh không hết hoặc tái phát.

Chế độ ăn uống của Bác sĩ Esselstyn

Sau đây là chế độ ăn uống phòng ngừa và chữa trị hữu hiệu bịnh tim mạch của bác sĩ Esseltstyn:

1 Những thức ăn tuyệt đối phải tránh:

• Tất cả thức ăn gốc động vật gồm cả thịt, cá, gà vịt, chim, trứng.

Sửa và sản phẩm sửa kể cả bơ, phó mát, kem, da ua , sửa không kem.

Tất cả dầu ăn kể cả dầu dừa, dầu hột flax (flax seed oil). Xin xem phần bình luận bên dưới.

Mễ cốc tinh chế, kể cả gạo chà trắng, bột trắng và những sản phẩm tinh bột như pasta,bánh mì trắng, bánh nướng.

Tất cả các thứ hạt có dầu. Những người không bị bệnh tim có thể ăn một ít hạt não chó (walnuts). Bác sĩ Esselstyn biết có nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy hạt có dầu có nhiều lợi ích cho sức khoẻ nhưng vì chưa thấy nghiên cứu nào chứng tỏ hạt có dầu có công dụng chận đứng hay đảo ngược bịnh tim mạch nên ông duy trì nguyên tắc tránh hạt có dầu, nhứt là vì người ăn dễ ăn nhiều quá.

2. Những thực phẩm nên ăn và chất lỏng nên uống:

Rau cải. Bất cứ thứ rau cải nào ăn cũng được nhưng tốt nhất là ăn nhiều thứ rau cải khác nhau để đủ chất bổ và khoáng chất cho cơ thể. Đĩa rau cải nhiều màu như cầu vồng (rainbow colors) là tốt nhất. Riêng đối với người đang bị bệnh tim mạch thì Bác sĩ Esselstyn khuyên không nên ăn trái bơ vì nó chứa nhiều mỡ.

Các thứ đậu (legumes) kể cả đậu tươi, mọi loại đâu khô (beans, peas, lentils of all kinds). Để tránh ảnh hưởng có hại cho đường ruột và để hưởng tối đa thành phần dinh dưỡng của các thứ đậu, chúng ta nên ngâm đậu qua đêm trước khi nấu.

Sản phẩm mễ cốc và hạt nguyên thể (chưa biến chế) chẳng hạn như cơm lức, bánh bột mì lức, hạt chia (chia seeds), hạt flax (flax seeds)…

Trái cây gồm tất cả mọi thứ trái cây. Tuy nhiên nên giới hạn chỉ nên ăn mỗi ngày ba miếng hay ba nắm (handful) trái cây loại chùm như dâu đỏ, dâu xanh (blue berries) và nho. Đồng thời nên tránh nước trái cây ép nguyên chất (pure fruit juice) để tránh mức đường lên cao đột ngột trong máu vì trái cây chứa nhiều đường.

Thức uống: Nước lọc, sửa yến mạch (oat milk), sửa đậu nành không mỡ, trà và cà phê. Có thể uống rượu nếu uống chừng mực.

3. Bình luận

Chế độ ăn uống của bác sĩ Esselstyn được lập ra trong thời kỳ giới y khoa tin tưởng rằng cholesterol cao trong máu là nguyên do làm cho các mạch máu bị nghẽn vì các lớp mỡ đóng tích tụ trên vách phía trong của mạch máu.

Cho đến năm 2015, Cơ quan Y tế thế giới vẫn cón giữ lập trường này và giải thích rằng đứng tim và đột quỵ xãy ra cấp kỳ, chủ yếu do mạch dẫn máu đến tim hoặc não bị nghẽn. Nguyên nhân thông thường nhất là mặt trong của những mạch máu dẫn đến tim hoặc não bị đọng nhiều mỡ làm nghẽn máu. Đột quỵ cũng có thể do mạch máu trong não bi vỡ hoặc vì máu đóng cục làm nghẽn mạch máu lên não. Phần lớn các trường y khoa và các bác sĩ cũng tin rằng cholesterol cao trong máu là nguyên nhân chính gây ra bệnh tim mạch.

Tuy nhiên, theo sách ” the Etiopathogenesis of Coronary Heart Disease” (Căn sinh bệnh Tim mạch) của bác sĩ Giorgio Baroldi xuất bản năm 2004 thì công trình nghiên cứu rộng lớn nhất về bệnh nhân bị đứng tim cho thấy ít nhất 80% trường hợp đứng tim không liên hệ gì đến nghẽn mạch máu. Và theo bác sĩ Cowan thì một bài nghiên cứu đăng trên tạp chí của Hiệp hội Y học Mỹ (Journal of American Medical Association) cùng với ba bài trên tạp chí y khoa Lancet cho thấy tuổi thọ có khuynh hướng tăng mức cholesterol và không có liên hệ nào giữa mức cholesterol cao với tử vong.

Theo bác sĩ Cowan thì ba nguyên nhân chủ yếu gây đứng tim là hệ thống thần kinh tự chủ mất cân bằng (autonomous nervous system imbalance), hệ tuần hoàn vi mô yếu (poor microcirculation) và hoạt động ti thể yếu (poor mitochondria function) dẫn đến ứ đọng axit lac tít (lactic acid build up) (Mercola, 2017). Chế độ ăn uống giúp giảm ba nguyên nhân này chú trọng thức ăn nguyên thể chưa chế biến (whole food), ít thức ăn thuần đường (low in net carbs), nhiều dầu mỡ tốt , nước cốt củ cải tía (beet root juice) nhịn ăn đứt khoảng (intermitten fasting).

Chế độ ăn uống này mới nhìn thì rất khác với chế độ ăn uống của bác sĩ Esselstyn, nhất là về dầu mỡ. Bác sĩ Esselstyn bảo tuyệt đối phải tránh tất cả các loại dầu mỡ và giải thích rằng rau quả và legumes có đủ dầu mỡ tự nhiên để đáp ứng nhu cầu a xit mỡ của cơ thể. Chế độ ăn uống mới nhất khuyến khích ăn nhiều dầu mỡ tốt thật ra cũng ám chỉ không nên ăn dầu rau cải bán trên thị trường vì hầu hết dầu mỡ rau cải trên thị trường là dầu tinh chế (ngoại trừ dầu ô liu, dầu hột flax, dầu mè ép lạnh) và chứa quá nhiều omega-6 gây viêm so với ômega-3 chống viêm. Các loại hạt có dầu cũng chứa nhiều ômega 6 hơn là ômega 3 ngoại trừ hạt chia và hạt flax. Vì thế nếu có ăn thì cũng nên ăn chừng mực. Trong phần trả lời những câu hỏi thường gặp, bác sĩ Esselstyn khuyến khích ăn nhiều hạt chia và hạt flax vì hai loại này chứa nhiều ômega 3 và chất đạm (http://www.dresselstyn.com/site/faq/ )

Vì chế độ ăn uống của bác sĩ Esselstyn đã được sử dụng 30 năm nay và chứng tỏ có hiệu quả 100% phòng ngừa và chữa trị bệnh tim mạch, những bạn đang muốn chữa dứt tim mạch và những bạn muốn chắc chắn tránh bị đứng tim, hay đột quỵ trong tương lai nên triệt để theo chế độ này.

Chế độ ăn uống này thật ra là  chế độ ăn uống mà Đấng Tạo hoá đã chỉ dẫn cho loài người ngay từ buổi sáng thế  trong chương đầu của sách Sáng thế ký trong  Kinh thánh:“Ta ban cho các ngươi mọi thứ rau cỏ kết hạt mọc trên đất và mọi thứ cây cối ra quả kết hạt, để dùng làm thức ăn cho các ngươi” (Sáng thế ký 1:29). Chỉ dẫn này giống như nhà sản xuất chỉ dẫn cách sử dụng và bảo trì máy móc do họ làm ra. Thuở ban đầu loài người vâng theo lời dạy này nên đã sống đến gần 1000 tuổi như đã chép trong Kinh thánh. Từ khi ăn thịt và thức ăn chế biến, loài người mới bị nhiều thứ bịnh và giảm thọ.

Ngoài chế độ ăn uống của bác sĩ Esselstyn còn có vài cách tự nhiên chữa trị bịnh tim mạch, đặc biệt là liêu pháp vỗ và căng gân (paidalajin) rất đơn giản không tốn tiền ai cũng áp dụng được. Dầu vậy, chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật cũng là nguyên tắc của phương pháp này để bảo vệ sức khoẻ. Chỉ có khác là không phải triệt để như chế độ ăn uống của bác sĩ Esselstyn. Tôi xin trình bày liệu pháp này trong bài viết kế tiếp.

Xin lưu ý: Bài viết này có mục tiêu tóm tắt và phổ biến thông tin có lợi cho nổ lực bảo vệ sức khoẻ của quý bạn chứ không thay thế lời chỉ dẫn của y sĩ người đọc.

Tham khảo:

Esselstyn, C. B. (2007). Prevent and Reverse Heart Disease. The revolutionary, scientifically proven, nutrition-based cure. The Penguin Group, New York.

Mercola (2017). What you really need to now about Heart Diseases and its treatment. URL: https://articles.mercola.com/sites/articles/archive/2017/12/24/stents-heart-disease-treatment.aspx

WHO (2017). Cardiovascular Disease fact sheet, April 2017. URL: http://www.who.int/mediacentre/factsheets/fs317/en/

Viêm khớp

Trị Bịnh Viêm khớp – Arthritis bằng Chế độ dinh dưỡng

Tóm tắt: Kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu kiểm nghiệm lâm sàng cho thấy có thể trị dứt bịnh viêm khớp bằng chế độ ăn uống thuần rau quả cùng với dầu mỡ tốt, thưc phẩm lên men và phụ trợ tăng khả năng hấp thụ calcium. Thời gian chữa trị có thể rút ngắn bằng cách nhịn ăn 1-2 tuần trước khi thay đổi chế độ ăn uống . Đồng thời có thể giảm đau nhức cấp thời bằng cách dùng phụ trợ chống viêm và ngừng tiêu thụ một số thức ăn như đường, sữa, dầu thực vật tinh chế, sản phẩm bột mì, thực phẩm chế biến và thực phẩm gốc động vật.

Sơ lược bệnh viêm khớp

Bệnh viêm khớp – gồm cả phong  thấp, thấp khớp, gút – thường làm cho khớp xương sưng, đau nhức, cứng nhắc và hạn chế phạm vi cử động. Những triệu chứng này có thể nay có mai không và có thể nhẹ, trung bình hoặc trầm trọng và có thể không thay đổi năm này qua năm khác nhưng cũng có thể ngày càng nặng. Viêm khớp nặng có thể gây đau dài hạn, làm người bịnh mất khả năng thực hiện sinh hoạt hằng ngày, khó khăn lên xuống cầu thang.

Viêm khớp cũng có thể làm khớp cong quẹo vĩnh viễn nếu chỉ trị bằng thuốc tây (xem hình)

Có hàng trăm thứ viêm khớp khác nhau, bệnh viêm khớp thường gặp nhất là

-Bịnh viêm khớp thoái hoá (degenerative arthritis – osteoarthritis) do xương sụn bọc khớp bị mòn hay thoái hoá vì cơ thể không hấp thụ đủ calcium. Loại viêm khớp này thường thấy ở người lớn tuổi.

-Bịnh viêm xung quanh khớp (Inflammatory Arthritis) xãy ra khi hệ miễn nhiễm tấn công các khớp vì lầm tưởng đó là ngoại sinh vật xâm lược cơ thể. Nơi nào bị hệ miễn nhiễm tấn công thì nơi đó bị viêm.

– Nhiễm trùng khớp (infectious arthritis) xãy ra khi khớp bị nhiễm vi trùng, vi khuẩn hay vi nấm (fungus). Phản ứng của hệ miễn nhiễm gây viêm và đau nhức ở khớp. Chữa trị kịp thời bằng kháng sinh thường dứt bịnh, nhưng có khi thành viêm khớp mãn tính.

– Viêm khớp do dưỡng chế (Metabolic Arthritis) thông thường gọi là bịnh gút, xãy ra khi cơ thể không kịp thải bỏ uric acid, một sản phẩm phụ của qui trình biến dưỡng chất purine thường có trong tế bào cơ thể và thức ăn. Acid uric tích tụ nhiều sẽ tạo thành tinh thể giống những cây kim xung quanh khớp gây đau nhức.

Chế độ dinh dưỡng trị bịnh viêm khớp:

Vì mỗi lọại viêm khớp có nguyên do riêng của nó, nên cách chữa trị cho loại này khác cách chữa trị cho khác. Thêm vào đó, cách chữa trị chỉ nhắm mục tiêu giảm đau cũng khác cách chữa trị tận gốc. Cách chữa trị tận gốc có thể cần thời gian lâu, từ vài tháng đến vài năm. Trong khi đó cũng cần gấp rút giảm đau nhức. Vì vậy thông thường nên phối hợp cả 2 cách chữa tri cho đến khi trị dứt.

A.  Cách trị tận gốc:

Viêm khớp là một trong những hậu quả của chế độ dinh dưỡng không lành mạnh vì chê độ ăn uống quyết định tình trạng đường ruột và hệ miễn nhiễm. Viêm khớp có thể là hậu quả của tình trạng miễn nhiễm tự tác (autoimmune) (Campbell, 2014) hoặc tình trạng viêm đường ruột (Mielands, Veys, Cuvelier & De Vos, 1996) liên quan sự mất thăng bằng trong quần thể vi sinh đường ruột hoặc vì màng đường ruột bị rò rĩ (Jacob, 2013; Campbell, 2014), tức là màng đường ruột có kẻ hở đủ lớn cho nhiều vật thể không thân thiện lẻn vào máu. Viêm khớp cũng có thể liên quan đến tình trạng xượng bị thoái hoá vì thiếu những vitamin và khoáng chất cần thiết để hấp thụ đủ calcium (Nutriceuticals world, 2013).

Cách trị tận gốc bịnh viêm khớp vì vậy gồm nhiều biện pháp. Kiễm nghiệm lâm sàng cho thấy mỗi biện pháp đều có kết quả hiệu lực cho đa số bịnh nhân tham gia trong cuộc thử nghiệm nhưng không hữu hiệu cho tất cả. Chẳng hạn như biện pháp nhịn ăn sẽ không hiệu lực cho những người bị viêm khớp do nhiễm trùng, hay do thoái hoá xương

  1. Nhịn ăn: (Nếu nhịn ăn không thích hợp thì chuyển sang ăn rau quả – mục kế tiếp) Nhịn ăn làm giảm tình trạng rò rĩ màng ruột, cho nên nhịn ăn 2 tuần lễ giúp cải thiện rất nhiều tình trạng viêm khớp theo kết quả của nhiều nghiên cứu kiểm nghiệm lâm sàng (Beri, Malaviya, Shandilya & Singh,1988; Longo, V.D. & Mattson, 2014; Sandqvist et al , 1999). Xin xem lại bài nhịn ăn trong đó có cô Diana kế lại cô hết đau viêm khớp sau 11 ngày nhịn ăn và chỉ uống nươc rau cải ( Nhật ký của Diana)
  2. Sau khi nhịn ăn (hoặc không cần thiết nhịn ăn), chỉ nên ăn rau quả và thực phẩm thực vật (vegan) vì thực thẩm gốc thực vật chống viêm, tạo môi trường kiềm cho cơ thể. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy chế độ dinh dưỡng bằng rau quả giúp tăng cường lượng vi sinh tốt trong bộ tiêu hoá, giảm rò rĩ màng ruột (Peltonen R. et al, 1997) và đẩy lùi triệu chứng viêm khớp (Kjeldsen-Kragh, 1999).
  3. Ăn dầu mỡ tốt sản xuất bằng phương ướp lạnh như dầu dừa, dầu hột flax, dầu ô liu, dầu hột não chó (walnut oil), dầu trái bơ (avocado oil) (Arthritis Foundation 1). (Chỉ dùng dầu dừa để xào nấu) Theo nghiên cứu lâm sàng gần đây, dầu dừa là mỡ tốt có thể giúp chữa lành rò rĩ màng ruột, có tác dụng giảm viêm khớp (Ratheesh et al., 2017; Paul Fassa, 2017) và kiềm chế nấm Candida (Kearney et al, 2015). Khi nấm men Candida chế ngự cơ thể thì cơ thể bị nhiều triệu chứng bịnh, trong đó có viêm khớp (Muedin, 2013). Dầu dừa còn có tác dụng trị bịnh miễn nhiễm tự tác (auto immune disease) kể cả viêm khớp (Myers, 2015).
  4. Ăn nhiều thức ăn lên men như kim chi, dưa cải chua, gia ua dừa sống (coconut yogurt), chao, đậu nành lên men (natto), gia ua sữa (nếu bị viêm khớp thoái hoá, nhiễm trùng hay gút) hoặc uống phụ trợ probiotics để tăng cường sức khoẻ và hệ miễn nhiễm đường ruột. (Helme, J., 2015).
  5. Tăng khả năng hấp thụ calcium của cơ thể bằng cách sử dụng khoáng chất bổ sung như boron, magnesium, Vitamin K và vitamin D (Christakos, 2011). Viêm khớp do thoái hoá xương liên hệ đến tình trạng cơ thể giảm khả năng hấp thụ calcium chứ không phải vì tiêu thụ không đủ calcium. Cơ thể cần có đủ boron (Walter Last) magnesium, vitamin K, vitamin D mới hấp thụ được đầy đủ calcium (Nutriceuticals world, 2013). Thiếu những chất này thì uống bao nhiêu sữa và bao nhiêu calcium bổ sung đi nữa, xương vẫn loãng và viêm khớp cứ tệ hơn. Chúng ta có thể mua phụ trợ tổng hợp đủ những khoáng chất trên để tăng hấp thụ calcium và dứt bệnh viêm khớp thoái hoá như Clinicians Bone Care Complete ở NZ, hoặc Bone Strength, Bone-Up, Bone Solid ở iherb.com

B. Cách giảm đau nhức gấp rút: Xin lưu ý là không phải cách nào trong những cách này cũng công hiệu cho tất cả mọi người bị viêm khớp. Bịnh viêm khớp thường liên hệ rất nhiều đến dị ứng thức ăn (food allergy) và tình trạng chuyển hoá dinh dưỡng của cơ thể. Có thể chọn lọc nhưng cũng có thể thử mỗi lần một vài cách vì  tất cả nếu không có công hiệu thì cũng không có hại gì cả.

  1. Ngừng tiêu thụ những thức ăn thức uống sau đây:
  • Ngừng sử dụng sữa bò và thực phẩm gốc sửa bò (nếu cơ thể có phản ứng với sữa bò). Nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy nhiều người (nhưng không phải tất cả) dùng lại sửa bò và thưc phẩm gốc sữa bò và động vật sau khi nhịn ăn thì bị đau nhức viêm khớp trở lại (Kjeldsen-Kragh, 1999). Tuy nhiên, nên ăn sữa chua gia ua sống (live yogurt – nghĩa là gia ua có thể dùng để gầy thêm gia ua mới) để giúp diệt vi sinh có hại trong ruột để gỉam rò rĩ đường ruột. (Dr Axe, 2017) Có thể thay thế sữa bò bằng sửa hạnh nhân, sửa gạo, sửa (kem) dừa….
  • Ngừng hay giảm thiểu ăn thịt vì thịt chứa nhiều nội độc tố (endotoxin) do vi sinh trong thịt tiết ra (khi thịt còn sống) và mỡ bảo hoà trong thịt tăng lượng độc tố chuyển vào máu. Kết quả là tăng chứng viêm trong người (Greger, 2012). Vi sinh độc hại thích thịt, nên ăn nhiều thịt sẽ giúp vi sinh độc sinh sôi và tăng trưởng trong bộ tiêu hoá, nâng cao mức lượng nội độc tố gây nhiều thứ bệnh kể cả viêm khớp (Minich D., 2017)
  • Ngừng hay giảm thiểu thức ăn nước uống chứa nhiều purine như bia rượu, sò điệp, cá cơm, cá thu, thịt, nhất là thịt nai, thịt bacon, bò non, nai, gan, thịt bò, gà, vịt, heo… Càng ăn nhiều thực phẩm chứa nhều purine thì càng tăng mức acid uric trong người, gây nên đau nhức viêm khớp gút (Roubenoff, n.d.)
  • Ngừng dùng dầu ăn thực vật (vegetable oils) tinh chế như dầu canola, dầu đậu nành, dầu bắp, dầu hột hướng dương (Kris Gunnars (2013). Vì những thứ dầu này chứa qua nhiều omega-6 so với omega-3 nên gây viêm và hại đường ruột (Arthritis Foundation 5; Hyman, 2015). Ăn nhiều mỡ động vật kể cả sữa bò nguyên kem (full cream dairy products) cũng gây nên viêm khớp (Arthritis Foundation 3).
  • Ngừng ăn thức ăn chế biến, nhất là những loại khoai tây chiên, rán (chips), vì thức ăn chế biến thường chứa nhiều dầu mỡ chiên đã biến chất (transfat) là những chất tạo viêm và kích hoạt triệu chứng viêm khớp (Arthritis Foundation 4)
  • Ngừng ăn đường (Arthritis Foundation ) và những thức ăn gốc tinh bột (refined carbohydrates) như bánh mì trắng, gạo trắng, bột khoai tây trắng vì những chất này gây viêm và những đau nhức mãn tính (Arthritis Foundation 6; Franziska Spritzler, 2017).
  • Ngừng ăn thức ăn có bột ngọt (MSG) tức là nên tránh tất cả thức ăn chế biến Á châu vì bột ngọt kích hoạt viêm và đau nhức mãn tính (Arthritis Foundation 7)
  • Ngừng tiêu thụ thức ăn gốc lúa mì (wheat), lúa mạch (barley) và lúa mạch đen (rye) vì có chứa gluten, là chất thường gây rò rĩ màng ruột và những bệnh miễn nhiễm tự tác kể cả viêm khớp (Rath, 2015; Punder & Pruimboom, 2013).
  1. Ăn mè sống  xay (hay giã nhỏ) mỗi ngày  40 gm (chia ra làm nhiều lần ) sẽ giảm đau nhức viêm khớp rất nhiều theo kết quả nghiên cứu lâm sàng ở Đại Học Tabriz Iran năm 2013 với 50 bệnh nhân tham gia (Sayer Ji, 2013).
  2. Phụ trợ cao củ nghệ (Turmeric supplement). Kết quả tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng của Daily, Yang và Park (2016) xác nhận dùng cao củ nghệ (turmeric extract) có hiệu lực giảm đau viêm khớp. Liều lượng tối thiểu để có hiệu lực giảm đau là 1000mg cao, tương đương khoảng 30 g củ nghệ khô. Công thức phụ trợ cao củ nghệ cần phải có tiêu đen (black pepper) để giúp cơ thể hấp thụ hữu hiệu chất thuốc của củ nghệ.
  3. Phụ trợ Bromelain. Bromelain là một nhóm enzyme từ trái dứa có tác dụng chống viêm và nhiễm trùng được chứng nghiệm đã giúp nhiều bệnh nhân viêm khớp thoái hoá giảm đau đáng kể (Pavan et al, 2012) . Có thể dùng liều 2000 mg 3 lần một ngày giữa 2 bửa ăn . (Arthritis Foundation 8).
  4. Dầu cá (fish oil). Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cho thấy dầu cá giúp nhiều bệnh nhân giảm đau khớp và giúp cử động dễ hơn. Cần dùng 2.6 gm 2 lần một ngày dầu cá loại tốt (Nordic fish oil) gồm ít nhất 30 phần trăm EPA/DHA (Arthritis Foundation 9 ).
  5. Dầu hạt đen (black seed oil) – có thể cũng gọi là dầu hạt mè đen hay dầu thì là Ai cập – có công dụng chữa được nhiều bịnh. Một cuộc thử nghiệm lâm sàng với 40 phụ nữ bị viêm khớp (RA), tất cả đều giảm đau rất nhièu sau khi dùng 500 mg dầu hạt đen 2 lần một ngày trong 1 tháng (Gheita & Kenawy, 2012).
  6. Phụ trợ gồm enzyme huỷ đạm (proteolytic enzyme). Khi chổ nào bị thương thì cơ thể đưa chất đạm fibrin đến đó để tạo một tấm lưới bảo vệ cho platelets và hồng cầu làm xong công tác chữa lành nơi đó. Chữa lành xong thì cơ thể lại gởi enzyme huỷ đạm đến đó để dọn sạch fibrin và phục hồi tình trạng nguyên si trước đó. Khi cơ thể không đủ enzyme để huỷ fibrin thì fibrin tích luỹ thành sẹo cứng, cản trở mạch máu, gây trở ngại hoạt động bắp thịt và gây viêm mãn tính. Lượng enzymes huỷ đạm trong cơ thể giảm đi sau 25 tuổi là 1 trong những nguyên do có thể gây  viêm khớp (Cannone, 2011). Enzyme huỷ đạm như bromelain, rutin, papain có tác dụng giảm đau viêm khớp như các thuốc tây giảm đau nhưng có lợi thế hơn  là bảo vệ sụn khớp (Bolten et al, 2015; Nouza, 1994). Có thể tìm mua phụ trợ enzyme huỷ đạm bán trên internet như

“Doctor’s Best, Proteolytic Enzymes, 90 Enteric Coated Veggie Caps” với giá $US20 trên iherb.com (Iherb.com tương đối khá rẽ so với các tiệm khác, tính bằng tiền địa phương của người mua và tuỳ trường hợp có khi miễn cước phí). Phụ trợ này gôm bromelain, papain, amylase, rutin, lipase, neutral protease, bacterial protease, fungal protease và Serratiopeptidase.

Trong 10 người sử dụng thì có 8 người thấy phụ trợ này có công hiệu tuyệt vời. Dĩ nhiên loại phụ trợ này có thể không công hiệu cho những người bị viêm khớp thoái hoá.

  1. Cao gừng (ginger extract) được kiểm nghiệm có tác dụng giảm đau viêm khớp không thua gì steroid. Liều dùng trong nghiên cứu tương đương 3 gam gừng khô 2 lần một ngày (Arthritis Foundation 10)
  2. Dầu hột flax (Flax seed oil) chứa rất nhiều omega 3 nên có công hiệu chống viêm hữu hiệu và được công nhận là có hiệu quả giảm đau cho nhiều người bị viêm khớp. ( Arthritis Foundation 11 )
  3. Chondroitin sulfate và glucosamine có công hiệu giảm đau cho một số người bị viêm khớp thoái hoá nhưng trung bình không có hiệu quả bao nhiêu (Arthritis Foundation 12)
  4. MSM Methylsulfonylmethane là một hợp chất sulphur tự nhiên trong rau quả, mễ cốc và động vật. MSM có tác dụng giúp giảm đau và viêm cho tất cả 50 người tham gia1 thử nghiệm lâm sàng. Liều dùng từ 1 g đến 3 g mỗi ngày. (Arthritis Foundation 13)

Phụ trơ tổng hợp tên Flexitrinol chứa vitamin C, dầu hột flax, dầu cá, vitamin E, boron, dầu Eneming Primrose, chondroitin sulfate, MSM và Glucosamine được đánh giá là phụ trợ trị đau viêm khớp hữu hiệu nhất. (Richard, dietsinreview 2016)

Xin lưu ý: Bài viết tóm tắt trên đây chỉ có mục đích thông tin để giúp quý bạn nắm vững hơn tình hình khi lấy quyết định liên quan đến sức khoẻ mình. Bài viết này không thay thế nhu cầu tham khảo ý kiến y sĩ chăm sóc sức khoẻ của quý bạn.

 

Tham khảo:

Beri, D., Malaviya, A.M., Shandilya, R. & Singh, R.R. (1988) Effect of dietary restrictions on disease activity in rheumatoid arthritis. Ann Rheum Dis. 1988 Jan; 47(1): 69–72

Bolten, W. W. et al (2015). The Safety and Efficacy of an Enzyme Combination in Managing Knee Osteoarthritis Pain in Adults: A Randomized, Double-Blind, Placebo-Controlled Trial. Arthritis. 2015; 2015: 251521.  doi:  10.1155/2015/251521

Campbell, A.W. (2014) Autoimmunity and the Gut . Autoimmune Dis. 2014; doi:  10.1155/2014/152428

Cannone, J. (2011) What Is Fibrin – And What to Do About It Now to Relieve Pain & Improve Health. The Healthy Back Institute. URL: https://www.losethebackpain.com/what-is-fibrin/

Christakos, S. et al. Vitamin D and Intestinal Calcium Absorption. Mol Cell Endocrinol. 2011 Dec 5: 347(1-2): 25-29.  doi:  10.1016/j.mce.2011.05.038

Daily, J.W., Yang, M. & Park, S. Efficacy of Turmeric Extracts and Curcumin for Alleviating the Symptoms of Joint Arthritis: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Clinical Trials. J Med Food. 2016 Aug 1; 19(8): 717–729. doi:  10.1089/jmf.2016.3705

Dr Axe (2017) Leaky Gut treatment. https://draxe.com/leaky-gut-diet-treatment/.

Fasano, A. Leaky gut and autoimmune diseases. Clin Rev Allergy Immunol. 2012 Feb;42(1):71-8. doi: 10.1007/s12016-011-8291-x.

Hyman, M. (2016) Why oil is bad for you. http://drhyman.com/blog/2016/01/29/why-oil-is-bad-for-you/

Fassa, P. (2017) Coconut Oil Proven Beneficial for Healing Rheumatoid Arthritis and Other Autoimmune Diseases. Health Impact News. November 3, 2017 URL: http://coconutoil.com/coconut-oil-proven-beneficial-for-healing-rheumatoid-arthritis-and-other-autoimmune-diseases/

Franziska Spritzler (2017) 6 foods that cause inflammation. https://www.healthline.com/nutrition/6-foods-that-cause-inflammation#section1

Gheita, T.A. & Kenawy, S.A. Effectiveness of Nigella sativa oil in the management of rheumatoid arthritis patients: a placebo controlled study. Phytother Res. 2012 Aug;26(8):1246-8. doi: 10.1002/ptr.3679.

Greger, M. (2012). Dead Meat Bacteria Endotoxemia. NutritionFacts.org

Helme, J. (2015). The Promise of Probiotics for Arthritis. Foods and supplements with these “good bacteria” may prove to help arthritis and overall health. Arthritis Foundation. URL: http://www.arthritis.org/living-with-arthritis/arthritis-diet/healthy-eating/guide-to-probiotics.php

Jacob, A. (2013) Gut Health and Autoimmune Disease — Research Suggests Digestive Abnormalities May Be the Underlying Cause. Today’s Dietitian Vol. 15 No 2 P. 38

Kearney, T.W. et al (2015) Manipulation of Host Diet To Reduce Gastrointestinal Colonization by the Opportunistic Pathogen Candida albicans. American Society for Microbiology. DOI: 10.1128/mSphere.00020-15

Kjeldsen-Kragh, J. Rheumatoid arthritis treated with vegetarian diets. Am J Clin Nutr . September 1999 vol. 70 no. 3 594s-600s. http://ajcn.nutrition.org/content/70/3/594s.full#fn-1

Kris Gunnars (2013) . 6 reasons why vegetable oils are toxic. https://www.healthline.com/nutrition/6-reasons-why-vegetable-oils-are-toxic#section1

Longo, V.D. & Mattson, M.P. Fasting: Molecular Mechanisms and Clinical Applications. Cell Metab. 2014 February 4; 19(2): 181-192. doi:10.1016/j.cmet.2013.12.008

Mielands, H. Veys, E.M., Cuvelier, C. & De Vos, M. Course of gut inflammation in spondylarthropathies and therapeutic consequences. Baillieres Clin Rheumatol. 1996 Feb;10(1):147-64.

Minich, D. (2017) What you need to know about a high-fat diet. Huffpost. https://www.huffingtonpost.com/entry/what-you-need-to-know-about-a-high-fat-diet_us_595f22c4e4b0cf3c8e8d57b0

Muedin, L. (2013). Candida. Intelligent Medicine. http://drhoffman.com/article/candida/

Myers, A. (2015). The Autoimmune Solution. New York, New York: HarperCollins Publications.

Nouza, K. (1994). Outlooks of systemic enzyme therapy in rheumatoid arthritis and other immunopathological diseases. Acta Univ Carol Med (Praha). 1994;40(1-4):101-4.

Pavan, R., Jain, S., Shraddha & Kumar, A. Properties and Therapeutic Application of Bromelain: A Review. Biotechnol Res Int. 2012; 2012: 976203. doi:  10.1155/2012/976203

Nutraceutical World (2013). Association: Magnesium Essential to Absorption of Vitamin D & Calcium. URL: https://www.nutraceuticalsworld.com/contents/view_breaking-news/2013-03-07/association-magnesium-essential-to-absorption-of-vitamin-d-calcium

Peltonen, R. et al (1997). Faecal microbial flora and disease activity in rheumatoid arthritis during a vegan diet. Br J Rheumatol. 1997 Jan;36(1):64-8. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/9117178

Punder, K. D. & Pruimboom, L. (2013) The Dietary Intake of Wheat and other Cereal Grains and Their Role in Inflammation. Nutrients. 2013 Mar; 5(3): 771–787. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3705319/ doi:  10.3390/nu5030771

Rath, L. (2015). The Connection Between Gluten And Arthritis. Arthritis Foundation. http://www.arthritis.org/living-with-arthritis/arthritis-diet/anti-inflammatory/gluten-free-diet.php

Ratheesh, M. et al (2017). Anti-inflammatory and antioxidant effect of Kerabala: a value-added ayurvedic formulation from virgin coconut oil inhibits pathogenesis in adjuvant-induced arthritis. Inflammopharmacology. 2017 Feb;25(1):41-53. doi: 10.1007/s10787-016-0298-8

Roubenoff, R. (n.d.). Safe food for gout. Arthritis Foundation.

Sayer Ji (2013) Eating Sesame Seeds Superior To Tylenol for Knee Arthritis. http://www.greenmedinfo.com/blog/eating-sesame-seeds-superior-tylenol-knee-arthritis

Sundqvist, T. et al (1982) Influence of fasting on intestinal permeability and disease activity in patients with rheumatoid arthritis. Scand J Rheumatol; 11(1):33-8. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/7063809

Walter Last (1). ARTHRITIS AND RHEUMATISM. A Holistic Therapy. http://www.health-science-spirit.com/arthritis.html

Walter Last (2). The Borax Conspiracy. How the Arthritis Cure has been stopped. http://www.health-science-spirit.com/borax.htm

 

 

 

 

 

 

 

 

Chế độ ăn uống chống cao huyết áp

 

Tóm lược: Bịnh cao huyết áp làm cho hàng ngàn người chết mỗi ngày ở Mỹ. Xin đừng coi thường bệnh này và đừng hoàn toàn dựa vào thuốc trị huyết áp nhưng nên bổ sung bằng thức ăn và sinh hoạt lành mạnh. Có thể chống bệnh cao huyết áp bằng cách thay đổi chế độ ăn uống và sinh hoạt như  1. Giảm thiểu tiêu thụ muối, đường, cà phê, rượu bia; 2. Tạo nhiều thời gian không căng thẳng; 3. Tăng tiêu thụ rau quả tươi đủ loại, hành, tỏi, hạt flax seed, hạt có dầu, nước dừa,  yến mạch, dầu mè, sô cô la đen; và 4. Bồi dưỡng CoQ10, magnesium và dầu cá.

Cao huyết áp làm chết rất nhiều người:

Y khoa ngày càng tiến bộ nhưng càng ngày càng nhiều người bị bệnh cao huyết áp và chết vì cao huyết áp. Theo trung tâm Kiểm soát và phòng bệnh của Hoa kỳ (Centres for Disease Control and Prevention – CDC), cứ 3 người lớn ở Mỹ thì có 1 người – tức là có tất cả 75 triệu dân Mỹ trên 18 tuổi – bị bệnh cao huyết áp. Trong năm 2013 có 360 ngàn người chết ở Mỹ vì cao huyết áp – tức là 1000 người chết chủ yếu vì cao huyết áp mỗi ngày. Cao huyết áp là nguyên nhân chính gây tử vong  qua triệu chứng nhồi máu cơ tim (heart attack), đột quỵ (stroke),  suy tim mãn tính (chronic heart failure) và suy thận (kidney disease). Hơn 70 % những người cao huyết áp dùng thuốc tây y chữa cao huyết áp, nhưng hơn có tới 54 % người không kiểm soát được huyết áp của mình. Các con số nói lên thực trạng là thuốc tây không trị được bịnh huyết áp cao. Hơn nữa, tuỳ theo loại thuốc sử dụng, người bịnh có thể bị nhức đầu, chóng mặt, sưng mắt cá chân, bón, triệu chứng cảm cúm, xây xẩm khi đúng dậy, đi tiểu thường hơn, mệt, lạnh tay chân (Cơ quan y tế quốc gia Anh – NHS)

Khi chúng ta có huyết áp tâm thu (systolic) nằm trong khoảng 120 – 139 mmHg hay huyết áp tâm trương (diastolic) trong khoảng 80-89 mmHg thì chúng ta ở trong tình trạng tiền cao huyết áp.

Khi huyết áp tâm thu cao hơn 139 hoặc huyết áp tâm trương cao hơn 89, chúng ta ở trong tình trạng cao huyết áp. Hai con số này cao hơn 159/99 là tình trạng đáng lo.

Biện pháp chống cao huyết áp.

Nghiên cứu lâm sàng cho thấy có thể giúp người bịnh cao huyết áp giảm huyết áp xuống mức an toàn bằng cách giảm tình trạnh căng thằng, tránh môi trường đôc hại, thay đổi chế độ ăn uống và dùng một số chất bổ sung dinh dưỡng cần thiết.

Tránh môi trường và thức ăn gây cao huyết áp

  1. Môi trường. Những ai sinh hoạt trong môi trường có nhiều chất chì có thể bị cao huyết áp. Sự kiện này được nêu lên trong chương trình nghiên cứu của Gutfield (1992) liên hệ đến nước sử dụng ở 130 thành phố ở Hoa kỳ. Những người ăn đồ ăn hộp nhiều hoặc làm việc trong ngành ráp ống nước, sản xuất kính, plastic, xây dựng có thể bị ảnh hưởng của chì.

Cadmium trong nước uống cũng có thể làm tăng huyết áp. Môt trường làm việc trong hãng sản xuất plastic, pin, dệt vải , và phân bón cũng có nhiều cadmium làm tăng huyết áp. Những người cao huyết áp ở trong môi trường như vậy nếu được y sĩ giúp tẩy độc chì và cadmium thì có thể giảm huyết áp.

  1. Căng thẳng tinh thần, tình cảm… không trực tiếp gây bịnh cao huyết áp nhưng tình trạng căng thẳng làm tăng huyết áp. Nếu kéo dài hoặc xãy ra thường xuyên, sự căng thẳng sẽ gây nên bịnh cao huyết áp (KulkarniO’FarrellErasiKochar, 1998). 

Những thức ăn cần giảm:

Những thức ăn có thể gây cao huyết áp nên tránh hay giảm tiêu thụ gồm muối, đường, cà phê, rượu bia và thức ăn gây dị ứng.

Muối. Ăn nhiều muối có nguy cơ làm cao huyết áp. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Laragh & Pecker (1983) thì chỉ 30-50 % bệnh nhân cao huyết áp nhạy cảm với lượng muối tiêu thụ. Đối với số người còn lại thì giảm tiêu thụ muối cũng không giảm huyết áp. Ngược lại giới hạn ăn muối quá khe khắt có thể có ảnh hưởng tai hại như làm mất sức và tình trạng đề kháng insulin gây tiểu đường.

Đường : Ăn nhiều đường thường tăng huyết áp. Nhiều nghiên cứu cho thấy một khi số calori của lượng đường (sucrose) tiêu thụ cao hơn 10% tổng lượng calori hấp thụ, huyết áp tâm trương (diastolic) lên cao đáng kể (Gaby, 2017). Giảm mức tiêu thụ đường, sản phẩm chế biến kể cả chất bột, và trái cây ngọt như chuối, xoài, dứa có thể giúp chúng ta giảm huyết áp.

Cà phê thường có ảnh hưởng không đáng kể trên huyết áp. Nhưng uống nhiều quá (hơn tách 1 ngày) có thể gây bịnh cao huyết áp. Bác sĩ Gaby ghi lại trường hợp 1 bệnh nhân bị cao huyết áp hơn 10 năm mặc dầu đã dùng 2 loại thuốc giảm huyết áp. Khi khám phá ra là anh ta uống 10-20 tách cà phê 1 ngày. Bác sĩ Gaby , tác giả sách “Y học dinh dưỡng” (Nutritional Medicine) yêu cầu anh ta ngưng uống cà phê. Sau 3 tuần huyết áp anh ta không cần uống thuốc nữa mà huyết áp trở lại bình thường.

Rượu bia: Nghiên cứu cho thấy những người cao huyết áp mà uống nhiều rượu nếu ngừng hoặc giảm lượng rượu tiêu thụ một cách đáng kể thì huyết áp giảm đáng kể.

Thức ăn gây dị ứng: một vài nghiên cứu cho thấy thức ăn gây dị ứng là một trong những yếu tố gây cao huyết áp cho một số người. Trong các cuộc nghiên cứu đó, nhiều người có huyết áp trở lại bình thường mà không cần thuốc huyết áp sau nhiều năm bị cao huyết áp nhờ tìm ra và ngưng tiêu thụ thức ăn gây dị ứng (Gay được đề cập trong sách của Dr Gaby)

– Dầu thực vật nấu ăn: Theo tài liệu nghiên cứu ở Spain, sử dụng dầu thực vật có nhiều polyunsaturated fat như dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu bắp ngô.. thường bị cao huyết áp hơn không dùng. Nếu phải chiên xào thì dầu dừa là an toàn nhất.

Những thức ăn và chế độ ăn uống giúp giảm huyết áp cách tự nhiên:

Chế độ ăn uống DASH (Biện pháp ăn uống ngưng chận cao huyết áp- Dietary Approach to Stop Hypertension) qua nhiều thử nghiệm lâm sàng chứng tỏ có công hiệu giảm huyết áp. Trong cuộc thử nghiệm với 459 bệnh nhân cao huyết áp , chế độ DASH giảm 11 mmHg huyết áp tâm thu và 5.5 mmHg huyết áp tâm trương sau 8 tuần. Chế độ ăn uống DASH gồm thật nhiều rau quả, một lượng hạt có dầu, hạt và đậu vừa phải, ít thực phẩm từ sữa bò, ít mỡ bảo hoà và ít tổng lượng dầu mỡ.

Chế độ ăn uống Địa Trung Hải: chủ yếu gồm rau quả, đậu, ngũ cốc, cá, dầu ô liu, ít thịt, ít sản phẩm từ sữa bò. Kết quả nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống này không giảm huyết áp nhiều bằng chế độ DASH nhưng có nhiều ích lợi khác cho bệnh tim mạch như giảm đường, giảm cholesterol trong máu.

Chỉ ăn rau quả. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy ai chỉ ăn rau quả thì ít bị cao huyết áp hơn là có ăn thịt. Ăn rau quả làm giảm huyết áp cho mọi người: người cao huyết áp lẫn người có huyết áp bình thường. (Tôi không dùng từ ăn chay vì thức ăn chay không có sản phẩm từ đông vật nhưng có thể có nhiều hoá chất làm cho thức ăn chay có vị giống thức ăn có thịt, rất độc hại)

Rau quả tươi sống: Kết quả nghiên cứu thử nghiệm cho thấy bệnh nhân cao huyết áp và nặng lý hơn trung bình (overweight) khi ăn ít nhất 40% thức ăn là rau quả sống thì huyết áp tâm trương giảm 17.5 mmHg sau 6-7 tháng. Huyết áp lên lại như cũ khi họ ăn trở lại thức ăn chín như trước (Douglass, Rasgon et al, 1985).

  •  Hành củ: 20 người cao huyết áp thử nghiệm dùng 15 phân khối nước cốt hành 2 hay 3 lần một ngày sau 2 tháng giảm trung bình 25 mmHg tâm thu và 15 mmHg tâm trương (Louira, McNally, Lasser et al, 1985). Vì vậy ăn nhiều hành, nhất là hành sống trong sà lách hay uống rượu đỏ ngâm hành đỏ có thể giúp giảm huyết áp rất công hiệu .

Tỏi cũng chứng tỏ giúp giảm huyết áp cho những người cao huyết áp trong 20 cuộc thử nghiệm tiêu chuẩn. Trung bình nó giúp giảm huyết áp tâm thu được 8.7 mmHg và huyết áp tâm trương được 6.1 mmHg (Riek, 2016).

Cháo yến mạch ( whole oats porridge) thêm vào thức ăn hằng ngày cho người cao huyết áp có tác dụng giảm huyết áp tâm thu rất đáng kể. Hơn 70 phần trăm số người ăn yến mạch có thể ngừng hoặc giảm 1/2 thuốc huyết áp (Pins, Geleva, Keeman et al, 2002).

Đậu nành: Nhiều cuộc thử nghiệm cho thấy chất đạm đậu nành hay sữa đậu nành – tiêu thụ vài lần 1 ngày – giúp giảm huyết áp những người cao huyết áp (Gaby, 2017).

Hạt flax (flaxseed): Tiêu thụ 30 gam flaxseed mỗi ngày đã giúp nhóm người cao huyết áp trong 1 cuộc nghiên cứu giảm 6-9 mmHg huyết áp (Rodriguez et al, 2013).

Dầu mè: Một cuộc thử nghiệm cho thấy ăn dầu mè (sống) sau 45 ngày giảm trung bình 10 mmHg huyết áp tâm thu và tâm trương (Gaby, 2017).

Sô cô la đen đậm: Mỗi ngày ăn chừng 6g sô cô la đen đậm có tác dụng hạ huyết áp đáng kể cho trường hợp cao huyết áp theo kết quả nghiên cứu thử nghiệm (Gaby, 2017).

– Nước dừa: Nước dừa chứa nhiều Potassium là chất có tác dụng giảm huyết áp (Alleyne et al, 2005). Nhưng nhiều potassium quá sẽ gây thiệt hại cho tim mạch, hạ huyết áp xuống dưới mức an toàn và có thể làm chết người. Trường hợp này xãy cho một người đàn ông 42 tuổi đang chơi tennis. Anh ta bị ngất, phải dùng xe cấp cứu vào vệnh viện vì anh ta uống 8 ly nước dừa trong ngày. Sau ba ngày nằm bệnh viện và nhờ máy điều hoà nhịp tim anh ta mới trở lại bình thường (UHN, 2017) . Chính vì vậy mà chỉ nên uống nước dừa chừng mực, vừa đủ ngay cả đối với người bị cao huyết áp – có thể 1-2 trái hay 1 lít một ngày uống làm nhiều lần. Nếu muốn cho chắc thì uống từ từ và theo dõi đo huyết áp khoảng 1 tiếng đồng hồ sau khi uống. Những ai có huyết áp thấp cần phải cẩn thận nhiều hơn. Theo kinh nghiệm của tôi là người có huyết áp thấp thì nên thêm 1 tí muối và nước dừa trước khi uống cho an toàn.

Chuối chứa nhiều potassium nên cũng giúp giảm huyết áp.

Cà chua chứa nhiều calcium, potassium, vitamin A, C và E và lycopene, là những chất có tác dụng giảm huyết áp.

Vitamin và chất dinh dưỡng phụ trợ:

Co-En-zim CoQ10: Kết quả nghiên cứu cho thấy những người cao huyết có mức CoQ10 trong máu thấp hơn người bình thường và khoảng một phần ba số người cao huyết áp thiếu CoQ10. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy huyết áp tâm thu của những người cao huyết áp ( trung bình 165 mmHg) chỉ còn 145 mmHg trung bình sau 12 tuần uống 60 mg CoQ10 hai lần một ngày (Burke, Nuenschwander & Olson 1999 trích dẩn trong Gaby, 2017).

Magnesium

Thiếu magnesium là một yếu tố gây nên bịnh cao huyết áp theo nghiên cứu của Resnick, Gupta và Laragh (1984). Thử nghiệm cho thấy phụ trợ magnesium có tác dụng giảm huyết áp cho nhiều người cao huyết áp. Magnesium cũng cần thiết cho sức khoẻ tim mà không có ảnh hưởng tai hại nào nên bác sĩ Gaby khuyên nên sử dụng khoảng 500 mg phụ trợ magnesium mỗi ngày. Thực phẩm có nhiều magnesium nhất gồm rau nhiều lá xanh đậm, trái bơ, hạt bì đỏ, cải spinach, rau biển, muối có màu hồng (pink salt), hạt có dầu (nuts), sô cô la đen, cá sống trong môi trường thiên nhiên (wild caught fish), cà phê.

Vitamin C là một chất chống oxy hoá rất mạnh nên có thể giảm cao huyết áp do các gốc tự do (free radicals) gây nên. Kết quả từ nhiều thử nghiệm cho thấy uống 500mg – 1000mg vitamin C trong 30 ngày có công hiệu giảm đáng kể huyết áp tâm thu (trung bình khoảng 13 mmHg) cho những nhóm người cao huyết áp (Gaby, 2017).

Dầu cá và dầu Omega 6 có tác dụng giảm độ nhớt trong máu nên có thể giúp giảm huyết áp chút ít theo kết quả thử nghiêm tác dụng của dầu cá và Omega 6 trên huyết áp.

 

Xin Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin để giúp quý bạn nắm vững tình hình hơn khi lấy quyết định liên quan đến sức khoẻ mình chứ không thay thế sự chỉ dẫn của y sĩ chăm sóc sức khoẻ của quý bạn. 

Tham khảo:

  1.  Alleyne ,T., Roache, S., Thomas, C. & Shirley, A. The control of hypertension by use of coconut water and mauby: two tropical food drinks [Abstract]. West Indian Med J.2005 Jan;54(1):3-8.
  2. Douglas, J.M, Rasgon, I.M. et al. Effects of a raw food diet on hypertension and obesity. South Med J 1985;78:841-844
  3. Gaby, A., R. Nutritional Medicine, 2nd Ed. 2017. Fritz Pelberg Publising Concord, NH
  4. Gutfield, R. Excessive lead found in water in many cities. Wall Street Journal 1992 (October 21):B7.
  5. Gay, L.P. Nonreaginic food allergy in the management of essential hypertension. J app Nutr 1959; 12(2):71-74
  6. Gay, L.P. Food allergy in internal medicine with special reference to paroxysmal tachycardia and essential hypertension. J App Nutr 1959;12(2)82-92
  7. Laragh, J.H. & Pecker, M.S. Dietary Sodium and Essential Hypertension: some myths, hopes, and truths. Ann Intern Med 1983;98:735-743
  8. Louira, D.B., McAnally, J.F., Lasser, N. et al. Onion extract in treatment of hypertension and hyperlipidemia: a preliminary communication. Curr Ther Res 1985;37:127-131
  9. Price, A.S. The role of allergy in hypertension: an experimental study. Rev Gastroenterol 1943;10:233-245
  10. Pins, J.J. Geleva, D., Keeman, J.M. et al. Do whole grain oats cereals reduce the need for hypertensive medications and improve blood pressure control? J Fam Pract 2002;51:353-359.
  11. Riek, K. Garlic lowers blood pressure in hyperintensive individuals, regulates serum cholesterol, and stimulates immunity: an updated meta-analysis and review. J Nutr Biochem 1998;9:415-419.
  12. Rodriguez-Leyva, D. et al. Potent antihypertensive action of dietary flaxseed in hypertensive patients. Hypertension 2013;62:1081-1089.
  13. UHN (2017). Coconut water disadvantages. University Health News May 2017.