Cẩm nang đánh bại Ung thư

Mặc dầu thế giới không thiếu thông tin về thành quả đánh bại ung thư bằng cách thay đổi ăn uống và sinh hoạt của hàng vạn người, ung thư vẫn được xem là bản án tử hình trên phương tiện truyền thông đại chúng. Hầu hết mọi người đều bị ảnh hưởng của truyền thông đại chúng nên không có nỗ lực chống trả ung thư nào khác ngoài hoá trị và xạ trị . Và nếu may mắn chữa trị sớm thì thoát được nhưng tỉ lệ may mắn này rất nhỏ.

Những người cố gắng đánh trả ung thư bằng cách tự nhiên như thay đổi ăn uống, sinh hoạt và dược thảo thì lại lúng túng không biết bắt đầu từ đâu, phải làm gì, và có thể làm gì. Kết quả là lo lắng, hoang mang. Nghe người nào nói có món thuốc này, món ăn nọ, món dược thảo kia trị được ung thư thì chạy cuống cuồng tìm cho được… Rồi kết quả cũng không có gì đáng mừng lắm.

Để giúp cho quý bạn và người thân quý bạn tự tin biết cách đánh bại ung thư nếu gặp phải, tôi xin tổng hợp thông tin đáng tin cậy lập thành Cẩm nang đánh bại ung thư trong 2 trang  ai cũng có thể có và dùng được. Quý bạn có thể tải cẩm nang tiếng Việt và tiếng Anh dưới dạng hồ sơ PDF như sau:

cẩm nang đánh bại ung thư  tiếng Việt

guide-to-defeating-cancer tiếng Anh

Cẩm nang này có thể dùng như 1 phương pháp tự nhiên toàn diện để đánh bại ung thư nhưng cũng có thể dùng để tăng công hiệu và giảm ảnh hưởng bất lợi do cách chữa trị Tây y gây nên. Sau đây là những cách đánh bại ung thư.

  1. Xem Ung thư là tiếng chuông cảnh tỉnh, chứ không phải là án tử hình.

Đầy là bước quan trọng nhất. Ung thư chỉ là án tử hình khi chúng ta tin như vậy. Điều này được các bác sĩ, y sĩ công nhận là đúng với các bệnh nhân ung thư do họ chữa trị. Những người xem ung thư là tiếng chuông cảnh tỉnh trái lại không ngừng cảm tạ là mình đã bi ung thư và nhờ đó cuộc sống của họ được biến đổi cách tuyệt vời.

Tại sao? Vì hiện nay người ta biết rằng mỗi ngày có hàng trăm ngàn tế bào ung thư được hình thành trong cơ thể mọi người. Phận sự của hệ thống miễn nhiễm là diệt trừ những tế bào ung thư đó. Nếu hê miễn nhiễm quá yếu không hoàn thành được công tác này thì tế bào ung thư tích luỹ càng lúc càng nhiều và kết quả là ung thư. Vì vậy, phát hiện ung thư là tiếng chuông cảnh báo cho chúng ta biết rằng mình cần phục hồi và bồi bổ hệ miễn nhiễm để nó có thể chận đứng và đảo ngược diễn trình phát triển ung thư. Ai cũng có thể làm được việc đó bằng cách tránh thức ăn độc hại, chỉ ăn thức ăn lành mạnh, nuôi dưỡng liên hệ tình cảm gia đình và xã hội lành mạnh, xây dựng tấm lòng khoan dung, nhân ái, thương yêu, một tâm tình biết ơn, và một lối sống tích cực. Chúng ta cần nhớ là mình cần phải giải quyết ung thư tận rễ – tức là không phải chỉ diệt trừ tế bào ung thư mà làm chúng không còn đường trở lại.

Tây y đúng khi bảo không có thuốc chữa ung thư. Và cũng đúng là không có bác sĩ , y sĩ nào có thể chữa trị ung thư cho bệnh nhân. Chỉ có chính bệnh nhân mới có thể chữa trị, đánh bại ung thư trong cơ thể mình bằng cách thay đổi cách ăn uống, lối sinh sống và tinh thần tình cảm. Một khi  khẵng định chỉ có mình mới có thể đánh bại ung thư và quyết tâm đánh bại nó thì sau đây là những thay đổi trong cách ăn uống và lối sống cần thiết  phải làm:

  1. Tránh thức ăn có hại, là thức ăn nuôi tế bào ung thư như đường,  thịt đỏ, sửa bò, bia rượu, thực phẩm chế biến kể cả dầu ăn thực vật chế biến như dầu canola, dầu đậu nành, dầu hột hướng dương, dầu cám gạo … và món ăn có đường kể cả đường nhân tạo, soda và thực phẩm biến đổi Gen. Các dầu thực vật tinh chế có quá nhiều omega 6 so với omega 3 gây viêm và làm yếu hệ miễn nhiễm. Dùng nhiều thực vật tinh chế là một trong những nguyên nhân gây ung thư. Tế bào ung thư sống nhờ đường và thịt chúng ta ăn vào. Ngừng ăn thịt và đường tế bào ung thư sẽ chết đói. Vì vậy đây là việc quan trọng nhất. Xin đừng nghe theo người trong gia đình và bạn thân là người vì thương mình, sợ mình không có đủ sức chống chỏi nên khuyên ép mình ăn thịt, uống sửa Ensure, ăn miếng bánh ngọt…
  2. Luôn luôn ăn bữa ăn có nhiều rau quả gồm nhiều loại để tăng cường hệ miễn nhiễm. Nếu muốn có một chế độ ăn uống rõ ràng hơn trong thời kỳ chống ung thư, chúng ta có thể dùng chế độ ăn uống mà bác sĩ Renee Wellhouse đã dùng thành công cho bệnh nhân bị ung thư của mình, được tóm gọn như sau:
    Điểm tâm: Trái cây và nước ép trái cây hữu cơ (không có dầu mở rau cải hay chất đạm)
    Ăn trưa: Rau cải ăn với dầu mở tốt như dầu ô liu nguyên chất, dầu dừa, dầu hột flax (tốt nhất là trộn đều với da ua dừa theo công thức Budwig), trái bơ. Không có chất đạm. Nguồn hữu cơ nếu được.
    Bữa ăn chiều: Chất đam gốc thực vật (như từ hạt họ đậu) cùng với rau cải . Không có chất bột và trái cây. Nguồn hữu cơ nếu được.

Sau đây là loại rau quả có tính chống ung thư có thể chọn lựa cho những ăn trên  (ít nhiều tuỳ từng loại):

  • Nấm có tính chống ung thư ở vú, bao tử, trực tràng và tiền liệt tuyến
  • Tỏi có tính chống ung thư ở da, phổi, ruột già và bao tử.
  • Quả mọng (berries) có tính chống ung thư ở da, bọng đái, phổi, ngực và thực quản.
  • Củ nghệ có tính chống ung thư ở vú, ở ruột, bao tử và da.
  • Bắp cải và rau cải có tính chống ung thư ở vú, phổi, ruột già và tiền liệt tuyến.
  • Rau có lá màu xanh đậm có tính chống ung thư ở vú, da, bao tử, miệng, thanh quản và yết hầu.
  • Ăn hay uống nước xay rau mầm hoa cải xanh (broccoli sprouts) mỗi ngày vì rau mầm hoa cải xanh chứa nhiều nhất chất chống ung thư mạnh nhất trong các loại rau cải. Xem bài rau mầm
  • Các loại hột đậu (nẩy mầm là tốt nhất) có tính chống ung thư ở miệng, bao tử, ruột già, vú và tiền liệt tuyến
  • Nho đỏ (red grapes) có tính chống ung thư ở da và vú.
  • Hạt óc chó (walnut)có tính chống ung thư vú và tiền liệt tuyến.
  • Rau cần tây (celery có tính chống ung thư ở buồng trứng, lá lách, tiền liệt tuyến, vú , gan và phổi.
  • Vỏ chanh / quýt có tính chống ung thư ở da, buồng trứng, ruộc già, vú, máu và di căn ung thư.
  • Dầu dừa nguyên chất ép lạnh (cold pressed virgin coconut oil) có tính chống ung thư vú và ung thư ruột già. Ngoài ra nên chỉ nên dùng dầu dừa để chiên xào.
  • Mỗi ngày uống những loại trà có tính chống ung thư như trà xanh, trà rễ bồ công anh, trà lá đu đủ.
  1. Biện pháp dinh dưỡng chống ung thư đặc thù.
  • Ăn dầu dừa : mỗi ngày 3-4 muỗng canh dầu dừa sẽ giúp làm teo u xơ ung thư một cách tuyệt vời. Vì dầu dừa có tính kháng ung thư rất mạnh. (Xem bài lợi ích tuyệt vời của dầu dừa )
  • Dầu hạt thì là đen (Black cumin seed oil) có tính chống tất cả các loại ung thư, nhưng đặc biệt là ung thư lá lách và ung thư ruột già. Liều lượng hữu hiệu nhất theo thử nghiệm lâm sàng là: uống 1 muỗng nhỏ (muỗng cà phê hay 5 phân khối) dầu hạt thì là đen trộn với với 1 muỗng nhỏ mật ong tươi trước bửa ăn sáng 30 phút và trước khi đi ngủ. Buổi chiều thì trộn với nước của 1 trái cam. (Tối đa 3 muỗng nhỏ một ngày đến khi hết ung thư và 1 muỗng để bảo trì sức khoẻ sau đó). Hạt thì là đen và dầu của nó còn có công hiệu điều hoà tiểu đường, huyết áp, mỡ máu và bổ dưỡng cho thận, tim, gan, hô hấp, tiêu hoá, bàng quang và hệ miễn nhiễm.
  • Qui trình dinh dưỡng Budwig. Qui trình này được Bác sĩ Budwig ở Germany nghiên cưú, và sử dụng chữa trị ung thư thành công từ thâp niên 1990, dựa trên cở sở là tế bào ung thư không thể sống trong môi trường giàu oxy: Trộn thật kỹ 1 muỗng lớn dầu hột flax (flax seed oil) với 2 muỗng lớn phó mát tươi (cottage cheese) hay 2-3 muỗng lớn gia ua dừa (coconut yogurt). Ăn hỗn hợp này 1 ngày ba lần. Hỗn hợp này giúp chữa màng tế bào để nhanh chóng đem oxy đến các tế bào trong cơ thể. Nên tiếp tục sử dụng qui trình này sau khi hết ung thư để bảo tồn năng lực.
  1. Giải toả căng thẳng tình cảm và tâm tình tiêu cực. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng tâm tình tiêu cực và căng thẳng tình cảm gây nên nhịp tim bất ổn, và thất thường làm cho cơ thể hoạt động kém hữu hiệu, rút cạn năng lực và làm hao mòn cả thân thể chúng ta. Vì vậy chúng ta cần giải toả hết tình trang giận dữ, buồn bực , nãn lòng, lo lắng, căm ghét, uất hận, cố chấp, cay đắng, hối tiếc… để cơ thể chúng ta khỏi bị suy kiệt. Chúng ta cần nhận ra mọi tâm tình tiêu cực của mình. Cân nhắc tai hại mà chúng gây ra cho sức khoẻ, hạnh phúc và mức độ vui sống của mình. Hãy cầu nguyện cho mình có can đảm nói ra những tình cảm tiêu cực này và dứt bỏ chúng. Hãy tiếp tục cầu nguyện cho đến khi không còn tâm tình tiêu cực nữa. Nếu được, chúng ta nên tìm sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè hoặc cố vấn tâm lý, tâm linh trong cuộc chiến này.
  2. Bồi dưỡng tình cảm lành mạnh, tích cực.

Kinh nghiệm sống và khoa học xác nhận rằng tâm tình lành mạnh cùng tình cảm tích cực có tác dụng làm cho nhịp tim có khuôn mẫu hoà hợp, giúp cho cơ thể hoạt động đồng điệu, điều hoà và tự chữa lành hữu hiệu hơn.

Một khi chúng ta xem ung thư là tiếng chuông cảnh tỉnh, chúng ta sẽ kiểm điểm đời sống mình, gẫm lại để điều chỉnh mục đích và ý nghĩa cuộc sống mình. Cách tôt nhất là bắt đầu và chấm dứt mỗi ngày bằng lời cầu nguyện tạ ơn Đấng Tạo hoá cho những điều tốt đẹp, ích lợi mình đã nhận được và biết ơn những lời nói, cử chỉ nhân hậu, tử tế của người khác cho mình. Kế đến là cầu xin cho mình được tràn đầy lòng thương xót, tình thương vô điều kiện, sự khoan dung tha thứ, biết cảm kích lòng tốt của người khác, và có lòng tử tế nhân từ…

8. Phơi nắng nhiều hơn để hấp thụ đủ vitamin D. Vitamin D giúp cản không cho ung thư phát triển và gây di căn nhất là đội với ung thư vú, tiền liệt tuyến, trực tràng và da.

9. Nhịn ăn 2-3 ngày mỗi tháng hoặc nhịn ăn 16 giờ ít nhất ba bốn lần một tuần (có thể là nhịn ăn sáng hoặc tối ) để cho hệ tiêu hoá ngơi nghỉ. Làm như vậy sẽ giúp cho hệ miễn nhiễm và hệ giải độc của cơ thể có thêm nhiều năng lượng và thì giờ để loại bỏ độc tố và chất thải ra khỏi cơ thể và tăng tốc độ chữa lành.

10. Tham gia sinh hoạt vận động cơ thể như bơi, đi bộ, đạp xe đạp, thể thao nhẹ 30-60 phút 3 lần 1 tuần.

 Xin lưu ý: Mục đích của cẩm nang này chỉ là phổ biến thông tin chứ không thay thế chỉ dẫn của các y sĩ chăm sóc quý vị.

Xin quý bạn tải xuống cẩm nang này ở đây:

cam nang danh bai ung thu tiếng Việt

guide to defeating cancer  tiếng Anh

Xin vui lòng phổ biến để giúp những người bị chẩn đoán ung thư và gia đình họ. Xin cảm ơn.

Tài liệu Tham khảo:

Black Cumin Center. Black Cumin Cancer Protocol. https://www.blackcumincenter.com/black-cumin-protocol.html

Bollinger, T. & Scholberg. A. (2012). The 31-day Home Cancer Cure . Online Publishing & Marketing, LLC.

Chacko, M. Thambi, P.T. & Nishigaki (2010) Beneficial effects of green tea: A literature review. Chin Med. 2010: 5: 13

Clark, I. (2014). Black Cumin Seed oil: Ultimate Life Elixir . https://www.activationproducts.com/blog/black-cumin-healing/

Cousineau, F. & Scholberg, F. (2014). Cancer Breakthrough USA! Little-known American clinics that turn around even “hopeless ” cancer cases. Published by Online Publishing & Marketing, LLC.

Desaulniers, V. (2016). 7 Essentials system. https://breastcancerconqueror.com/about/7-essentials/

HeartMath (2018) . The Science of HeartMath. Article made available by HeartMath LLC. https://www.heartmath.com/science/

Jocker, D. (2016) Benefits of Epsom Salt Baths: A Powerful (and Cheap!) Detoxifier https://thetruthaboutcancer.com/benefits-epsom-salt-baths/

Michaels, B. (2014). The Gift of Cancer: A miraculous Journey to healing. Skyhorse Publishing.

Otsuki, N . et al. Aqueous extract of Carica papaya leaves exhibits anti-tumor activity and immunomodulatory effects. J Ethnophatmacol. 2010 Feb 17;127(3):760-7/ doi:10.1016/j.jep.2009.11.024. Epub 2009 Dec 2.

Ovadje, P., Ammar, S. & Pandey, S. Dandelion root extract affects colorectal cancer proliferation and survival through the activation of multiple death signaling pathways. Oncotarget. 2016 Nov 8: 7(45): 73080-73100.

Robins, O. (2018). Eat to Defeat Cancer: 10 Superfoods that nourish every cell. Food Revolution NetWork.

Wang, L. et al (2014). Anticancer activities of citrus peel Polymethoxyflavones related to angiogenesis and others. BioMed Research International Volume 2014, Article ID 453972. http:dx.doi.org/10.1155/2014/453972

Chế độ ăn uống chữa dứt bịnh tiểu đường

Tóm lược: Bịnh tiểu đường xãy ra khi lá lách mất khả năng sản xuất hoc môn insulin hay khi đường trong máu cao hơn mức an toàn trong khi lượng insulin cao. Bịnh tiểu đường nếu không kiểm soát có thể làm người bịnh bị đột quy, suy tim mạch, mờ mắt, suy thận, suy gan, loạn thần kinh . Số người bị bệnh tiểu đường ngày càng tăng với tốc độ gấp đôi trong vòng 20 năm. Bệnh tiểu đường giảm tuổi thọ từ 10 đến 20 năm. Tây y chỉ có thuốc giảm triệu chứng và phải uống suốt đời nên tuyên bố là bịnh tiểu đường không có thuốc chữa. Tuy nhiên vì nguyên nhân của bệnh tiểu đường là do chế độ ăn uống không lành mạnh, tình hình tinh thần căng thẳng và thiếu vận động nên y học tự nhiên có thể được chữa dứt bịnh tiểu đường bằng ba cách. Cách thứ nhất là hạn chế  ăn uống . Cách thứ hai là chế độ ăn uống lành mạnh chứa nhiều dầu dừa. Cách thứ ba là ăn uống lành mạnh và tăng vận động cơ thể. Hai cách đầu có thể chỉ cần từ 11 ngày đến 8 tuần. Cách thứ ba có thể cần 1 -2 năm. Cả ba cách đều được khoa học kiểm chứng và giải thích với bằng chứng thử nghiệm lâm sàng.

Sơ lược bệnh tiểu đường

Chúng ta bị bệnh tiểu đường khi máu chúng ta có quá nhiều đường trong khi các tế bào trong cơ thể thì đói đường. Vì thiếu đường để sản xuất năng lượng nên người bệnh tiểu đường nhẹ thì thấy mệt mỏi, yếu sức, tiểu tiện thường xuyên hoặc nặng thì chóng mặt, nhức đầu, đổ mồ hôi, run rẩy, khó thở và có thể bất tỉnh (nếu quá nặng). Nếu lượng đường trong máu cứ tiếp tục cao lâu ngày sẽ sinh ra những biến chứng trầm trọng như nghẽn mạch máu tim (coronary heart diseases) đột quỵ (stroke), mờ mắt (retinopathy), suy thận, suy gan, xơ gan, loạn thần kinh (neuropathy), suy tuyến giáp trạng (hypothyroidism) và nhiễm trùng thận, bàng quang, chân, da trầm trọng (Diabetes NZ, 2016). Càng ngày càng nhiều người bị tiểu đường khắp thế giới. Năm 2010, các chuyên gia y tế tiên đoán số người bị tiểu đường sẽ tăng từ 285 triệu lên 439 triệu vào năm 2030 (Shaw et al., 2010).

Có hai loại bệnh tiểu đường. Loại thứ nhất xãy ra khi lá lách bị hư hại không sản xuất được hoc môn insulin để đưa đường vào các tế bào.

Loại thứ hai xãy ra khi các tế bào không tiếp thu được đường vì chúng có tính đề kháng insulin (insulin resistance) hay mất nhạy ứng insulin (insulin insensitity), nghĩa là các tế bào vẫn không nhận đủ đường mặc dầu lượng insulin rất cao trong máu.

Cách Tây y chữa bịnh tiểu đường:

Giảm đường trong máu bằng cách truyền insulin cho bịnh loại 1.

Trị tiểu đường loại 2 bằng cách – giảm đề kháng insulin như metformin và glitazones, hoặc – kích thích lá lách tăng sản xuất insulin trong bữa ăn như sulfonylureas and meglitinides, hoặc – kích thích sản xuất insulin sau bữa ăn như gliuptins hoặc giảm mức hấp thụ đường trong đường tiêu hoá như acarbose hoặc – tăng lượng đường trong nước tiểu như gliflozins (Netdoctor, n.d.)

Biến chứng thường gặp của những thuốc này là buồn nôn, tiêu chảy, ăn không ngon miệng và mất khẩu vị, hạ đường trong máu tới mức quá thấp, bón, lên cân, sưng chân, suy tim, sưng mắt cá, no hơi, suy gan,suy thận, viêm lá lách, nhiễm trùng đường tiểu (Diabetes.co.uk, n.d.; Netdoctor, n.d.; Apotex, 2015).

Theo Tây y thì bịnh nhân tiểu đường phải uống những thứ thuốc đó suốt đời để kiểm soát lượng đưòng trong máu. Vì vậy, hầu hết các bác sĩ tuyên bố rằng không có thuốc chữa lành bịnh tiểu đường tức là bịnh tiểu đường không thuốc chữa. Theo thống kê năm 2010 ở Anh thì trung bình bịnh tiểu đường loại một giảm tuổi thọ người bịnh 20 năm và loại hai 10 năm (Diabetes, n.d., 2). Đáng tiếc là bịnh nhân phần lớn tin lời bác sĩ của mình và không tin rằng có phương pháp nào khác có thể chữa lành bịnh tiểu đường. Kết quả là họ không tìm và không tin những liệu pháp tự nhiên.

Cang nhiều Bác sĩ tây y quan tâm đến y học tự nhiên

Dầu vậy cũng có nhiều bác sĩ tây y chịu khó nghiên cứu và tìm những liệu pháp tự nhiên để chữa bịnh tiểu đường. Chẳng hạn Bác sĩ Alec Burton ở Úc, bác sĩ Golhamer ở Mỹ, Bác sĩ Jason Fung ở Canada nằm trong số bác sĩ tây y dẫn đầu trong việc áp dụng chế độ ăn uống và thay đổi sinh hoạt để chữa lành bịnh cao huyết áp và tiều đường.

Bác sĩ Jason Fung, chuyên khoa về thận, sau một thời gian hành nghề nhận thấy thuốc tây không chữa được bệnh thận vì bệnh thận chủ yếu phát sinh từ tiểu đường, một bệnh bắt nguồn từ chế độ ăn uống và sinh hoạt. Muốn trị bịnh tiểu đường vì vậy phải thay đổi để có chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh. Kết quả thử nghiệm lâm sàng và trải nghiệm thực tế là bằng chứng. Sau khi chú tâm nghiên cứu phương pháp thay đổi chế độ ăn uống để trị bịnh tiểu đường cùng bịnh suy thận, bác sĩ Fung đạt nhiều thành quả (Fung & Moore, 2016).

Biện pháp tự nhiên giúp cơ thể trị dứt bịnh tiểu đường

Sau đây là những chế độ ăn uống và sinh hoạt đã giúp chữa lành bịnh tiểu đường . Xin lưu ý là cơ thể tự chữa lành bịnh tiểu đường khi nó có điều kiện và môi trường thích hợp. Liêu pháp thay đổi chế độ ăn uống và sinh hoạt nào giúp cho cơ thể có điều kiện và môi trường thích hợp để chữa lành bịnh tiểu đường là liệu pháp hữu hiệu.

1. Ăn ít đi hay hạn chế ăn uống còn 1 phần tư mức bình thường trong vài tuần.

Nhiều cuộc nghiên cứu thử nghiệm và thực nghiệm lâm sàng cho thấy bịnh tiểu đường biến mất sau một vài tuần lễ khi người bệnh giảm lượng calories thức ăn nước uống còn 25% mức bình thường – khoảng 500-600 calories một ngày. Thời gian hạn chế ăn uống có thể chỉ có 11 ngày (Doughty, 2013) và nhiều lắm là 8 tuần theo thử nghiệm nghiên cứu do Giáo sư Taylor điều hợp tại Đại học Newcastle (Newcastle University, 2015). Chế độ ăn uống hạn chế cũng có công hiệu chữa lành bịnh tiểu đường cho giới trẻ (Gow et al, 2017). Chế độ ăn uống giới hạn này gồm nước uống (diet shakes) và 200 calories từ rau cải không bột. Kết quả nghiên cứu trình bày tại Hội nghị Bệnh Tiểu đường Hoa kỳ cho thấy bệnh nhân nào có thể hạn chế lượng calories tiêu thụ ở mức thật thấp thì có thể loại bỏ lớp mỡ trong lá lách giúp cho lá lách phục hồi khả năng sản xuất insulin bình thường (Newcastle University, 2015). Không những vậy thôi, khi cơ thể phải dùng mỡ để sản xuất năng lượng trong các tế bào thì các tế bào giảm tính đề kháng insulin hay tăng nhạy ứng insulin (Cahill, 2006). Những thay đổi này giúp cơ thể không còn bịnh tiểu đường nữa (xin xem lại bài nhịn ăn).

Hạn chế ăn uống bao gồm cả những cách nhịn ăn. Theo những người dùng chế độ hạn chế lượng calorie xuống 5-600 một ngày thì ngày nào họ cũng phải chống chọi đói cồn cào (Doughty, 2013). Trong khi đó những người nhịn ăn hoàn toàn và chỉ uống nước chỉ phải chống chọi cơn đói cồn cào trong ngày đầu bằng nước uống thôi. Qua ngày thứ 2 hay thứ 3 thì không còn thấy đói nữa (Fung & Moore, 2016).

Bỏ bữa ăn sáng hay ăn tối đồng thời ăn ít đi trong 2 bữa kia cũng là cách hạn chế ăn uống có hiệu quả chữa lành bịnh tiểu đường mà không cần phải giảm calories xuống mức 5-600 mỗi ngày. Lý do là khi bỏ bữa ăn sáng hay bữa ăn tối thì cơ thể có cơ hội phải dùng mỡ trong người làm nhiên liệu giúp loại bỏ mỡ ở lá lách và giúp cho các tế bào nhạy ứng hơn với insulin. (Fung & Moore, 2016).

Điều cần lưu ý là khi hạn chế ăn uống rồi trở lại ăn uống bình thường, chúng ta phải ăn uống lành mạnh và tập cơ thể vận động đều đều thì bịnh mới không tái phát. Ăn uống lành mạnh là tránh những thúc ăn chứa đường, tránh thức ăn chế biến, ăn nhiều và đủ thứ rau quả tươi, ăn ít thịt cá, tránh dùng dầu thực vật để chiên xào ngoại trừ dầu dừa và ăn thức ăn chứa dầu mỡ tốt như dầu ô liu, dầu flaxseed hay linseed, dầu dừa, các loại hột có dầu sống như mè, hột óc chó, hột hạnh nhân.

2. Chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa (loại dừa tươi ép lạnh – cold pressed virgin coconut oil)

Học viện nghiên cứu y khoa Garvan tại Úc khám phá là chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa bảo vệ tính nhạy ứng insulin bình thường của các tế bào trong cơ thể và làm giảm mỡ (giảm cân) cho những người có nhiều mỡ. Nói cách khác, chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa giúp cơ thể chữa lành bịnh tiểu đường (Turner, 2009). Theo TS Turner, sỡ dĩ dầu dừa có tác dụng này vì dầu dừa là một loại mỡ có chuổi a-xit mỡ tầm trung (medium chain fatty acids), có kích cở nhỏ đủ để vào thẳng tiểu thể (mitochondria) – nhà máy năng lượng – của các tế bào. Sự kiện này không khác gì trường hợp các tế bào phải dùng mỡ làm nhiên liệu trong lúc nhịn ăn theo nghiên cứu của Cahill ( 2006), nghĩa là làm các tế bào tăng nhạy ứng hay giảm tính đề kháng insulin – dẫn đến tác dụng chấm dứt bệnh tiểu đường.

TS Turner còn giải thích: Khi ăn nhiều mỡ, cơ thể cố gắng bù chỉnh (compensate) bằng cách tăng khả năng oxit hoá mỡ. Chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa có tác dụng gia tăng khả năng oxit hoá ở bắp thịt hơn là các loại dầu mỡ khác làm giảm mỡ chứa trong bắp thịt và cải thiện tác dụng của insulin.

Nhiều người đã làm chứng là nhờ theo chế độ ăn uống nhiều dầu dừa (ít nhất 3 muỗng canh hay 50 – 60 phân khối chia ra làm 3 lần một ngày) họ đã hết bịnh tiểu đường trong vòng 1-2 tháng (Shilharvy, 2012; Coconutoil.com).

Dầu dừa có thể uống thẳng nếu không chê mùi dầu, hoặc thay bơ trét bánh mì , hoặc dùng để chiên rau cải, hoặc trộn vào canh hay xà lách. Dĩ nhiên ngoài dầu dừa, chúng ta cũng cần ăn uống lành mạnh, nhất là giảm thiểu thức ăn ngọt cũng như thức chế biến và ăn nhiều đủ thứ rau quả địa phương.

3. Ăn uống lành mạnh, giải toả căng thẳng và vận động thân thể.

Phương pháp này chậm hơn 2 cách trên nên cần nhiều thời gian hơn nhưng cuối cùng cũng sẽ giúp cơ thể chữa lành cả hai loại bịnh tiểu đường (Mercola, 2013).

Ăn uống lành mạnh đơn giản không có gì phức tạp. Chúng ta chỉ cần nhớ ăn thật nhiều thức ăn chưa chế biến, thức ăn lên men, thât nhiều rau quả tươi, rau thơm, và tránh ăn đường, mỡ tinh lọc, mỡ biến chất và thức ăn bột chế biến khi có thể tránh được và uống đủ nước lọc. Ăn uống lành mạnh cũng có nghĩa là ăn uống từ từ, nhai thật kỹ trước khi nuốt, không ăn nhiều quá, và ăn trong khung cảnh nghỉ ngơi, thư dãn.

Những cách vận động thích hợp giúp chống bệnh tiểu đường cũng đơn giản như đi bộ, chạy bộ, bơi lội, chơi thể thao, thái cực quyền, hít đất, tập tạ nhẹ, leo dốc… Những động tác vận động này cùng với cách thở sâu và chậm sẽ giúp giải toả tình trạng căng thẳng trong cơ thể,

Xin lưu ý:

1. Nếu đang uống thuốc tiểu đường thì  cứ tiếp tục uống thuốc nhưng cần thông báo cho bác sĩ gia đình biết trước khi theo một trong ba chế độ ăn uống trên để bác sĩ theo dõi và giảm liều thuốc khi lượng đường trong máu hạ dần.

2. Nếu theo chế độ hạn chế ăn uống hoặc nhịn ăn, chúng ta cần giảm ăn trước một ngày và ăn lại từ từ sau khi xong.

3. Bài viết này có mục đích duy nhất là cung cấp thông tin giúp quý bạn nắm vững thông tin hơn để cân nhắc trước khi lấy những quyết định liên quan đến sức khoẻ mình và vì vậy không thay thế ý kiến và sự chĩ dẫn của những y sĩ chăm sóc quý bạn

Tham khảo:

Apotex NZ Ltd (2015). Metformin [Datasheet].

Cahill, G. F. Fuel Metabolism in Starvation. Annu. Rev. Nutr. 2006. 26:1–22 doi: 10.1146/annurev.nutr.26.061505.111258 Diabetes.co.uk (n.d.) Diabetic medication side effects.

Doughty, R. I reversed my diabetes in just 11 days – by going on a starvation diet. Daily Mail Australia. 6 August 2013

Fung, J. & Moore, J. (2016) The complete guide to fasting. Published in 2016 by Victory Belt Publishing, Las Vegas.

Gow, M.L., Baur, L.A., Johnson, N.A., Cowell, C.T., & Garnett, S.P. Reversal of type 2 diabetes in youth who adhere to a very-low-energy diet: a pilot study. Diabetologia. 2017 Mar;60(3):406-415. doi: 10.1007/s00125-016-4163-5.

Lim, E.L., Hollingsworth, K.G., Aribisala, B.S., Chen, M.J., Mathers, J.C. &Taylor, R. Reversal of type 2 diabetes: normalisation of beta cell function in association with decreased pancreas and liver triacylglycerol. Diabetologia. DOI 10.1007/s00125-011-2204-7

Mercola (2016). Diabetes Remission possible with diet, exercise. Mercola – Take Control Of Your Health Netdoctor (n.d.) Oral treatment to control blood glucose. http://www.netdoctor.co.uk

Newcastle University (2015). Diet reverses diabetes. Press release 8 October 2015

Shaw JE, Sicree RA, Zimmet PZ (2010). Global estimates of the prevalence of diabetes for 2010 and 2030. Diabetes Res. Clin. Pract. 87:4-14

Shilhavy, B. (2016) Virgin coconut oil effective in treating diabetes. Health Impact News.

Turner, N. (2009). How coconut oil could help reduce symptoms of type 2 diabetes. Media release. Garvan Institute of Medical Research. Media release 08 September 2009.

Nhịn ăn là cách giúp cơ thể tẩy độc và chữa bịnh mãn tính cách tuyệt vời mà không tốn tiền

Tóm lược: Nhịn ăn là biện pháp được các tôn giáo sử dụng từ thuở xa xưa để tịnh dưỡng cơ thể và bồi dưỡng tâm linh. Lợi ích của sự nhịn ăn đối với sức khoẻ được lưu ý hàng ngàn năm nhưng gần đây hầu như bị thất truyền. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học gần đây đã xác nhận là nhịn ăn rất có lợi cho sức khoẻ, không những giúp cơ thể tẩy độc hữu hiệu mà còn giúp hồi xuân, lấy lại nhạy ứng với insulin, cải thiện hệ miễn nhiễm, phòng chống bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, thoái hoá thần kinh, viêm khớp kinh niên, ung thư, mập mỡ, cao mỡ và cholesterol và những bệnh “miễn nhiễm tự tác” (auto immune disease). Dầu vậy các lợi ích đó chỉ được duy trì bằng chế độ ăn uống lành mạnh sau đó. Nhịn ăn là việc ai cũng làm được mặc dầu ngày đầu phải chống chọi cơn đói. Nhịn ăn đứt khoảng mỗi ngày 16-18 tiếng đồng hồ trong vài ba tuần cũng có hiệu quả như nhịn ăn liên tục 10 ngày. Xen kẻ cứ một ngày nhịn ăn với một ngày ăn bình thường trong 3-4 tuần cũng có hiệu quả như vậy. Dùng chế độ ăn uống bắt chước nhịn ăn trong 5 ngày cũng có hiệu quả làm chậm già và tăng tuổi thọ nếu không dám  nhịn ăn. Nhịn ăn không phải một lần là đủ nhưng cần lập lại hàng năm hoặc hằng tháng, hoặc hằng tuần tuỳ theo thời gian nhịn ăn dài hay ngắn. Nhịn ăn không an toàn cho phụ nữ mang thai, mẹ đang cho con bú, trẻ em và người gầy ốm. Những người bịnh (nhất là bịnh tiểu đường) nên hỏi ý kiến và nhờ bác sĩ theo dõi trong thời gian nhịn ăn. Quan trọng là sau khi nhịn ăn, chế độ ăn uống phải lành mạnh thì hiệu quả mới vững bền. Nghĩa là cần ăn rau quả nhiều, bớt ăn thịt, tránh đường và thức ăn chế biến, nhất là thức ăn làm bằng bột trắng.

Sơ lược lịch sử nhịn ăn

Nhịn ăn được sử dụng hàng ngàn năm nay để thân thể nghỉ ngơi tạo điều kiện thích hợp cho sự cầu nguyện và thăng tiến tâm linh. Lợi ích của việc nhịn ăn đối với sức khoẻ không được nói đến trong Kinh thánh và sách tôn giáo khác nhưng đã được lưu ý từ ngàn năm nay. Từ 400 trước công nguyên Hippocrates, cha đẻ y học tây phương, đã nói: ” Ăn khi bịnh là nuôi bịnh”. Plutarch, một triết gia và học giả Hy lạp đầu thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, cũng khuyên: “Thay vì uống thuốc thì nhịn ăn một ngày” (greekmedicine.net). Dầu vậy từ gần nữa thế kỹ nay nhịn ăn không được phổ biến như một biện pháp chữa bịnh. Trái lại chúng ta thường nghĩ rằng khi bịnh thì cơ thề cần nhiều chất dinh dưỡng hơn để chống bịnh và mau phục hồi. Vì vậy chúng ta thường cố ăn, và ép con cháu mình ăn khi bịnh mặc dầu cơ thể đã cảnh báo là không nên ăn khi bịnh bằng cách làm cho cơ thể mất cảm giác thèm ăn và có khi phải nôn ói sau khi ăn. Ngoài ra nhịn ăn trị bịnh đi ngược chiêu bài quảng cáo của các công ty thực phẩm và dược phẩm (Fung & Moore, 2016)

Kết quả nghiên cứu về nhịn ăn:

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học gần đây đã xác nhận nhịn ăn rất có lợi cho sức khoẻ. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhịn ăn tạo điều kiện cho tế bào cơ thể giảm thiệt hại của diễn trình oxy hoá và viêm, tối ưu hoá diễn trình chuyển hoá năng lượng, và tăng cường hệ đề kháng. Thử nghiệm cho thấy nhịn ăn giúp bảo vệ thú vật tránh bệnh tiểu đường, ung thư, tim mạch và thoái hoá thần kinh, sống lâu hơn. Trong khi đó nhịn ăn giúp người giảm mập phì, cao huyết áp, suyển, phong thấp / thấp khớp, làm chậm tiến trình lão hoá , những bịnh mãn tính (Longo & Mattson, 2014) và giảm cơ nguy ung thư (Varady & Hellerstein, 2011).

Nhịn ăn không chữa bịnh nhưng tạo điều kiện cho cơ thể dễ dàng thu gom và loại bỏ tất cả những chất thải từ qui trình chuyển hoá, là chất độc gây bịnh mà cơ thể chưa có dịp loại bỏ vì quá bận rộn chuyển hoá thức ăn mỗi ngày. Nói cách khác nhịn ăn là tạo cho cơ thể cơ hội loại bỏ ra ngoài chứng ngại vật cản trở sự chữa lành. Khi có cơ hội này cơ thể tự chữa lành rất nhanh. (Gustafson & Goldhamer, 2014).

 Những thay đổi trong cơ thể khi nhịn ăn:

Cách đáp ứng nhu cầu năng lượng.

Khi ăn chúng ta thu nhiều năng lượng hơn cần dùng ngay lúc đó. Cơ thể sản xuất hoc môn insulin để đưa năng lượng từ chất đạm (protein) và chất ngọt (carbohydates) vào tế bào và kho tồn trữ. Kho tồn trữ thứ nhất là kho đường glucogen trong gan. Kho này có khả năng giới hạn. Khi gan không còn chổ chứa glucogen nữa thì năng lượng dư thừa được gan biến thành mỡ (triglycerides), một phần chứa trong gan và còn lại thành lớp mỡ trên người.

Khi nhịn ăn, mức insulin giảm đi, báo hiệu cơ thể bắt đầu phải dùng năng lượng trong kho, trước hết là kho đường glucogen rồi đến kho mỡ. Kho glucogen trong gan thường đủ để dùng khoảng 24 tiếng đồng hồ. Sau khi dùng hết glucogen thì gan bắt đầu chế đường từ chất đạm. Giai đoạn này gọi là “chế đường mới” (Gluconeogenesis) diễn ra từ 24 đến 48 tiếng đồng hồ sau khi nhịn ăn. Từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3 sau khi nhịn ăn, mức insulin thấp thúc đẩy diển trình phân hoá chất mỡ (lipolysis) thành axít mỡ và glycerol. Glycerol được dùng để chế đường từ mỡ còn axit mỡ thì được hầu hết tế bào cơ thể dùng làm năng lượng. Cơ thể cũng dùng axit mỡ để sản xuất vật thể ketone cho não bộ sử dụng làm nguồn năng lượng. Sau 4 ngày nhịn ăn thì vât thể ketone cung cấp 75 % năng lượng cho não bộ. Nhịn ăn tăng hoc môn phát triển (Human growth hormone) nên cơ bắp và mô tế bào không có mỡ (lean tissues) được bảo toàn chứ không bị teo (Cahill, 2006 trích dẫn trong Fung & Moore, 2016).

 Cải thiện hệ miễn nhiễm

Nhịn ăn tăng khả năng cho hệ miễn nhiễm  kiểm soát  tín hiệu gây viêm (inflammatory cytokines) và dị ứng (Faris et al; Vasconcelos et al; Aksungar, Topkaya &Akyildiz ; Kohno, Kouda et al; trích dẫn trong Jockers, 2016).

 Kích thích diễn trình tự dọn sạch tế bào (cellular autophagy). Nhịn ăn tạo điều kiện kích thích cơ thể phân huỷ các tế bào già, hư hại và các tế bào phát triển bất thường để tái sử dụng sản xuất năng lượng. Nhịn ăn vì thế ngăn cản nhiễm khuẩn và sự lây lan ký sinh trùng nội bào. Nó giúp cơ thể loại trừ mầm gây bịnh từ bên trong tế bào cũng như sự phát triển bất thường của tế bào ung thư (Jockers, n.d.) Diễn trình này cũng giúp bảo vệ tế bào não và tế bào mô tránh phát triển bất thường, nhiễm độc và viêm mãn tính (Alirezaei at al, 2010).

 Cải thiện cơ chế chữa lành gen:

Kết quả các cuộc thử nghiệm chứng tỏ các tế bào sống lâu hơn khi thiếu thức ăn và đói. Nhịn ăn vì vậy làm tăng diễn trình hồi xuân tế bào qua một số cơ chế chữa lành gen vì sửa chữa tốn ít năng lượng hơn là tạo tế bào mới. Khi không có thức ăn nhiều, cơ thể bảo tồn năng lượng bằng cách giảm việc phân chia tế bào. Tình trạng này ngăn cản không cho tế bào ung thư lan rộng. Hoc môn chủ yếu kiểm soát công tác sữa chữa tế bào này là hoc môn phát triển nhân thể (HGH – Human growth Hormone) (Jockers, n.d.) Nhịn ăn kích thích cơ thể sản suất hoc môn HGH. Một nghiên cứu thử nghiệm năm 1992 cho thấy mức HGH hoc môn tăng gấp 5 lần sau 2 ngày nhịn ăn (Fung & Moore, 2016). Mức hoc môn phát triển này thấp thì cơ thể chóng già. Ngược lại nhịn ăn làm tăng nhiều HGH sẽ làm cơ thể chậm già. Tăng mức HGH hoc mon cũng kích thích cơ thể dùng mỡ làm năng lượng, do đó vừa giảm mỡ vừa ổn định mức đường trong máu (Fung & Moore, 2016).

 Giảm lượng hoc môn insulin và tăng nhạy ứng insulin

Trong giai đoạn đầu nhịn ăn, lượng đường và insulin trong máu giảm nhưng vẫn nằm trong tầm mức bình thường nhờ sử dụng kho đường glucogen và diễn biến “tạo đường mới”. Sau khi dùng hết kho đường glucogen thì cơ thể chuyển sang dùng mỡ làm nhiên liệu. Nhịn ăn càng lâu thì mức insulin càng giảm nhiều. Mức insulin thấp thường xuyên sẽ làm cho cơ thể nhạy ứng hơn với insulin. Khi cơ thể nhạy ứng với insulin thì sẽ không cần nhiều insulin khi chúng ta ăn. Giảm nhu cầu insulin giúp cho cơ thể giảm tình trạng viêm nhiệt và tăng lượng hoc môn phát triển HGH. Tình trạng đối nghich là khi cơ thể không còn nhạy ứng với insulin, gọi là tình trạng “đề kháng insulin”. Khi cơ thể ở trong tình trạng ” đề kháng insulin” cao thì sinh ra nhiều vấn đề, trước hết là chứng tiểu đường kế đến là bịnh tim mạch, tai biến mãch máu não, bịnh mất trí nhớ Alzheimers, cao cholesterol, cao huyết áp, mập phì vùng bụng (abdominal obesisty), gan mỡ (fatty liver), hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome), bịnh gút, xơ vữa động mạch (atherosclerosis), bịnh trào hơi lên thực quản (gastroesophageal reflux) và ung thư (Fung & Moore, 2016). Vì vậy nhịn ăn có thể giúp cải thiện sức khoẻ toàn diện bằng cách giúp cơ thể tăng tình trạng nhạy ứng insulin.

Nhịn ăn cải thiện triệu chứng bịnh “miễn nhiễm tự hại” (auto immune disease) như systemic lupus (ban đỏ khắp thân), viêm khớp kinh niên (rheumatoid arthritis), viêm đại tràng (colitis) va bịnh viêm đường ruột (Crohn’s disease) (Varady & Hellerstein, 2007).

Phòng chống hữu hiệu ung thư tiền liệt tuyến (prostrate cancer) và ung thư vú vì nhịn ăn làm cho các tế bào ung thư chết đói chỉ chờ huỷ diệt (Buschemeyer et al, 2010; Rogozina et al, 2013).

Giúp phòng và trị bịnh tiểu đường. Mặc dầu chưa có thử nghiệm lâm sàng lớn để xác định công hiệu của việc nhịn ăn đối với bịnh tiểu đường, một số nghiên cứu và bằng chứng lâm sàng cho thấy nhịn ăn giúp nhiều người bị tiểu đường giảm lượng đường trong máu xuống mức bình thường mà không cần thuốc nữa. Một cuộc nghiên cứu quan sát cho thấy bệnh nhân tiểu đường khi nhịn ăn nên được bác sĩ theo dõi điều chỉnh liều thuốc uống và chế độ ăn uống để tránh tình trạng mức đường trong máu xuống quá thấp (hypoglycaemia) hoặc lên quá cao (hyperglycaemia) (Noon et al, 2016).

Bác sĩ Jason Fung, chuyên khoa về thận, sau một thời gian hành nghề nhận thấy thuốc tây không chữa được bệnh thận vì bệnh thận chủ yếu phát sinh từ tiểu đường. Bệnh tiểu đường lại bắt nguồn từ chế độ ăn uống. Chuyển qua nghiên cứu chế độ ăn uống trị tiểu đường , BS Fung khám phá nhịn ăn là cách tốt nhất để chữa bịnh tiểu đường, bệnh mập phì (thường đi đôi với tiẻu đường) và bệnh thận. Qua chương trình Quản lý ăn uống cao độ (intensive dietary management) BD Fung đã giúp bệnh nhân tiểu đường không còn bị tiểu đường nữa sau vài tháng nhịn ăn đứt khoảng và điều chỉnh chế độ ăn uống. Những bịnh nhân suy thận cũng trở lại bình thường (Fung & Moore, 2016; IDM testimonials).

Nhịn ăn giảm huyết áp cho những người cao huyết áp.

Thực nghiệm lâm sàng tại một trung tâm y tế ở California cho thấy các bịnh nhân cao huyết áp (174 người) và tiền cao huyết áp (68 người) giảm huyết áp đến độ không còn cần uống thuốc huyết áp nữa sau khi được chữa trị bằng nhịn ăn chỉ uống nước. Thời gian chữa trị trung bình kéo 22-23 ngày, gồm 2-3 ngày chuẩn bị chỉ ăn uống rau quả, 10-13 ngày nhịn ăn và 6-7 ngày ăn lại chủ yếu rau quả, ít mỡ và ít muối. Huyết áp ban đầu càng cao thì càng giảm nhiều. Nhóm người có huyết áp trên 180/110 mmHg thì trung bình huyết áp giảm đi 60/17 mmHg và tiếp tục cải thiện sau khi chữa trị (Goldhamer et al, 2001; Goldhamer et al, 2002).

Nhịn ăn cải thiện trí nhớ, tăng khả năng chú tâm và làm tinh thần sáng suốt.

Chưa có cuộc nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng nào được thực hiện để đo lường lợi ích của việc nhịn ăn đối với những người bị suy sụp trí nhớ (Alzheimer’s). Tuy nhiên thử nghiệm trên động vật cho thấy nhịn ăn giúp chúng cải thiện trí nhớ, khả năng học hỏi, và điều hợp động tác. Nhịn ăn đứt khoảng cũng giảm tình trạng thoái hoá thần kinh và các triệu chứng bịnh Alzheimer’s, Parkinson’s và Huntington’s (bịnh chết tế bào não) cho những thú vật trong những cuộc nghiên cứu này (Longo & Mattson, 2014). Những người đã nhịn ăn cũng xác nhận đầu óc họ nhẹ nhàng hơn, tinh thần họ sáng suốt hơn, có thể chú tâm hơn và nhớ nhiều hơn (Fung & Moore, 2016).

Nhịn ăn giảm mỡ máu và cholesterol

Nhịn ăn sau vài ngày, cơ thể phải dùng mỡ làm nhiên liệu năng lượng. Kết quả là lượng mỡ và cholesterol trong máu sẽ giảm. Một cuộc thử nghiệm trên 10 người mập phì cho thấy sau khi nhịn ăn xen kẻ 8 tuần lễ, lượng cholestrol LDP (xấu) và mỡ (triglycerides) trong máu giảm 25% và 32% (Bhutani, Klempel, Berger & Varady, 2010).

 Nhịn ăn giảm đau viêm khớp mãn tính (rheumatoid arthritis)

Trong cuộc khảo sát kinh nghiệm của 742 người bị viêm khớp mãn tính do Haugen và đồng nghiệp thực hiện năm 1991, 15 phần trăm bệnh nhân trải qua một lần nhịn ăn. 2 phần 3 trong số người này báo cáo là họ bớt đau, bớt cứng khớp và 50 % báo cáo là khớp xương bớt sưng.

Sau khi đọc báo cáo đó, Cô Diana, một bệnh nhân bị viêm thấp khớp nhiều năm, nghiên cứu tác dụng của biện pháp nhịn ăn và áp dụng 11 ngày nhịn ăn chỉ uống nước rau quả. Cô giữ nhật ký và ghi lại rằng từ ngày thứ 3 cô thấy bàn chân trái bớt sưng, và lần đầu tiên sau nhiều năm cô có thể đi bộ xa hơn. Từ ngày thứ tư cô hết thèm ăn, nhưng thấy dồi dào sức hơn, bắt đầu muốn bỏ ra vài ngày rong chơi. Cảm giác đau, sưng, viêm đều giảm đi. Sau 11 ngày cô không còn thấy đau đớn như trước nữa. Trái lại cô cảm thấy thật là khoẻ khoắn với tinh thần minh mẫn, tự tin và có thể tập trung khi cần. (Nhật ký của Diana).

Nhịn ăn như thế nào

Nhịn ăn là tự nguyện không ăn gì cả. Ngày nào chúng ta cũng nhịn ăn khi ngủ. Tuy nhiên, nhịn ăn chỉ uống nước vì lý do sức khoẻ thường từ 16 giờ tới cả tháng trong khung cảnh ngơi nghỉ. Ba cách nhịn ăn thông thường nhất là nhịn ăn đứt khoảng (intermittent fasting), nhịn ăn xen kẻ (alternate-day fasting) và nhịn ăn liên tục (block fasting) từ 1 ngày đến 40 ngày hoặc dài hơn.

Nhịn ăn đứt khoảng là nhịn ăn chỉ uống nước lọc mỗi ngày 16-23 tiếng đồng hồ, rồi ăn lại bình thường nhưng đầy chất bổ dưỡng và lành mạnh trong 1-8 tiếng đồng hồ còn lại. Phương pháp nhịn ăn này dễ thực hiện, có thể tuần nào cũng nhịn ăn đứt khoảng 2-3 ngày hoặc ngày nào cũng nhịn ăn như vậy trong nhiều tuần. Phương pháp này cho cơ thể thì giờ thực hiện chức năng tẩy độc và chữa bịnh khoảng 4-11 tiếng đồng hồ 1 ngày.

Nhịn ăn xen kẻ là nhịn ăn một ngày 24 giờ rồi ăn lại một ngày 24 tiếng và có thể kéo dài theo ý muốn.

Nhịn ăn liên tục thường kéo dài ít nhất 3 ngày và có nhiều người kéo dài nhịn ăn đến 40 ngày hoặc hơn.

Thay vì chỉ uống nước khi nhịn ăn, nhiều người thay thế nước bằng nước rau quả hay nước xương (bone broth). Cũng có người dùng chế độ ăn uống bắt chước nhịn ăn (fasting mimicking diet) trong thời gian nhịn ăn. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống này cũng có hiệu quả giống như nhịn ăn thật sự, nhất là thích hợp cho người già và những người sợ cảm giác đói (Mercola, 2017). Chế độ ăn uống này dùng nhiều dầu mỡ tốt và giới hạn lượng đạm và đường và kéo dài 5 ngày. Ngày thứ nhất cho phép 1.090 calories gồm 10% đạm, 56% dầu mỡ, và 44% hy drat cac bon (carbohydrate). Ngày thứ 2 đến thứ 7 giới hạn 725 calories gồm 9% đạm, 44 % dầu mỡ và 47% carbohydrate (Knapton, 2017).

Thận trọng cần có:

Vì nhịn ăn có thể không an toàn trong nhiều trường hợp, lời khuyên của các chuyên gia về nhịn ăn là trước khi nhịn ăn, chúng ta cần hỏi ý kiến, hay báo cho bác sĩ để họ theo dõi và giúp chúng ta khi có vấn để được an toàn. Và nhịn ăn không an toàn cho phụ nữ có thai, những người mẹ đang cho con bú, người gầy ốm và trẻ em.

Cần lưu ý là nhịn ăn không phải chỉ giúp cơ thể chữa lành bịnh và hồi xuân mà còn cần thiết để phòng chống bịnh tật và duy trì sức khoẻ. Vì thế cần nhịn ăn đều đặn hằng năm, hoặc mỗi sáu tháng hoặc mỗi ba tháng, hoặc mỗi tháng hoặc mỗi tuần tùy theo thời gian nhịn ăn. Chẵng hạn, nếu chỉ nhịn ăn 1 ngày 24 tiếng thì có thể mỗi tuần nhịn ăn một ngày. Chu kỳ này rất hợp với lời dạy trong Kinh thánh là chỉ nên làm việc 6 ngày rồi nghỉ ngơi hoàn toàn 1 ngày để hướng về Thiên Chúa và cầu nguyện nhận linh lực từ Thiên Chúa.

Xin lưu ý: Bài viết này có mục đích duy nhất là cung cấp thông tin giúp quý bạn nắm vững thông tin để cân nhắc trước khi lấy những quyết định liên quan đến sức khoẻ mình và vì vậy không thay thế ý kiến và sự chĩ dẫn của những y sĩ chăm sóc quý bạn.

 

Tham khảo:

Alirezaei, M., Kemball. C.C. et al Short term fasting induces profound neuronal autophagy. Autophagy. 2010;6(6):702-710.

Bhutani, S., Klempel, M.C., Berger, R.A., & Varady, K.A. Improvements in coronary heart disease risk indicators by alternate-day fasting involve adipose tissue modulations. Obesity (Silver Spring). 2010 Nov;18(11):2152-9. doi: 10.1038/oby.2010.54. Epub 2010 Mar 18.

Buschemeyer, W. C., Klink, J. C., Mavropoulos, J.C., Poulton, S.H., Demark-Wahnefried, W., Hursting, S.D., Cohen, P., Hwang, D., Johnson, T.L., Freedland S.J. Effect of intermittent fasting with or without caloric restriction on prostate cancer growth and survival in SCID mice. Prostate. 2010 Jul 1;70(10):1037-43. PMID: 20166128

Cahill, G. F. Fuel Metabolism in Starvation. Annu. Rev. Nutr. 2006. 26:1–22 doi: 10.1146/annurev.nutr.26.061505.111258

Gustafson, G. & Goldhamer, A.: Water Fasting – The clinical Effectiveness of Rebooting Your Body. Integrative Moldhamertedicine. Vol. 13, No. 3- June 2014.

Goldhamer, A.C., Lisle, D.J., Sultana, O., Anderson, S.V., Parpia, B. Hughes, B. & Campbell, T.C. (2002). Medically Supervised Water-Only Fasting in the Treatment of Borderline Hypertension. The Journal of Alternative and Complementary Medicine. Volume 8, Number 5, 2002, pp. 643–650

Goldhamer, A., Lisle, D., Parpia, B., & Campbell, T.C. Medically supervised water-only fasting in the treatment of hypertension. J Manipulative Physiol Ther. 2001 Jun;24(5):335-9

Haugen M., Kjeldsen-Kragh, J.,  Nordvå, B.Y. Diet and disease symptoms in rheumatic diseases — Results of a questionnaire based survey. Clinical Rheumatology. December 1991, Volume 10, Issue 4, pp 401-407

Jockers, D. (n.d.) 5 Healing Benefits of Intermittent fasting. DrJockers.com URL: http://drjockers.com/5-healing-benefits-of-intermittent-fasting/

Knapton, S. Five day fasting diet slows down ageing and may add years to life. The Telegraph. 5 September 2017. http://www.telegraph.co.uk/news/science/science-news/11683736/Five-day-fasting-diet-slows-down-ageing-and-may-add-years-to-life.html

Longo, V.D. & Mattson, M.P. Fasting: Molecular Mechanisms and Clinical Applications. Cell Metab. 2014 February 4; 19(2): 181-192. doi:10.1016/j.cmet.2013.12.008

Mercola (2017). How a fasting mimicking diet can help you live longer. http://articles.mercola.com/sites/articles/archive/2017/07/23/fasting-mimicking-diet.aspx

Noon, M.J., Khawaja, H.A., et al. Fasting with diabetes: a prospective observational study. BMJ Global Health. DOI: 10.1136/bmjgh-2015-000009 Published 8 September 2016.

Omodei, D. & Fontana, L. Calorie restriction and prevention of age-associated chronic disease. FEBS Lett. 2011 Jun 6; 585(11): 1537–1542

Rogozina, O.P., Nkhata, K.J., Nagle, E.J., Grande, J.P., Cleary, M.P. The Protective Effect of Intermittent Calorie Restriction on Mammary Tumourgenesis is Not Compromised by Consumption of a High Fat Diet During Refeeding. Breast cancer research and treatment. 2013;138(2):395-406.

Varady, K. A. & Hellerstein, M. K. Alternate-day fasting and chronic disease prevention: a review of human and animal trials. Am J Clin Nutr 2007;86:7–13