Triệu chứng thiếu Can-xi (Calcium)

Can-xi hay Calcium là khoáng chất có khối lượng lớn nhất trong cơ thể (khoảng 1,4 kilo). 99% calcium của cơ thể nằm trong xương và răng. Tuy nhiên 1% calcium còn lại nằm bên trong các tế bào cơ thể và  trong máu, bạch huyết (lymph) và lưu chất trong cơ thể (body fluids). Phần calcium này tuy nhỏ nhưng đóng vai trò rất thiết yếu trong việc điều hợp hoạt động cơ thể, từ diễn trình đông máu đến vận động cơ bắp, khởi động các enzymes và nhiều quy trình vi bào (cellular processes) trong cơ thể. Cơ thể cần Calcium để kiểm soát lượng magnesium, phốt pho và potassium trong máu . Những khoáng chất này làm việc với nhau để giữ cân bằng với nhau. Vì vậy cần nên tránh tình trạng thiếu calcium cũng như thiếu magnesium và postassium.

Cơ thể thường cần hấp thụ mỗi ngày 1 gram calcium nguyên chất (elemental) mỗi ngày. Tuy nhiên đàn bà trên 50 tuổi và đàn ông trên 70 tuổi cần nhiều hơn, trung bình 1.2 gram calcium nguyên chất một ngày..

Thiếu calcium lâu dài có thể gây những triêu chứng sau đây :

  • Xương dòn, yếu, dễ gãy vì chứng loãng xương.
  • Rối loạn đông máu
  • Yếu sức và mệt mõi.
  • Co giật cơ bắp (muscle spasm) và chuột rút
  • Cảm giác tê hoặc bị kim đâm chich (feeling pins and needles)
  • Dễ cáu gắt
  • Trẻ em chậm lớn và chậm pháp triễn.
  • Cao huyết áp và nhịp tim bất thường
  • Trầm cảm, rối trí và hay quên

Nguyên nhân thiếu calcium trong máu

  • Ăn uống thức ăn không có đủ calcium – thường xãy ra cho những người ăn rau cải mà thiếu sản phẩm sữa có nhiều calcium.
  • Calcium không được hấp thụ đúng mức hoặc bị thất thoát vì
    • Thiếu vitamin D
    • Ăn uống nhiều thức ăn uống có chất caffeine
    • Ăn uống thức ăn có calcium cùng với thức ăn có axit oxalic. Axit oxalic ngăn cản không cho calcium hấp thụ vào cơ thể khiến calcium bị thải ra với phân. Những thức ăn có axit oxalic gồm  cây đại hoàng (rhubarb), củ cải beet, rau cần tây (celery), cà tím, và trái cây như dâu tây, trái việt quất (blueberries), trái mâm xôi (blackberries), trái lý gai (gooseberries), hạt có dầu như đâu phụng, hạt pecans (nuts) và thức uống như cacoa, trà, Ovaltine.
    • Nhiều magnesium và zinc tiêu thụ cùng lúc tiêu thụ calcium hoặc thức ăn chứa calcium.
    • Hệ tiêu hoá và lá lách bị bịnh như viêm lá lách, viêm đường ruột, xơ nang (cystic fibrosis)
    • Uống thuốc tây có ảnh hưởng giảm mức hấp thụ calcium. Điển hình là thuốc trị ợ hơi hay lỡ loét thuộc loại ức chê bơm proton (pump inhibitors) như Prilosec [omeprazole], Prevacid , Nexium [esomeprazole] và thuốc  phenytoin, phenobarbital, rifampin, corticosteroids
  • Thay đổi hoc môn – thường xãy ra cho phụ nữ sau mãn kinh.
  • Yếu thận làm giảm khả năng thu hồi calcium.
  • Ăn quá nhiều chất đam như thịt hoặc nhiều muối làm cho cơ thể tăng mức thải calcium.

Phương cách bồi bổ và tránh thiếu hụt calcium

Chúng ta có thể và nên phòng chống tình trạng thiếu calcium bằng cách bao gồm thức ăn chứa nhiều calcium trong chế độ ăn uống của mình.

Thức ăn giàu calcium gốm:

  • Thực phẩm gốc sữa bò như phó mat, sữa bò, và sữa chua
    • Rau màu xanh đậm như hoa cải xanh (broccoli) và cải xoăn (kale), rau cải ngọt, rau dền, okra.
    • Đâu phụ và đậu ve
    • Hạt vừng (mè), hạt hạnh nhân (almonds)
    • Trái sung (vả) khô (dried figs0
    • Yến mạch (oats)
    • Cá trạch, cá hồi , cá trích, cá mòi

(http://soha.vn/8-thuc-pham-giau-canxi-nhat-an-hang-ngay-se-khoi-can-uong-thuoc-20160712180740561.htm)

Tuy nhiên chúng ta phải để ý tránh những yếu tố làm giảm khả năng hấp thụ calcium kể trên. Chẳng hạn như

  • không uống thuốc tây có hại cho việc hấp thụ calcium trong vòng 2 tiếng đồng hồ trước và sau bữa ăn có calcium.
  • Không ăn thức ăn nhiều calcium cùng một lúc với rau quả có axit oxalic và axit phytic như cần tây,  dâu tây, đậu phộng…
  • Tránh uống magnesium và zinc gần bữa ăn có nhiều calcium.
  • Tránh ăn quá nhiều thịt và thức ăn mặn.

Trong khi đó chúng ta cần phơi nắng hay uống vitamin D cho đủ để tăng khả năng hấp thụ calcium. Lượng vitamin D cần có cho người trên 50 tuổi là 800-1000 đơn vị quốc tế (UI) mỗi ngày.

Đối với chứng bịnh loãng xương, chỉ thêm calcium trong chế độ ăn uống không đủ để làm xương bớt loãng. Xin xem “ cách trị bệnh loãng xương tự nhiên”

Bổ sung Calcium (Calcium supplements)

Ngay cả khi chúng ta có chế độ ăn uống lành mạnh, cân bằng, chúng ta vẫn thấy khó hấp thụ đủ calcium, nhất là khi chúng ta

  • chỉ ăn rau quả,
  • bị loãng xương,
  • không chịu được lactose trong sữa,
  • phải uống thuốc tây corticosteroids dài hạn.
  • Bị rối loạn viêm đường ruột, bệnh celiac (không chịu được thức ăn có gluten nhất là trong lúa mì)

Trong những trường hợp này, thuốc bổ sung calcium có thể giúp chúng ta hấp thụ đủ calcium. Chúng ta nên hỏi ý kiến của bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để biết có nên uống thuốc bổ sung calcium hay không và nên uống loại nào, bao nhiêu và thế nào uống thế nào.

Thiếu calcium trong máu gây triệu chứng bịnh, nhưng nhiều calcium quá trong máu cũng có thể gây nguy hiểm cho sức khoẻ. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy dùng thuốc bổ sung calcium làm mức calcium trong máu vọt lên cao thình lình có thể có hại cho tim. Nhiều calcium quá trong máu cũng có thể tạo mãng mỡ trên thành mạch máu, làm cứng mạch máu và có thể làm đứng tim (heart attacks) hay gây đột quỵ (strokes). Một số nghiên cứu khác nếu lên nguy cơ ung thư tiền liêt tuyến lien hệ đến calcium cao trong máu. Vì vậy hấp thụ thụ calcium qua chế độ ăn uống là tốt nhất.

Nếu cần phải uống thuốc bổ sung calcium thì nên uống liều thấp mỗi lần. Có 4 loại thông dụng sau đây:

  • Calcium carbonate (40 % là calcium nguyên chất)
  • Calcium citrate (21% là calcium nguyên chất)
  • Calcium gluconate (9 % là calcium nguyên chất)
  • Calcium lactate (13 % là calcium nguyên chất)

Phản ứng phụ bất lợi

Không phải tất cả các loại thuốc bổ sung trên đều thích hợp cho mọi người. Phản ứng phụ không nhiều nhưng cũng có thể gồm táo bón, no hơi, buồn nôn đối với một số người. Calcium carbonate là loại bổ sung rẽ nhất nhưng cũng thường gây táo bón nhất. Chúng ta phải thử mới biết thứ nào hợp nhất cho mình.

Phản ứng với thuốc trị bịnh

Ngoài ra thuốc bổ sung calcium có thể phản ứng với những thuốc tậy chúng ta đang uống, nhất là thuốc huyết áp, thuốc trị tuyến giáp trạng, trụ sinh ,.. Vì vậy nên hỏi ý dược sĩ hay bác sĩ trước khi dùng thuốc bổ sung calcium.X

Xin Lưu ý: Bài này chỉ có mục đích thong tin chứ không chỉ cách trị bệnh.

Tham khảo:

Gropper S.S. & Smith, J.L. (2013)  Advanced Nutrition and Human Metabolism. International Edition (6th edition). WADSWORTH CENGAGE Learning. Canada

Khan, A. and Ana Gotter, A (2018). Hypocalcemia (Calcium deficiency Diseases). Healthline. https://www.healthline.com/health/calcium-deficiency-disease

Levy, J, (2018). Calcium deficiency. Are supplements the answer? https://draxe.com/calcium-deficiency/

Lewis JL III. (n.d.). Hypocalcemia (low level of calcium in the blood). 
merckmanuals.com/home/hormonal-and-metabolic-disorders/electrolyte-balance/hypocalcemia-low-level-of-calcium-in-the-blood

Mayo Clinic Staff. (2018) Calcium and calcium supplements: Achieving the right balance

https://www.mayoclinic.org/healthy-lifestyle/nutrition-and-healthy-eating/in-depth/calcium-supplements/art-20047097

Whitbread, D. (2019). 10 top foods highest in calcium. Myfooddata

https://www.myfooddata.com/articles/foods-high-in-calcium.php

T

Bệnh Loãng xương (Osteoporosis)

Phân nửa giới nữ và một phần tư nam giới trên 50 tuổi bị gãy xương vì bịnh loãng xương. 20 phần trăm người bị gãy xương mông chết trong vòng 1 năm và một phần ba thì không còn tự lo cho mình được nữa.

Chúng ta có thể phòng ngừa chứng loãng xương bằng cách ăn uống đầy đủ thức ăn có can–xi, vitamin D (hay hằng ngày phơi nắng đủ), rau quả, thức ăn chứa nhiều potassium, magnesium, chất đạm, vitamin C và vitamin K suốt cả đời từ lúc còn trẻ. Đổng thời chúng ta cần giới hạn tiêu thụ nước ngọt (chai hay hộp) / cà fê  và cần tập thể dục chịu nặng và tăng cường cơ bắp đều đều.

Nếu bị loãng xương thì ngoài cách ăn uống và sinh hoạt trên, chúng ta cần phải

  • Tái tạo cơ cấu căn bản của xương và sụn bằng thuốc bổ sung chứa glucosamine, chondroitin, MSM, Collagen, Gelatin, and Hyaluronic Acid
  • Làm cho xương mạnh khoẻ lại bằng cách bồi dưỡng xương với những chất dinh dưỡng  thiết yếu như  calcium, magnesium, vitamin D, Vitamin K2,  bô ron, strontium
  • Giảm đau và viêm để giúp xương chữa lành nhanh chóng và dễ dàng hơn bằng cách mỗi ngày bổ sung dầu cá hoặc dầu cây gai (hempseed) chứa nhiều ô-mê ga 3, uống trà xanh Matcha, ăn 1 nắm hạt thì là (fennel seeds), dầu dừa, nghệ, gừng, tỏi, ớt và
    • tránh uống rượu, tránh ăn đường, tránh thức ăn nhất là thịt biến chế, tránh dầu ăn thực vật (ngoại trừ dầu dừa).
  1. Sơ lược bệnh

“Bệnh loãng xương, hay còn gọi là bệnh giòn xương hoặc xốp xương, là hiện tượng xương liên tục mỏng dần và mật độ chất trong xương ngày càng thưa dần, điều này khiến xương giòn hơn, dễ tổn thương và dễ bị gãy dù chỉ bị chấn thương nhẹ.”

“Xương là một cơ quan luôn trong trạng thái liên tục đổi mới, xương mới sẽ liên tục được tạo ra và xương cũ bị phá vỡ. Khi còn trẻ, cơ thể tạo ra xương mới nhanh hơn, do đó khối lượng xương sẽ tăng lên. Hầu hết mọi người đạt được khối lượng xương cao nhất vào khoảng năm 20 tuổi. Khi lớn tuổi, khối lượng xương bị mất đi nhanh hơn được tạo ra, từ đó gây nên bệnh loãng xương.” (Nguồn: https://www.vinmec.com/vi/benh/loang-xuong-3027/)

Hình dưới đây cho thấy cấu trúc xương bình thường (hình 1 từ trái), xương loãng (hình 2 từ trái), lưng bình thường (hình 3) và lưng người loãng xương (hình 4)

Cơ cấu xương bình thường và xương bị loãng
Bình thường Loãng xương

(Nguồn: https://www.life-saving-naturalcures-and-naturalremedies.com/natural-cures-for-osteoporosis.html

B.  Triệu chứng:

Không nên coi thường chứng loãng xương vì một khi xương yếu và gãy thì gay go mới phục hồi và chữa trị được.Gãy xương hoặc phẩu thuật để chỉnh lại, có  thể gây biến chứng nguy hiểm cho tánh mạng và gây tật nguyền vĩnh viễn. Xương bị gãy có thể giới hạn khả năng di chuyển, sinh hoạt và gây tuyệt vọng, sầu khổ cho mình và cho người thân.

Một khi bị loãng xương thì sau đây là những triệu chứng thường gặp nhất

  • Nứt hoăc gãy xương, nhất là xương ở mông, cột sống và cổ tay. Xương chân, đầu gối và nơi khác trong cơ thể cũng có thể bị ảnh hưởng. (5)
  • Thấy khó khăn, bị giới hạn trong việc đi lại và sinh hoạt hằng ngày. Người già bị gãy xương cần có người chăm sóc lâu dài.
  • Đau xương, có khi đau thường xuyên và đau gắt, dữ dội.
  • Lùn đi, teo người lại
  • Khòm lưng vì cột sống yếu đi.
  • Có cảm giác cô đơn hay trầm cảm.
  • Dễ tử vong hơn bình thường. Khoảng 20 phần trăm người lớn tuổi bị gãy xương mông chết trong vòng 1 năm.

C. Nguyên Nhân

Bệnh loãng xương do nhiều yếu tố gây nên. Những nguyên nhân chính gồm

  • Lối sống sinh hoạt không hợp lý, ít vận động
  • Tuổi già
  • Có chế độ ăn uống thiếu dinh dưỡng nhất là những chất cần thiết cho sức khoẻ xương như canxi, phốt pho và vitamin D, K.
  • Giới tính: nữ giới có nguy cơ mắc bệnh loãng xương nhiều hơn nam giới (vì qua tuổi mãn kinh, lượng hoc môn estrogen cần thiết cho xương phát triển suy giảm nhanh chóng). Khi thiếu estrogen thì xương bị huỷ  nhiều hơn xương mới tạo.
  • Lượng canxi tạo xương lúc trẻ không được bổ sung đầy đủ. Khi về già, cùng với sự lão hóa, quá trình tạo xương giảm xuống và quá trình hủy xương diễn ra nhanh, mạnh khiến cho mật độ xương giảm sút, làm cho xương giòn và yếu, giảm sức chịu lực và dễ gãy hơn.”
  • Từng bị những bịnh như bịnh tự miễn, bịnh phổi, yếu gan, yếu thận.
  • Thiếu vitamin D lâu dài.
  • Dùng dài hạn một số thuốc tây có phản ứng hại cho xương như

– loại thuốc ức chế bơm proton dung để chữa no hơi, ợ chua, lở bao tử (omeprazole, lansoprazole, rabeprazole, esomeprazole, Prilosec, Prevacid, Dexilent, aspirin, Nexium, Zegerid, Naproxen,

– loại thuốc SSRIs trị trầm cảm (antidepressants) như Citalopram, Escitalopram, Fluoxetine, Fluvoxamine, Paroxetine, Sertraline.

– Loại thuốc ức chế aromatase (dung để trị ung thư vú bằng cách ức chế qui trình chuyển androgen thành estrogen) như letrozole, anastrozole, testolactone, exemestane.

– Loại thuốc trị hiếm muộn, trị rối loạn hóc môn

– Loại thuốc chống động kinh và

– Thuốc steroids như glucocorticoids or corticosteroids.

  • Bị căng thẳng tình cảm và trầm cảm cao độ.
  • Sút cân với chế độ ăn uống giới hạn khắt khe gây thiếu dinh dưỡng.

Những bệnh gây nguy cơ loãng xương có thể nêu lên là

  • Ung thư vú hay tiền liệt tuyến
  • Tiểu đường
  • Bệnh tuyến giáp trạng (Hyperparathyroidism or hyperthyroidism)
  • Hội chứng Cushing (do cơ thể tạo quá nhiều hoc môn cortisol)
  • Viêm ruột
  • Bệnh tự miễn như phong thấp (RA) , sài lang (lupus), đa xơ cứng (MS), viêm cột sống (ankylosing spondylitis)
  • Bịnh Parkinson
  • Phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), kể cả khí thủng (emphysema)
  • Hư thận mãn tính (chronic kidney disease)
  • Bệnh gan, kể cả xơ gan (cirrhosis)
  • Thay nội tạng


D. Phòng ngừa và chữa trị.

  • Tây y chữa trị bệnh loãng xương bằng những loại thuốc giúp cản qui trình huỷ xương như Bisphosphonates, Thuốc Ức chế Rank Ligand. Tây y cũng khuyên thay đổi chế độ ăn uống và tăng thể dục. Tuy nhiên những thuốc tây là hổn hợp nhân tạo (synthetic) này có phản ứng rất tai hại. Chúng có thể tăng tỉ trọng xương làm xương đặc hơn với thành phần hư hoại đáng phải huỷ chứ không phải loại xương mới lành mạnh. Vì vậy một trong những phản ứng phụ gồm cả tăng nguy cơ gãy xương. Những phản ứng tai hại khác còn tệ hại hơn là gây ung thư thực quản, loạn nhịp tim..
  • Liệu pháp tự nhiên:

Loãng xương là kết quả của một tiến trình lâu năm nên cũng không có cách chữa trị nhanh chóng. Tuy nhiên, khi áp dụng triệt để liệu pháp tự nhiên mỗi ngày, chúng ta có thể thấy dễ chịu một cách đáng để ý sau 3-4 tuần. Còn muốn hết hẵn thường cần 1 năm hoạc lâu hơn.

Liệu pháp tự nhiên gồm ba phần:

Thứ nhất là tái tạo cơ sở cấu trúc xương và xương sụn. Cơ sở cấu trúc xương (bone matrix) là nền tảng của xương giống như nền nhà. Xương sụn là phần bảo vệ xương khoi bị hư mòn vì va xát. Chúng ta cần thuốc bổ sung chứa glucosamine, chondroitin, MSM, Collagen, Gelatin, and Hyaluronic Acid để tái tạo cơ sở cấu trúc xương đã bị thoái hoá .

Tất cả những thứ này đều cần thiết để tái tạo cấu trúc cơ bản cho xương và sụn.. Chondroitin và axit hyaluronic có vai trò then chốt làm trơn khớp và cơ bắp. Chúng ta phải kiên trì uống những chất dinh dưỡng đó, không bỏ ngày nào. Nhưng cũng phải cẩn thận chọn nguồn cung cấp có chất lượng và đang tin tưởng. Thường thường tiền nào của nấy, nhưng nên đọc phản hồi của những người tiêu dùng trước khi chọn thuốc bổ sung. 

 Kế đó, quý bạn nên nấu và tiêu thụ nước hầm xương mỗi ngày. Nước xương hầm (bone broth) chứa đầy tất cả những thành phần cơ bản xây dựng  xương, khớp và mô nối kết. Nó chứa mọi chất dinh dưỡng cần có để chữa trị ( hay đảo ngược) chứng loãng xương. Hầm xương bò, xương heo, xương gà, xương cừu hay xương cá trong ít nhất 4-6 tiếng đồng hồ  là có được nước hầm xương ngon lành, bổ dưỡng cho xương.

Thứ hai là phải làm cho xương mạnh khoẻ trở lại bằng cách bồi bổ chúng với những chất dinh dưỡng xương thiết yếu như can xi, magnesium, bô ron, vitamin D, strontium và vitamin K. Can xi chiếm 70 % trọng lượng xương, nhưng không phải là chất dinh dưỡng quan trọng nhất cho xương. Hơn nữa nhiều can xi quá có thể tăng nguy cơ đột quỵ và đứng tim (strokes và heart attacks). Cấu tạo xương gồm hàng tá khoáng chất, chúng hoà hợp với nhau tạo nên xương mạnh mẽ. Calcium, magnesium, boron và strontium là 4 khoáng chất chủ yếu, nhưng còn nhiều khoáng chất khác với lượng nhỏ nhưng không kém quan trọng. Cần uống liều lượng thích hợp mới bảo đảm hấp thụ đầy đủ. Vitamin D và vitamin K2 cũng cực kỳ thiết yếu. Thiếu hai vitamin này thì không khoáng chất nào có thể tới xương và dính ở đó.

Calcium: Tốt nhất  là chọn coral calcium loại tốt có thêm vitamin D.

Magnesium tốt nhất là loại magnesium lỏng trong bình có thể xịt lên da bụng, chân và cánh tay mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần xịt 10-15 lần mỗi chổ.

Bô ron: Có thể bổ sung bằng thuốc bổ sung bô ron. Hàn the (borax) có chứa boron , Nhưng có nhiều quan điểm khác nhau về tai hại của hàn the cho sức khoẻ, nên chỉ dùng borax nếu được y sĩ bảo đảm an toàn.

Strontum có bán dưới dạng thuốc bổ sung. Liều lượng 680 mg 1 ngày trong 1 thử nghiệm lâm sàng cho thấy có công hiệu giảm hơn 40% nguy cơ gãy xương. Hiệu Doctor’s Best Strontium bone maker được nhiều người ưa chuộng.

Vitamin D: Cần 8.000-10.000 UI mỗi ngày mới đủ để trị loãng xương.

Vitamin K2: Có thể trước tiên dùng thuốc bổ sung probiotics nhưng vitamin K có nhiều trong thức ăn lên men nên cố ăn uống nhiều thức ăn lên men, như kim chi, cải chua muối, natto, sửa chua.

Thứ ba là phải giảm đau và viêm để qui trình chữa lành xương không bị ngăn trở bằng cách mỗi ngày bổ sung

  • dầu cá hoặc dầu cây gai (hempseed) chứa nhiều ô-mê ga 3,
  • uống trà xanh Matcha: Trà xanh Matcha chứa rất nhiều chất chống oxyt hoá, nhiều gấp 17 lần blueberries và 7 lần nhiều hơn so co la đậm (dark chocolate). Người Nhật dùng trà xanh, nhất là Trà xanh Matcha, và đậu nành lên men Natto là nhóm người ít bị loãng xương và gãy xương nhất thế giới.
  • ăn 1 nắm hạt thì là (fennel seeds). Hạt thì là có tính chất chống viêm và chống oxit hoá rất mạnh. Thêm vào đó hạt thì là chứa nhiều can xi, magnesium và những khoáng chất chất cần cho xương.
  • dung dầu dừa thay cho dầu ăn. Dầu dừa chứa axit lauric có tính chống viêm và chống đau rất hay. Dầu dừa cũng giúp cơ thể tang hấp thụ can xi và magnesium. Nó lại còn giúp đảo ngược chứng loãng xương do thiếu hoc mon estrogen gây ra nên rất hợp cho giới nữ. Ngoài ra hợp  chất chống oxy hoá của dầu dừa giúp bảo tồn cơ cấu của xương và phòng ngừa tình trạng huỷ xương do tình trạng thay đổi hoc môn gây ra. Xin nhớ là chỉ nên dung dầu dừa hữu cơ nguyên chất (organic virgin coconut oil).
  • dùng nghệ, gừng, tỏi, ớt trong thức ăn. Đây là những loại thức ăn gia vị tự nhiên chống viêm, chống oxit hoá rất tốt.

Tránh uống rượu, tránh ăn đường, tránh thức ăn nhất là thịt biến chế, tránh dầu ăn thực vật (ngoại trừ dầu dừa) cũng cần thiết để tránh cho cơ thể không bị thêm viêm và đau.

Lưu ý: Bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay ý kiến y sĩ.

Tham khảo

Goldschmidt, V. (2016) Top 5 Reasons Why You Should Never Take Osteoporosis Drugs. SaveInstitute. https://saveourbones.com/top-5-reasons-why-you-should-never-take-osteoporosis-drugs/#

Gropper S.S. & Smith, J.L. (2013)  Advanced Nutrition and Human Metabolism. International Edition (6th edition). WADSWORTH CENGAGE Learning. Canada

Levy, J. (2018). Osteoporosis Treatment and 7 natural ways to boost bone density. https://draxe.com/osteoporosis-treatment/

Sawyer, T. (2019). Best Natural Treatments for Osteoporosis & Bone Loss… https://www.life-saving-naturalcures-and-naturalremedies.com/natural-cures-for-osteoporosis.html

Triệu chứng thiếu Magnesium

Thiếu magnesium liên hệ đến nhiều bịnh mãn tính thông thường như chuột rút, cao huyết áp, yếu tim, mất ngủ, đau cơ bắp, nhức đầu, lo âu, trầm cảm, loảng xương, mệt mỏi, viêm mãn tính, đau kinh nguyệt… Vì magnesium là một trong những khoáng chất quan trọng nhất trong cơ thể. Người ta ước lượng 80 phần trăm dân chúng thế giới có mức magnesium thấp. Hầu hết chúng ta đều có thể bị thiếu magnesium mà không biết vì chỉ 1  phần trăm magnesium trong cơ thể nằm trong máu (Martin, 2017) nên thử máu không cho biết mình có thiếu magnesium.  Bồi dưỡng mức magnesium cho cơ thể vì thế giúp cơ thể khoẻ ra rất nhanh chóng.

Vai trò của Magnesium

Theo Bác sĩ Normon Shealy, một bác sĩ giải phẩu thần kinh và người tiên phong trong thuốc trị đau, “ Mọi bịnh tật mà chúng ta biết đều liên hệ đến tỉnh trạng thiếu magnesium mà  liệu pháp cho nhiều bịnh lại thiếu nó.”

Không phải magnesium chỉ cần thiết để giúp đìều phối calcium, potassium và sodium, nó giúp duy trì các tế bào trong trạng thái lành mạnh và nó thiết yếu cho hơn 300 chức năng sinh hoá trong cơ thể. Ngay cả  glutathione là chất chống oxit hoá mạnh nhất của cơ thể cũng cần magnesium mới hình thành được. Rất tiếc là ít người ý thức được tình trạng này , và hang triệu người chịu khổ hang ngày vì thiếu magnesium mà không biết.  

Thật ra, có hơn 600 phản ứng trong cơ thể cần có magnesium , kể cả các diễn trình  (de Baaij et al, 2015)

  • Tạo năng lượng: bằng cách giúp biến đổi thức ăn thành năng lượng 
  • Tạo chất đạm mới từ axit amino.
  • Bảo trì gen bằng cách giúp tạo gen và sữa chữa DNA và RNA
  • Điều hoà chuyển động cơ bắp trong nhu cầu co thắt và thư giản cơ bắp.
  • Điều hợp hệ thống thần kinh: Điều hợp tín hiệu thần kinh khắp não bộ và hệ thần kinh.

Nguyên do làm cho chúng ta thiếu magnesium bao gồm tình trạng đất nông nghiệp mất dần magnesium, kỹ thuật đổi gen (GMO) trong nông nghiệp, hệ tiêu hoá suy yếu, bịnh mãn tính và các thuốc trị bịnh. Tất cả ba yếu tố sau cùng làm giảm khả năng hấp thụ magnesium của cơ thể.

Những người có vấn đề tiêu hoá, tiểu đường, ghiền rượu và những người lớn tuổi thường có nguy cơ thiếu magnesium lớn hơn bình thường.

Triệu chứng thiếu magnesium gồm:

1. Chân bị  chuột rút.

70% người lớn và 7% trẻ em thường bị chuột rút. Vì magnesium có vai trò then chốt trong việc truyền tín hiệu não cơ bắp và sự co giản bắp thịt nên thiếu magnesium thường là nguyên dân gây nên tình trạng này. (12). Để khỏi bị đau vì chuột rút và hội chứng chân bồn chồn bứt rứt, chúng ta có thể cần tăng tiêu thụ magnesium và potassium dưới dạng phụ trợ và thức ăn thích hợp.

2. Mất ngủ:

Magnesium có vai trò làm dịu trí óc và thư giản cơ bắp nên thiếu magnesium thường gây nên bịnh mất ngủ và bứt rứt (Abbasi et al, 2012)

Uống khoảng 400 mg magnesium chelate hoặc xoa bóp sau cổ bằng dầu hay kem magnesium chloride trước khi đi ngủ có thể giúp ngủ dễ hơn.

3. Đau cơ bắp

Kết quả một công trình nghiên cứu đăng trên báo Magnesium Research cho thấy magnesium giúp giảm đau cơ bắp cho những người bị đau cơ nhiều nơi trên cơ thể (fibromyalgia).(4)

4. Lo âu (Anxiety) và trầm cảm (depression)

Công trình nghiên cứu do Sartori dẫn đầu năm 2012 xác định thiếu magnesium gây ra lo âu. Nếu bị chứng lo âu hoặc trầm cảm thường xuyên, chúng ta uống magnesium mỗi ngày sẽ thấy bình tỉnh bớt lo lắng và thấy lạc quan hơn (Eby & Eby, 2006). Nếu không thiếu magnesium mà bị lo âu và trầm cảm thì thường có thể vì thiếu niacin (Vitamin B3), một chất vi dinh dưỡng cần thiết trong mọi phản ứng tạo năng lượng ATP ( Healthline, 2, n.d.).  Một  thử nghiệm ngầu biến có kiểm soát cho thấy 450 mg magnesium có công hiệu giảm trầm cảm bằng thuốc chống trầm cảm mà không bị phản ứng phụ  (Barragán-Rodríguez et al, 2008)

5. Cao huyết áp

Magnesium cùng với calcium hổ trợ cho cơ thể có huyết áp thích hợp và bảo vệ tim. Vì vậy nếu thiếu magnesium thì calcium tích tụ trên thành mạch máu,  gây cao huyết áp.  Kết quả một cuộc nghiên cứu với trên 23000 người tham gia đăng trên tạp chí “American Journal of Clinical Nutrition ” xác định những người ăn nhiều thức ăn giàu magnesium” ít  bị tai biến mạch máu não hơn (6).

Những người uống magnesium ngay sau khi bị nhồi máu cơ tim giảm nguy cơ tử vong. Magnesium cũng thường là một phần trong cách chữa trị  suy tim ứ máu (congestive heart failure) để giảm nguy cơ nhịp tim bị loạn  (Ware, 2017).

5. Tiểu đường loại 2

Theo các nghiên cứu về magnesium và tiểu đường, chế độ ăn uống có nhiều magnesium giảm  rất đáng kể nguy cơ bị tiểu đường (7) (8).  Vì magnesium cần thiết cho qui trình chuyển hoá đường trong cơ thể. 

6. Giảm tính kháng insulin.

Kháng insulin là một trong những nguyên do gây nên tiểu đường loại 2 và  hội chứng chuyển hoá (metabolic syndrome) – biểu hiệu qua tình trạng mập bụng, đau tim và tiểu đường. Nó làm cho cơ bắp và tế bào gan mất khả năng hấp thụ đúng cách đường trong máu. Magnesium đóng vai trò chủ yếu trong qui trình này. Tính kháng insulin càng cao thì càng tăng lượng insulin trong máu làm mất thêm magnesium qua nước tiểu (41) .  Rất may tình trạng này có thể tránh được bằng cách  tăng lượng magnesium tiêu thụ (424344).

7. Mệt mỏi, thiếu sức lực (fatigue)

triệu chứng thông thường  của tình trạng thiếu magnesium ( Cox, Campbell & Dowson ,1991). Để tăng sinh lực và bớt mệt mỏi, chúng ta có thể uống 200 mg đến 1000 mg  phụ trơ magnesium mỗi ngày. Nhưng cần cẩn thận tang liều từ từ tới mức thích hợp cho mình vì uống nhiều magnesium quá sẽ gây tiêu chảy.

8. Nhức đầu (headache, migraine)

Magnesium đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng các chất dẫn tín hiệu thần kinh. Nhiều cuộc nghiên cứu thử nghiệm ngẫu biến, kín kép (randomized, doubled blind, controlled trial) có kiểm soát cho thấy dùng 360-600 mgs magnesium giảm 42% số lần bị nhức đầu (10)

9. Loảng xương (osteoporosis)

Theo Viện Y tế quốc gia của Mỹ (The National Institute of Health), “ Trung bình chúng ta có 25 gam magnesium trong người mà 1 nửa ở trong xương (Martin , 2017). Thiếu magnesium vì vậy là một trong những yếu tố gây nên loãng xương, nhất là người già. Thiếu  magnesium, mà tiêu thụ nhiều calcium có thể tăng nguy cơ làm vôi calcium đọng trên thành các mạch máu gây bịnh tim mạch và sạn thận.

Theo kết quã một nghiên cứu đăng trong  tạp chí khoa học Biology Trace Element Research uống phụ trợ magnesium làm giảm tiến trình loảng xương rất nhiều chỉ sau 30 ngày. Khi uống magnesium, chúng ta cũng nên uống them vitamin D3 và vitamin K để tăng tỉ trọng xương một cách tự nhiên. (Aydin et al, 2010).

10. Gây viêm (Healthline, 1, n.d)

Thiếu magnesium thường đi đôi với viêm mãn tính, một trong những yếu tố đưa đến lão hoá, mập phì và bịnh mãn tính (Neilsen, 2014; Neilsen, 2010). Sử dụng phụ trợ magnesium hoăc thức ăn chứa nhiều magnesium như cá nhiều mỡ và sô cô la đen có thể  giúp giảm viêm mãn tính và những bịnh liên hệ. (Neilsen, Johnson & Zeng, 2010).

11. Đau kinh nguyệt (Healthline, 1, n.d)

Rất nhiều phụ nữ trong tuổi sinh con trước ngày có kinhthường bị phù, chuột rút vùng bụng, mệt mỏi và dễ bực tức.  Nghiên cứu lâm sàng cho thấy magnesium có tác dụng giảm những triệu chứng này cho những phụ nữ đó (Facchinetti et al, 1991).

Liều lượng cần thiết và nguồn magnesium (Healthline, 1, n.d)

Magnesium tuyệt đối thiết yếu để có sức khoẻ tốt. Các cơ quan Y tế  thế giới đề nghị đàn ông cần 400-420 mg mỗi ngày và phụ nữ cần 310-320 mg mỗi ngày.

Thức ăn giàu magnesium nhất (theo thứ tự ): (49):

  • Rau cải củ (chard)
  • Sô cô la đen (70–85% cocoa)
  • Đâu đen (black bean)
  • Hạt ki noa (quinoa)
  • Hạt hạnh nhân (almond)
  • Hạt điều (cashew nut)
  • Cá thu (mackerel)
  • Trái bơ (Avocado)
  • Cá hồi
  • Hạt bí đỏ (Pumpkin seeds)
  • Rau dền, rau bina luộc (Spinach, boiled)

Dầu dừa dùng để sửa soạn thức ăn mỗi ngày kể cả chiên xào có thể gúp tăng khả năng hấp thụ magnesium và chất dinh dưỡng khác trong thức ăn. Xin xem các bài viết vê dầu dừa

Phụ trợ magnesium:

Magnesium phu trợ dưới hình thứcmagnesium citrate, glycinate, orotate and carbonate có độ hấp thụ cao. Tuy nhiên khi hệ tiêu hoá không tốt, mức hấp thụ cũng không đạt tiêu chuẩn. Trong trường hợp đó, magnesium chloride trong dạng dầu và kem dùng trên da tốt hơn và nó hấp thụ qua da rất nhanh. Nhất là dùng cho bịnh mất ngủ, nhức đầu, đau kinh nguyệt, loảng xương, chuột rút, đau cơ bắp, đau khớp… Good Health Magnesium Cream và dầu NTS MagSorb được người tiêu dung khen rất công hiệu.

Xin Lưu ý:

Nếu quý bạn đang uống thuốc tây trị bịnh thì nên hỏi ý bác sĩ trước khi mua và dùng phụ trợ magnesium vì nó có thể phản ứng không an toàn với thuốc tây tăng tiểu tiện (diuretics), thuốc  tim mạch và thuốc kháng sinh.

Tham khảo

Abbasi B, Kimiagar M, Sadeghniiat K, Shirazi MM, Hedayati M, Rashidkhani B. (2012) The effect of magnesium supplementation on primary insomnia in elderly: A double-blind placebo- controlled clinical trial. J Res Med Sci. 2012 Dec;17(12):1161-9. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23853635

Axe, J.  (2017) 9 Signs You Have Magnesium Deficiency and How to Treat It. https://draxe.com/9-signs-magnesium-deficiency/

Aydin H, Deyneli O, Yavuz D, Gözü H, Mutlu N, Kaygusuz I, Akalin S. (2010) Short-term oral magnesium supplementation suppresses bone turnover in postmenopausal osteoporotic women.Biol Trace Elem Res. 2010 Feb;133(2):136-43. doi: 10.1007/s12011-009-8416-8 http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19488681

Barragán-Rodríguez L., Rodríguez-Morán M., Guerrero-Romero F.  (2008) Efficacy and safety of oral magnesium supplementation in the treatment of depression in the elderly with type 2 diabetes: a randomized, equivalent trial. [Abstract] Magnes Res. 2008 Dec;21(4):218-23. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19271419

Cox IM, Campbell MJ, Dowson D (1991) Red blood cell magnesium and chronic fatigue syndrome. The Lancet, MARCH 30, 1991. https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PII0140-6736(91)91371-Z/fulltext

de Baaij JH, Hoenderop JG, Bindels RJ. (2015) Magnesium in man: implications for health and disease. Physiol Rev. 2015 Jan;95(1):1-46. doi: 10.1152/physrev.00012.2014.

Eby GA, Eby K (2006) Rapid recovery from major depression using magnesium treatment [Abstract]. Med Hypotheses. 2006;67(2):362-70.  https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/16542786

Facchinetti F, Borella P, Sances G, Fioroni L, Nappi RE, Genazzani AR (1991). Oral magnesium successfully relieves premenstrual mood changes. [Abstract]. Obstet Gynecol. 1991 Aug;78(2):177-81. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/2067759

Healthline (1, n.d.). 10 Evidence-Based Health Benefits of Magnesium. https://www.healthline.com/nutrition/10-proven-magnesium-benefits#section11

Healthline (2, n.d.) Niacin and Depression. https://www.healthline.com/health/niacin-for-depression#causes

Martin, L. J. (2017), MD, Magnesium Blood test. https://medlineplus.gov/ency/article/003487.htm

Nielsen FH (2010) Magnesium, inflammation, and obesity in chronic disease [Abstract]. Effects of Nutr Rev. 2010 Jun;68(6):333-40. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/20536778

Nielsen FH (2014) Magnesium depletion on inflammation in chronic disease. Curr Opin Clin Nutr Metab Care. 2014 Nov;17(6):525-30. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/25023192

Nielsen FH, Johnson LK, Zeng H. (2010) Magnesium supplementation improves indicators of low magnesium status and inflammatory stress in adults older than 51 years with poor quality sleep. Magnes Res. 2010 Dec;23(4):158-68. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/21199787

Sartori S.B., Whittle N., Hetzenauer A. and Singewald N. (2012) Magnesium deficiency induces anxiety and HPA axis dysregulation: Modulation by therapeutic drug treatment . Neuropharmacology. 2012 Jan; 62(1): 304–312. doi: 10.1016/j.neuropharm.2011.07.027

Ware, M. (2017) Why do we need magnesium? MedicalNewsToday. https://www.medicalnewstoday.com/articles/286839.php

Viêm khớp

Trị Bịnh Viêm khớp – Arthritis bằng Chế độ dinh dưỡng

Tóm tắt: Kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu kiểm nghiệm lâm sàng cho thấy có thể trị dứt bịnh viêm khớp bằng chế độ ăn uống thuần rau quả cùng với dầu mỡ tốt, thưc phẩm lên men và phụ trợ tăng khả năng hấp thụ calcium. Thời gian chữa trị có thể rút ngắn bằng cách nhịn ăn 1-2 tuần trước khi thay đổi chế độ ăn uống . Đồng thời có thể giảm đau nhức cấp thời bằng cách dùng phụ trợ chống viêm và ngừng tiêu thụ một số thức ăn như đường, sữa, dầu thực vật tinh chế, sản phẩm bột mì, thực phẩm chế biến và thực phẩm gốc động vật.

Sơ lược bệnh viêm khớp

Bệnh viêm khớp – gồm cả phong  thấp, thấp khớp, gút – thường làm cho khớp xương sưng, đau nhức, cứng nhắc và hạn chế phạm vi cử động. Những triệu chứng này có thể nay có mai không và có thể nhẹ, trung bình hoặc trầm trọng và có thể không thay đổi năm này qua năm khác nhưng cũng có thể ngày càng nặng. Viêm khớp nặng có thể gây đau dài hạn, làm người bịnh mất khả năng thực hiện sinh hoạt hằng ngày, khó khăn lên xuống cầu thang.

Viêm khớp cũng có thể làm khớp cong quẹo vĩnh viễn nếu chỉ trị bằng thuốc tây (xem hình)

Có hàng trăm thứ viêm khớp khác nhau, bệnh viêm khớp thường gặp nhất là

-Bịnh viêm khớp thoái hoá (degenerative arthritis – osteoarthritis) do xương sụn bọc khớp bị mòn hay thoái hoá vì cơ thể không hấp thụ đủ calcium. Loại viêm khớp này thường thấy ở người lớn tuổi.

-Bịnh viêm xung quanh khớp (Inflammatory Arthritis) xãy ra khi hệ miễn nhiễm tấn công các khớp vì lầm tưởng đó là ngoại sinh vật xâm lược cơ thể. Nơi nào bị hệ miễn nhiễm tấn công thì nơi đó bị viêm.

– Nhiễm trùng khớp (infectious arthritis) xãy ra khi khớp bị nhiễm vi trùng, vi khuẩn hay vi nấm (fungus). Phản ứng của hệ miễn nhiễm gây viêm và đau nhức ở khớp. Chữa trị kịp thời bằng kháng sinh thường dứt bịnh, nhưng có khi thành viêm khớp mãn tính.

– Viêm khớp do dưỡng chế (Metabolic Arthritis) thông thường gọi là bịnh gút, xãy ra khi cơ thể không kịp thải bỏ uric acid, một sản phẩm phụ của qui trình biến dưỡng chất purine thường có trong tế bào cơ thể và thức ăn. Acid uric tích tụ nhiều sẽ tạo thành tinh thể giống những cây kim xung quanh khớp gây đau nhức.

Chế độ dinh dưỡng trị bịnh viêm khớp:

Vì mỗi lọại viêm khớp có nguyên do riêng của nó, nên cách chữa trị cho loại này khác cách chữa trị cho khác. Thêm vào đó, cách chữa trị chỉ nhắm mục tiêu giảm đau cũng khác cách chữa trị tận gốc. Cách chữa trị tận gốc có thể cần thời gian lâu, từ vài tháng đến vài năm. Trong khi đó cũng cần gấp rút giảm đau nhức. Vì vậy thông thường nên phối hợp cả 2 cách chữa tri cho đến khi trị dứt.

A.  Cách trị tận gốc:

Viêm khớp là một trong những hậu quả của chế độ dinh dưỡng không lành mạnh vì chê độ ăn uống quyết định tình trạng đường ruột và hệ miễn nhiễm. Viêm khớp có thể là hậu quả của tình trạng miễn nhiễm tự tác (autoimmune) (Campbell, 2014) hoặc tình trạng viêm đường ruột (Mielands, Veys, Cuvelier & De Vos, 1996) liên quan sự mất thăng bằng trong quần thể vi sinh đường ruột hoặc vì màng đường ruột bị rò rĩ (Jacob, 2013; Campbell, 2014), tức là màng đường ruột có kẻ hở đủ lớn cho nhiều vật thể không thân thiện lẻn vào máu. Viêm khớp cũng có thể liên quan đến tình trạng xượng bị thoái hoá vì thiếu những vitamin và khoáng chất cần thiết để hấp thụ đủ calcium (Nutriceuticals world, 2013).

Cách trị tận gốc bịnh viêm khớp vì vậy gồm nhiều biện pháp. Kiễm nghiệm lâm sàng cho thấy mỗi biện pháp đều có kết quả hiệu lực cho đa số bịnh nhân tham gia trong cuộc thử nghiệm nhưng không hữu hiệu cho tất cả. Chẳng hạn như biện pháp nhịn ăn sẽ không hiệu lực cho những người bị viêm khớp do nhiễm trùng, hay do thoái hoá xương

  1. Nhịn ăn: (Nếu nhịn ăn không thích hợp thì chuyển sang ăn rau quả – mục kế tiếp) Nhịn ăn làm giảm tình trạng rò rĩ màng ruột, cho nên nhịn ăn 2 tuần lễ giúp cải thiện rất nhiều tình trạng viêm khớp theo kết quả của nhiều nghiên cứu kiểm nghiệm lâm sàng (Beri, Malaviya, Shandilya & Singh,1988; Longo, V.D. & Mattson, 2014; Sandqvist et al , 1999). Xin xem lại bài nhịn ăn trong đó có cô Diana kế lại cô hết đau viêm khớp sau 11 ngày nhịn ăn và chỉ uống nươc rau cải ( Nhật ký của Diana)
  2. Sau khi nhịn ăn (hoặc không cần thiết nhịn ăn), chỉ nên ăn rau quả và thực phẩm thực vật (vegan) vì thực thẩm gốc thực vật chống viêm, tạo môi trường kiềm cho cơ thể. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy chế độ dinh dưỡng bằng rau quả giúp tăng cường lượng vi sinh tốt trong bộ tiêu hoá, giảm rò rĩ màng ruột (Peltonen R. et al, 1997) và đẩy lùi triệu chứng viêm khớp (Kjeldsen-Kragh, 1999).
  3. Ăn dầu mỡ tốt sản xuất bằng phương ướp lạnh như dầu dừa, dầu hột flax, dầu ô liu, dầu hột não chó (walnut oil), dầu trái bơ (avocado oil) (Arthritis Foundation 1). (Chỉ dùng dầu dừa để xào nấu) Theo nghiên cứu lâm sàng gần đây, dầu dừa là mỡ tốt có thể giúp chữa lành rò rĩ màng ruột, có tác dụng giảm viêm khớp (Ratheesh et al., 2017; Paul Fassa, 2017) và kiềm chế nấm Candida (Kearney et al, 2015). Khi nấm men Candida chế ngự cơ thể thì cơ thể bị nhiều triệu chứng bịnh, trong đó có viêm khớp (Muedin, 2013). Dầu dừa còn có tác dụng trị bịnh miễn nhiễm tự tác (auto immune disease) kể cả viêm khớp (Myers, 2015).
  4. Ăn nhiều thức ăn lên men như kim chi, dưa cải chua, gia ua dừa sống (coconut yogurt), chao, đậu nành lên men (natto), gia ua sữa (nếu bị viêm khớp thoái hoá, nhiễm trùng hay gút) hoặc uống phụ trợ probiotics để tăng cường sức khoẻ và hệ miễn nhiễm đường ruột. (Helme, J., 2015).
  5. Tăng khả năng hấp thụ calcium của cơ thể bằng cách sử dụng khoáng chất bổ sung như boron, magnesium, Vitamin K và vitamin D (Christakos, 2011). Viêm khớp do thoái hoá xương liên hệ đến tình trạng cơ thể giảm khả năng hấp thụ calcium chứ không phải vì tiêu thụ không đủ calcium. Cơ thể cần có đủ boron (Walter Last) magnesium, vitamin K, vitamin D mới hấp thụ được đầy đủ calcium (Nutriceuticals world, 2013). Thiếu những chất này thì uống bao nhiêu sữa và bao nhiêu calcium bổ sung đi nữa, xương vẫn loãng và viêm khớp cứ tệ hơn. Chúng ta có thể mua phụ trợ tổng hợp đủ những khoáng chất trên để tăng hấp thụ calcium và dứt bệnh viêm khớp thoái hoá như Clinicians Bone Care Complete ở NZ, hoặc Bone Strength, Bone-Up, Bone Solid ở iherb.com

B. Cách giảm đau nhức gấp rút: Xin lưu ý là không phải cách nào trong những cách này cũng công hiệu cho tất cả mọi người bị viêm khớp. Bịnh viêm khớp thường liên hệ rất nhiều đến dị ứng thức ăn (food allergy) và tình trạng chuyển hoá dinh dưỡng của cơ thể. Có thể chọn lọc nhưng cũng có thể thử mỗi lần một vài cách vì  tất cả nếu không có công hiệu thì cũng không có hại gì cả.

  1. Ngừng tiêu thụ những thức ăn thức uống sau đây:
  • Ngừng sử dụng sữa bò và thực phẩm gốc sửa bò (nếu cơ thể có phản ứng với sữa bò). Nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy nhiều người (nhưng không phải tất cả) dùng lại sửa bò và thưc phẩm gốc sữa bò và động vật sau khi nhịn ăn thì bị đau nhức viêm khớp trở lại (Kjeldsen-Kragh, 1999). Tuy nhiên, nên ăn sữa chua gia ua sống (live yogurt – nghĩa là gia ua có thể dùng để gầy thêm gia ua mới) để giúp diệt vi sinh có hại trong ruột để gỉam rò rĩ đường ruột. (Dr Axe, 2017) Có thể thay thế sữa bò bằng sửa hạnh nhân, sửa gạo, sửa (kem) dừa….
  • Ngừng hay giảm thiểu ăn thịt vì thịt chứa nhiều nội độc tố (endotoxin) do vi sinh trong thịt tiết ra (khi thịt còn sống) và mỡ bảo hoà trong thịt tăng lượng độc tố chuyển vào máu. Kết quả là tăng chứng viêm trong người (Greger, 2012). Vi sinh độc hại thích thịt, nên ăn nhiều thịt sẽ giúp vi sinh độc sinh sôi và tăng trưởng trong bộ tiêu hoá, nâng cao mức lượng nội độc tố gây nhiều thứ bệnh kể cả viêm khớp (Minich D., 2017)
  • Ngừng hay giảm thiểu thức ăn nước uống chứa nhiều purine như bia rượu, sò điệp, cá cơm, cá thu, thịt, nhất là thịt nai, thịt bacon, bò non, nai, gan, thịt bò, gà, vịt, heo… Càng ăn nhiều thực phẩm chứa nhều purine thì càng tăng mức acid uric trong người, gây nên đau nhức viêm khớp gút (Roubenoff, n.d.)
  • Ngừng dùng dầu ăn thực vật (vegetable oils) tinh chế như dầu canola, dầu đậu nành, dầu bắp, dầu hột hướng dương (Kris Gunnars (2013). Vì những thứ dầu này chứa qua nhiều omega-6 so với omega-3 nên gây viêm và hại đường ruột (Arthritis Foundation 5; Hyman, 2015). Ăn nhiều mỡ động vật kể cả sữa bò nguyên kem (full cream dairy products) cũng gây nên viêm khớp (Arthritis Foundation 3).
  • Ngừng ăn thức ăn chế biến, nhất là những loại khoai tây chiên, rán (chips), vì thức ăn chế biến thường chứa nhiều dầu mỡ chiên đã biến chất (transfat) là những chất tạo viêm và kích hoạt triệu chứng viêm khớp (Arthritis Foundation 4)
  • Ngừng ăn đường (Arthritis Foundation ) và những thức ăn gốc tinh bột (refined carbohydrates) như bánh mì trắng, gạo trắng, bột khoai tây trắng vì những chất này gây viêm và những đau nhức mãn tính (Arthritis Foundation 6; Franziska Spritzler, 2017).
  • Ngừng ăn thức ăn có bột ngọt (MSG) tức là nên tránh tất cả thức ăn chế biến Á châu vì bột ngọt kích hoạt viêm và đau nhức mãn tính (Arthritis Foundation 7)
  • Ngừng tiêu thụ thức ăn gốc lúa mì (wheat), lúa mạch (barley) và lúa mạch đen (rye) vì có chứa gluten, là chất thường gây rò rĩ màng ruột và những bệnh miễn nhiễm tự tác kể cả viêm khớp (Rath, 2015; Punder & Pruimboom, 2013).
  1. Ăn mè sống  xay (hay giã nhỏ) mỗi ngày  40 gm (chia ra làm nhiều lần ) sẽ giảm đau nhức viêm khớp rất nhiều theo kết quả nghiên cứu lâm sàng ở Đại Học Tabriz Iran năm 2013 với 50 bệnh nhân tham gia (Sayer Ji, 2013).
  2. Phụ trợ cao củ nghệ (Turmeric supplement). Kết quả tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng của Daily, Yang và Park (2016) xác nhận dùng cao củ nghệ (turmeric extract) có hiệu lực giảm đau viêm khớp. Liều lượng tối thiểu để có hiệu lực giảm đau là 1000mg cao, tương đương khoảng 30 g củ nghệ khô. Công thức phụ trợ cao củ nghệ cần phải có tiêu đen (black pepper) để giúp cơ thể hấp thụ hữu hiệu chất thuốc của củ nghệ.
  3. Phụ trợ Bromelain. Bromelain là một nhóm enzyme từ trái dứa có tác dụng chống viêm và nhiễm trùng được chứng nghiệm đã giúp nhiều bệnh nhân viêm khớp thoái hoá giảm đau đáng kể (Pavan et al, 2012) . Có thể dùng liều 2000 mg 3 lần một ngày giữa 2 bửa ăn . (Arthritis Foundation 8).
  4. Dầu cá (fish oil). Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cho thấy dầu cá giúp nhiều bệnh nhân giảm đau khớp và giúp cử động dễ hơn. Cần dùng 2.6 gm 2 lần một ngày dầu cá loại tốt (Nordic fish oil) gồm ít nhất 30 phần trăm EPA/DHA (Arthritis Foundation 9 ).
  5. Dầu hạt đen (black seed oil) – có thể cũng gọi là dầu hạt mè đen hay dầu thì là Ai cập – có công dụng chữa được nhiều bịnh. Một cuộc thử nghiệm lâm sàng với 40 phụ nữ bị viêm khớp (RA), tất cả đều giảm đau rất nhièu sau khi dùng 500 mg dầu hạt đen 2 lần một ngày trong 1 tháng (Gheita & Kenawy, 2012).
  6. Phụ trợ gồm enzyme huỷ đạm (proteolytic enzyme). Khi chổ nào bị thương thì cơ thể đưa chất đạm fibrin đến đó để tạo một tấm lưới bảo vệ cho platelets và hồng cầu làm xong công tác chữa lành nơi đó. Chữa lành xong thì cơ thể lại gởi enzyme huỷ đạm đến đó để dọn sạch fibrin và phục hồi tình trạng nguyên si trước đó. Khi cơ thể không đủ enzyme để huỷ fibrin thì fibrin tích luỹ thành sẹo cứng, cản trở mạch máu, gây trở ngại hoạt động bắp thịt và gây viêm mãn tính. Lượng enzymes huỷ đạm trong cơ thể giảm đi sau 25 tuổi là 1 trong những nguyên do có thể gây  viêm khớp (Cannone, 2011). Enzyme huỷ đạm như bromelain, rutin, papain có tác dụng giảm đau viêm khớp như các thuốc tây giảm đau nhưng có lợi thế hơn  là bảo vệ sụn khớp (Bolten et al, 2015; Nouza, 1994). Có thể tìm mua phụ trợ enzyme huỷ đạm bán trên internet như

“Doctor’s Best, Proteolytic Enzymes, 90 Enteric Coated Veggie Caps” với giá $US20 trên iherb.com (Iherb.com tương đối khá rẽ so với các tiệm khác, tính bằng tiền địa phương của người mua và tuỳ trường hợp có khi miễn cước phí). Phụ trợ này gôm bromelain, papain, amylase, rutin, lipase, neutral protease, bacterial protease, fungal protease và Serratiopeptidase.

Trong 10 người sử dụng thì có 8 người thấy phụ trợ này có công hiệu tuyệt vời. Dĩ nhiên loại phụ trợ này có thể không công hiệu cho những người bị viêm khớp thoái hoá.

  1. Cao gừng (ginger extract) được kiểm nghiệm có tác dụng giảm đau viêm khớp không thua gì steroid. Liều dùng trong nghiên cứu tương đương 3 gam gừng khô 2 lần một ngày (Arthritis Foundation 10)
  2. Dầu hột flax (Flax seed oil) chứa rất nhiều omega 3 nên có công hiệu chống viêm hữu hiệu và được công nhận là có hiệu quả giảm đau cho nhiều người bị viêm khớp. ( Arthritis Foundation 11 )
  3. Chondroitin sulfate và glucosamine có công hiệu giảm đau cho một số người bị viêm khớp thoái hoá nhưng trung bình không có hiệu quả bao nhiêu (Arthritis Foundation 12)
  4. MSM Methylsulfonylmethane là một hợp chất sulphur tự nhiên trong rau quả, mễ cốc và động vật. MSM có tác dụng giúp giảm đau và viêm cho tất cả 50 người tham gia1 thử nghiệm lâm sàng. Liều dùng từ 1 g đến 3 g mỗi ngày. (Arthritis Foundation 13)

Phụ trơ tổng hợp tên Flexitrinol chứa vitamin C, dầu hột flax, dầu cá, vitamin E, boron, dầu Eneming Primrose, chondroitin sulfate, MSM và Glucosamine được đánh giá là phụ trợ trị đau viêm khớp hữu hiệu nhất. (Richard, dietsinreview 2016)

Xin lưu ý: Bài viết tóm tắt trên đây chỉ có mục đích thông tin để giúp quý bạn nắm vững hơn tình hình khi lấy quyết định liên quan đến sức khoẻ mình. Bài viết này không thay thế nhu cầu tham khảo ý kiến y sĩ chăm sóc sức khoẻ của quý bạn.

 

Tham khảo:

Beri, D., Malaviya, A.M., Shandilya, R. & Singh, R.R. (1988) Effect of dietary restrictions on disease activity in rheumatoid arthritis. Ann Rheum Dis. 1988 Jan; 47(1): 69–72

Bolten, W. W. et al (2015). The Safety and Efficacy of an Enzyme Combination in Managing Knee Osteoarthritis Pain in Adults: A Randomized, Double-Blind, Placebo-Controlled Trial. Arthritis. 2015; 2015: 251521.  doi:  10.1155/2015/251521

Campbell, A.W. (2014) Autoimmunity and the Gut . Autoimmune Dis. 2014; doi:  10.1155/2014/152428

Cannone, J. (2011) What Is Fibrin – And What to Do About It Now to Relieve Pain & Improve Health. The Healthy Back Institute. URL: https://www.losethebackpain.com/what-is-fibrin/

Christakos, S. et al. Vitamin D and Intestinal Calcium Absorption. Mol Cell Endocrinol. 2011 Dec 5: 347(1-2): 25-29.  doi:  10.1016/j.mce.2011.05.038

Daily, J.W., Yang, M. & Park, S. Efficacy of Turmeric Extracts and Curcumin for Alleviating the Symptoms of Joint Arthritis: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Clinical Trials. J Med Food. 2016 Aug 1; 19(8): 717–729. doi:  10.1089/jmf.2016.3705

Dr Axe (2017) Leaky Gut treatment. https://draxe.com/leaky-gut-diet-treatment/.

Fasano, A. Leaky gut and autoimmune diseases. Clin Rev Allergy Immunol. 2012 Feb;42(1):71-8. doi: 10.1007/s12016-011-8291-x.

Hyman, M. (2016) Why oil is bad for you. http://drhyman.com/blog/2016/01/29/why-oil-is-bad-for-you/

Fassa, P. (2017) Coconut Oil Proven Beneficial for Healing Rheumatoid Arthritis and Other Autoimmune Diseases. Health Impact News. November 3, 2017 URL: http://coconutoil.com/coconut-oil-proven-beneficial-for-healing-rheumatoid-arthritis-and-other-autoimmune-diseases/

Franziska Spritzler (2017) 6 foods that cause inflammation. https://www.healthline.com/nutrition/6-foods-that-cause-inflammation#section1

Gheita, T.A. & Kenawy, S.A. Effectiveness of Nigella sativa oil in the management of rheumatoid arthritis patients: a placebo controlled study. Phytother Res. 2012 Aug;26(8):1246-8. doi: 10.1002/ptr.3679.

Greger, M. (2012). Dead Meat Bacteria Endotoxemia. NutritionFacts.org

Helme, J. (2015). The Promise of Probiotics for Arthritis. Foods and supplements with these “good bacteria” may prove to help arthritis and overall health. Arthritis Foundation. URL: http://www.arthritis.org/living-with-arthritis/arthritis-diet/healthy-eating/guide-to-probiotics.php

Jacob, A. (2013) Gut Health and Autoimmune Disease — Research Suggests Digestive Abnormalities May Be the Underlying Cause. Today’s Dietitian Vol. 15 No 2 P. 38

Kearney, T.W. et al (2015) Manipulation of Host Diet To Reduce Gastrointestinal Colonization by the Opportunistic Pathogen Candida albicans. American Society for Microbiology. DOI: 10.1128/mSphere.00020-15

Kjeldsen-Kragh, J. Rheumatoid arthritis treated with vegetarian diets. Am J Clin Nutr . September 1999 vol. 70 no. 3 594s-600s. http://ajcn.nutrition.org/content/70/3/594s.full#fn-1

Kris Gunnars (2013) . 6 reasons why vegetable oils are toxic. https://www.healthline.com/nutrition/6-reasons-why-vegetable-oils-are-toxic#section1

Longo, V.D. & Mattson, M.P. Fasting: Molecular Mechanisms and Clinical Applications. Cell Metab. 2014 February 4; 19(2): 181-192. doi:10.1016/j.cmet.2013.12.008

Mielands, H. Veys, E.M., Cuvelier, C. & De Vos, M. Course of gut inflammation in spondylarthropathies and therapeutic consequences. Baillieres Clin Rheumatol. 1996 Feb;10(1):147-64.

Minich, D. (2017) What you need to know about a high-fat diet. Huffpost. https://www.huffingtonpost.com/entry/what-you-need-to-know-about-a-high-fat-diet_us_595f22c4e4b0cf3c8e8d57b0

Muedin, L. (2013). Candida. Intelligent Medicine. http://drhoffman.com/article/candida/

Myers, A. (2015). The Autoimmune Solution. New York, New York: HarperCollins Publications.

Nouza, K. (1994). Outlooks of systemic enzyme therapy in rheumatoid arthritis and other immunopathological diseases. Acta Univ Carol Med (Praha). 1994;40(1-4):101-4.

Pavan, R., Jain, S., Shraddha & Kumar, A. Properties and Therapeutic Application of Bromelain: A Review. Biotechnol Res Int. 2012; 2012: 976203. doi:  10.1155/2012/976203

Nutraceutical World (2013). Association: Magnesium Essential to Absorption of Vitamin D & Calcium. URL: https://www.nutraceuticalsworld.com/contents/view_breaking-news/2013-03-07/association-magnesium-essential-to-absorption-of-vitamin-d-calcium

Peltonen, R. et al (1997). Faecal microbial flora and disease activity in rheumatoid arthritis during a vegan diet. Br J Rheumatol. 1997 Jan;36(1):64-8. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/9117178

Punder, K. D. & Pruimboom, L. (2013) The Dietary Intake of Wheat and other Cereal Grains and Their Role in Inflammation. Nutrients. 2013 Mar; 5(3): 771–787. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3705319/ doi:  10.3390/nu5030771

Rath, L. (2015). The Connection Between Gluten And Arthritis. Arthritis Foundation. http://www.arthritis.org/living-with-arthritis/arthritis-diet/anti-inflammatory/gluten-free-diet.php

Ratheesh, M. et al (2017). Anti-inflammatory and antioxidant effect of Kerabala: a value-added ayurvedic formulation from virgin coconut oil inhibits pathogenesis in adjuvant-induced arthritis. Inflammopharmacology. 2017 Feb;25(1):41-53. doi: 10.1007/s10787-016-0298-8

Roubenoff, R. (n.d.). Safe food for gout. Arthritis Foundation.

Sayer Ji (2013) Eating Sesame Seeds Superior To Tylenol for Knee Arthritis. http://www.greenmedinfo.com/blog/eating-sesame-seeds-superior-tylenol-knee-arthritis

Sundqvist, T. et al (1982) Influence of fasting on intestinal permeability and disease activity in patients with rheumatoid arthritis. Scand J Rheumatol; 11(1):33-8. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/7063809

Walter Last (1). ARTHRITIS AND RHEUMATISM. A Holistic Therapy. http://www.health-science-spirit.com/arthritis.html

Walter Last (2). The Borax Conspiracy. How the Arthritis Cure has been stopped. http://www.health-science-spirit.com/borax.htm

 

 

 

 

 

 

 

 

Chế độ ăn uống chống cao huyết áp

 

Tóm lược: Bịnh cao huyết áp làm cho hàng ngàn người chết mỗi ngày ở Mỹ. Xin đừng coi thường bệnh này và đừng hoàn toàn dựa vào thuốc trị huyết áp nhưng nên bổ sung bằng thức ăn và sinh hoạt lành mạnh. Có thể chống bệnh cao huyết áp bằng cách thay đổi chế độ ăn uống và sinh hoạt như  1. Giảm thiểu tiêu thụ muối, đường, cà phê, rượu bia; 2. Tạo nhiều thời gian không căng thẳng; 3. Tăng tiêu thụ rau quả tươi đủ loại, hành, tỏi, hạt flax seed, hạt có dầu, nước dừa,  yến mạch, dầu mè, sô cô la đen; và 4. Bồi dưỡng CoQ10, magnesium và dầu cá.

Cao huyết áp làm chết rất nhiều người:

Y khoa ngày càng tiến bộ nhưng càng ngày càng nhiều người bị bệnh cao huyết áp và chết vì cao huyết áp. Theo trung tâm Kiểm soát và phòng bệnh của Hoa kỳ (Centres for Disease Control and Prevention – CDC), cứ 3 người lớn ở Mỹ thì có 1 người – tức là có tất cả 75 triệu dân Mỹ trên 18 tuổi – bị bệnh cao huyết áp. Trong năm 2013 có 360 ngàn người chết ở Mỹ vì cao huyết áp – tức là 1000 người chết chủ yếu vì cao huyết áp mỗi ngày. Cao huyết áp là nguyên nhân chính gây tử vong  qua triệu chứng nhồi máu cơ tim (heart attack), đột quỵ (stroke),  suy tim mãn tính (chronic heart failure) và suy thận (kidney disease). Hơn 70 % những người cao huyết áp dùng thuốc tây y chữa cao huyết áp, nhưng hơn có tới 54 % người không kiểm soát được huyết áp của mình. Các con số nói lên thực trạng là thuốc tây không trị được bịnh huyết áp cao. Hơn nữa, tuỳ theo loại thuốc sử dụng, người bịnh có thể bị nhức đầu, chóng mặt, sưng mắt cá chân, bón, triệu chứng cảm cúm, xây xẩm khi đúng dậy, đi tiểu thường hơn, mệt, lạnh tay chân (Cơ quan y tế quốc gia Anh – NHS)

Khi chúng ta có huyết áp tâm thu (systolic) nằm trong khoảng 120 – 139 mmHg hay huyết áp tâm trương (diastolic) trong khoảng 80-89 mmHg thì chúng ta ở trong tình trạng tiền cao huyết áp.

Khi huyết áp tâm thu cao hơn 139 hoặc huyết áp tâm trương cao hơn 89, chúng ta ở trong tình trạng cao huyết áp. Hai con số này cao hơn 159/99 là tình trạng đáng lo.

Biện pháp chống cao huyết áp.

Nghiên cứu lâm sàng cho thấy có thể giúp người bịnh cao huyết áp giảm huyết áp xuống mức an toàn bằng cách giảm tình trạnh căng thằng, tránh môi trường đôc hại, thay đổi chế độ ăn uống và dùng một số chất bổ sung dinh dưỡng cần thiết.

Tránh môi trường và thức ăn gây cao huyết áp

  1. Môi trường. Những ai sinh hoạt trong môi trường có nhiều chất chì có thể bị cao huyết áp. Sự kiện này được nêu lên trong chương trình nghiên cứu của Gutfield (1992) liên hệ đến nước sử dụng ở 130 thành phố ở Hoa kỳ. Những người ăn đồ ăn hộp nhiều hoặc làm việc trong ngành ráp ống nước, sản xuất kính, plastic, xây dựng có thể bị ảnh hưởng của chì.

Cadmium trong nước uống cũng có thể làm tăng huyết áp. Môt trường làm việc trong hãng sản xuất plastic, pin, dệt vải , và phân bón cũng có nhiều cadmium làm tăng huyết áp. Những người cao huyết áp ở trong môi trường như vậy nếu được y sĩ giúp tẩy độc chì và cadmium thì có thể giảm huyết áp.

  1. Căng thẳng tinh thần, tình cảm… không trực tiếp gây bịnh cao huyết áp nhưng tình trạng căng thẳng làm tăng huyết áp. Nếu kéo dài hoặc xãy ra thường xuyên, sự căng thẳng sẽ gây nên bịnh cao huyết áp (KulkarniO’FarrellErasiKochar, 1998). 

Những thức ăn cần giảm:

Những thức ăn có thể gây cao huyết áp nên tránh hay giảm tiêu thụ gồm muối, đường, cà phê, rượu bia và thức ăn gây dị ứng.

Muối. Ăn nhiều muối có nguy cơ làm cao huyết áp. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Laragh & Pecker (1983) thì chỉ 30-50 % bệnh nhân cao huyết áp nhạy cảm với lượng muối tiêu thụ. Đối với số người còn lại thì giảm tiêu thụ muối cũng không giảm huyết áp. Ngược lại giới hạn ăn muối quá khe khắt có thể có ảnh hưởng tai hại như làm mất sức và tình trạng đề kháng insulin gây tiểu đường.

Đường : Ăn nhiều đường thường tăng huyết áp. Nhiều nghiên cứu cho thấy một khi số calori của lượng đường (sucrose) tiêu thụ cao hơn 10% tổng lượng calori hấp thụ, huyết áp tâm trương (diastolic) lên cao đáng kể (Gaby, 2017). Giảm mức tiêu thụ đường, sản phẩm chế biến kể cả chất bột, và trái cây ngọt như chuối, xoài, dứa có thể giúp chúng ta giảm huyết áp.

Cà phê thường có ảnh hưởng không đáng kể trên huyết áp. Nhưng uống nhiều quá (hơn tách 1 ngày) có thể gây bịnh cao huyết áp. Bác sĩ Gaby ghi lại trường hợp 1 bệnh nhân bị cao huyết áp hơn 10 năm mặc dầu đã dùng 2 loại thuốc giảm huyết áp. Khi khám phá ra là anh ta uống 10-20 tách cà phê 1 ngày. Bác sĩ Gaby , tác giả sách “Y học dinh dưỡng” (Nutritional Medicine) yêu cầu anh ta ngưng uống cà phê. Sau 3 tuần huyết áp anh ta không cần uống thuốc nữa mà huyết áp trở lại bình thường.

Rượu bia: Nghiên cứu cho thấy những người cao huyết áp mà uống nhiều rượu nếu ngừng hoặc giảm lượng rượu tiêu thụ một cách đáng kể thì huyết áp giảm đáng kể.

Thức ăn gây dị ứng: một vài nghiên cứu cho thấy thức ăn gây dị ứng là một trong những yếu tố gây cao huyết áp cho một số người. Trong các cuộc nghiên cứu đó, nhiều người có huyết áp trở lại bình thường mà không cần thuốc huyết áp sau nhiều năm bị cao huyết áp nhờ tìm ra và ngưng tiêu thụ thức ăn gây dị ứng (Gay được đề cập trong sách của Dr Gaby)

– Dầu thực vật nấu ăn: Theo tài liệu nghiên cứu ở Spain, sử dụng dầu thực vật có nhiều polyunsaturated fat như dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu bắp ngô.. thường bị cao huyết áp hơn không dùng. Nếu phải chiên xào thì dầu dừa là an toàn nhất.

Những thức ăn và chế độ ăn uống giúp giảm huyết áp cách tự nhiên:

Chế độ ăn uống DASH (Biện pháp ăn uống ngưng chận cao huyết áp- Dietary Approach to Stop Hypertension) qua nhiều thử nghiệm lâm sàng chứng tỏ có công hiệu giảm huyết áp. Trong cuộc thử nghiệm với 459 bệnh nhân cao huyết áp , chế độ DASH giảm 11 mmHg huyết áp tâm thu và 5.5 mmHg huyết áp tâm trương sau 8 tuần. Chế độ ăn uống DASH gồm thật nhiều rau quả, một lượng hạt có dầu, hạt và đậu vừa phải, ít thực phẩm từ sữa bò, ít mỡ bảo hoà và ít tổng lượng dầu mỡ.

Chế độ ăn uống Địa Trung Hải: chủ yếu gồm rau quả, đậu, ngũ cốc, cá, dầu ô liu, ít thịt, ít sản phẩm từ sữa bò. Kết quả nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống này không giảm huyết áp nhiều bằng chế độ DASH nhưng có nhiều ích lợi khác cho bệnh tim mạch như giảm đường, giảm cholesterol trong máu.

Chỉ ăn rau quả. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy ai chỉ ăn rau quả thì ít bị cao huyết áp hơn là có ăn thịt. Ăn rau quả làm giảm huyết áp cho mọi người: người cao huyết áp lẫn người có huyết áp bình thường. (Tôi không dùng từ ăn chay vì thức ăn chay không có sản phẩm từ đông vật nhưng có thể có nhiều hoá chất làm cho thức ăn chay có vị giống thức ăn có thịt, rất độc hại)

Rau quả tươi sống: Kết quả nghiên cứu thử nghiệm cho thấy bệnh nhân cao huyết áp và nặng lý hơn trung bình (overweight) khi ăn ít nhất 40% thức ăn là rau quả sống thì huyết áp tâm trương giảm 17.5 mmHg sau 6-7 tháng. Huyết áp lên lại như cũ khi họ ăn trở lại thức ăn chín như trước (Douglass, Rasgon et al, 1985).

  •  Hành củ: 20 người cao huyết áp thử nghiệm dùng 15 phân khối nước cốt hành 2 hay 3 lần một ngày sau 2 tháng giảm trung bình 25 mmHg tâm thu và 15 mmHg tâm trương (Louira, McNally, Lasser et al, 1985). Vì vậy ăn nhiều hành, nhất là hành sống trong sà lách hay uống rượu đỏ ngâm hành đỏ có thể giúp giảm huyết áp rất công hiệu .

Tỏi cũng chứng tỏ giúp giảm huyết áp cho những người cao huyết áp trong 20 cuộc thử nghiệm tiêu chuẩn. Trung bình nó giúp giảm huyết áp tâm thu được 8.7 mmHg và huyết áp tâm trương được 6.1 mmHg (Riek, 2016).

Cháo yến mạch ( whole oats porridge) thêm vào thức ăn hằng ngày cho người cao huyết áp có tác dụng giảm huyết áp tâm thu rất đáng kể. Hơn 70 phần trăm số người ăn yến mạch có thể ngừng hoặc giảm 1/2 thuốc huyết áp (Pins, Geleva, Keeman et al, 2002).

Đậu nành: Nhiều cuộc thử nghiệm cho thấy chất đạm đậu nành hay sữa đậu nành – tiêu thụ vài lần 1 ngày – giúp giảm huyết áp những người cao huyết áp (Gaby, 2017).

Hạt flax (flaxseed): Tiêu thụ 30 gam flaxseed mỗi ngày đã giúp nhóm người cao huyết áp trong 1 cuộc nghiên cứu giảm 6-9 mmHg huyết áp (Rodriguez et al, 2013).

Dầu mè: Một cuộc thử nghiệm cho thấy ăn dầu mè (sống) sau 45 ngày giảm trung bình 10 mmHg huyết áp tâm thu và tâm trương (Gaby, 2017).

Sô cô la đen đậm: Mỗi ngày ăn chừng 6g sô cô la đen đậm có tác dụng hạ huyết áp đáng kể cho trường hợp cao huyết áp theo kết quả nghiên cứu thử nghiệm (Gaby, 2017).

– Nước dừa: Nước dừa chứa nhiều Potassium là chất có tác dụng giảm huyết áp (Alleyne et al, 2005). Nhưng nhiều potassium quá sẽ gây thiệt hại cho tim mạch, hạ huyết áp xuống dưới mức an toàn và có thể làm chết người. Trường hợp này xãy cho một người đàn ông 42 tuổi đang chơi tennis. Anh ta bị ngất, phải dùng xe cấp cứu vào vệnh viện vì anh ta uống 8 ly nước dừa trong ngày. Sau ba ngày nằm bệnh viện và nhờ máy điều hoà nhịp tim anh ta mới trở lại bình thường (UHN, 2017) . Chính vì vậy mà chỉ nên uống nước dừa chừng mực, vừa đủ ngay cả đối với người bị cao huyết áp – có thể 1-2 trái hay 1 lít một ngày uống làm nhiều lần. Nếu muốn cho chắc thì uống từ từ và theo dõi đo huyết áp khoảng 1 tiếng đồng hồ sau khi uống. Những ai có huyết áp thấp cần phải cẩn thận nhiều hơn. Theo kinh nghiệm của tôi là người có huyết áp thấp thì nên thêm 1 tí muối và nước dừa trước khi uống cho an toàn.

Chuối chứa nhiều potassium nên cũng giúp giảm huyết áp.

Cà chua chứa nhiều calcium, potassium, vitamin A, C và E và lycopene, là những chất có tác dụng giảm huyết áp.

Vitamin và chất dinh dưỡng phụ trợ:

Co-En-zim CoQ10: Kết quả nghiên cứu cho thấy những người cao huyết có mức CoQ10 trong máu thấp hơn người bình thường và khoảng một phần ba số người cao huyết áp thiếu CoQ10. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy huyết áp tâm thu của những người cao huyết áp ( trung bình 165 mmHg) chỉ còn 145 mmHg trung bình sau 12 tuần uống 60 mg CoQ10 hai lần một ngày (Burke, Nuenschwander & Olson 1999 trích dẩn trong Gaby, 2017).

Magnesium

Thiếu magnesium là một yếu tố gây nên bịnh cao huyết áp theo nghiên cứu của Resnick, Gupta và Laragh (1984). Thử nghiệm cho thấy phụ trợ magnesium có tác dụng giảm huyết áp cho nhiều người cao huyết áp. Magnesium cũng cần thiết cho sức khoẻ tim mà không có ảnh hưởng tai hại nào nên bác sĩ Gaby khuyên nên sử dụng khoảng 500 mg phụ trợ magnesium mỗi ngày. Thực phẩm có nhiều magnesium nhất gồm rau nhiều lá xanh đậm, trái bơ, hạt bì đỏ, cải spinach, rau biển, muối có màu hồng (pink salt), hạt có dầu (nuts), sô cô la đen, cá sống trong môi trường thiên nhiên (wild caught fish), cà phê.

Vitamin C là một chất chống oxy hoá rất mạnh nên có thể giảm cao huyết áp do các gốc tự do (free radicals) gây nên. Kết quả từ nhiều thử nghiệm cho thấy uống 500mg – 1000mg vitamin C trong 30 ngày có công hiệu giảm đáng kể huyết áp tâm thu (trung bình khoảng 13 mmHg) cho những nhóm người cao huyết áp (Gaby, 2017).

Dầu cá và dầu Omega 6 có tác dụng giảm độ nhớt trong máu nên có thể giúp giảm huyết áp chút ít theo kết quả thử nghiêm tác dụng của dầu cá và Omega 6 trên huyết áp.

 

Xin Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin để giúp quý bạn nắm vững tình hình hơn khi lấy quyết định liên quan đến sức khoẻ mình chứ không thay thế sự chỉ dẫn của y sĩ chăm sóc sức khoẻ của quý bạn. 

Tham khảo:

  1.  Alleyne ,T., Roache, S., Thomas, C. & Shirley, A. The control of hypertension by use of coconut water and mauby: two tropical food drinks [Abstract]. West Indian Med J.2005 Jan;54(1):3-8.
  2. Douglas, J.M, Rasgon, I.M. et al. Effects of a raw food diet on hypertension and obesity. South Med J 1985;78:841-844
  3. Gaby, A., R. Nutritional Medicine, 2nd Ed. 2017. Fritz Pelberg Publising Concord, NH
  4. Gutfield, R. Excessive lead found in water in many cities. Wall Street Journal 1992 (October 21):B7.
  5. Gay, L.P. Nonreaginic food allergy in the management of essential hypertension. J app Nutr 1959; 12(2):71-74
  6. Gay, L.P. Food allergy in internal medicine with special reference to paroxysmal tachycardia and essential hypertension. J App Nutr 1959;12(2)82-92
  7. Laragh, J.H. & Pecker, M.S. Dietary Sodium and Essential Hypertension: some myths, hopes, and truths. Ann Intern Med 1983;98:735-743
  8. Louira, D.B., McAnally, J.F., Lasser, N. et al. Onion extract in treatment of hypertension and hyperlipidemia: a preliminary communication. Curr Ther Res 1985;37:127-131
  9. Price, A.S. The role of allergy in hypertension: an experimental study. Rev Gastroenterol 1943;10:233-245
  10. Pins, J.J. Geleva, D., Keeman, J.M. et al. Do whole grain oats cereals reduce the need for hypertensive medications and improve blood pressure control? J Fam Pract 2002;51:353-359.
  11. Riek, K. Garlic lowers blood pressure in hyperintensive individuals, regulates serum cholesterol, and stimulates immunity: an updated meta-analysis and review. J Nutr Biochem 1998;9:415-419.
  12. Rodriguez-Leyva, D. et al. Potent antihypertensive action of dietary flaxseed in hypertensive patients. Hypertension 2013;62:1081-1089.
  13. UHN (2017). Coconut water disadvantages. University Health News May 2017.