Chất đạm thực vật khá phong phú

Thức ăn từ thực vật có thể cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho mọi người, kể cả phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú, trẻ con, và vận động viên thể thao (Melina, Craig & Levin, 2016). Chỉ riêng món gạo trộn với đậu (như xôi đậu , cháo đậu và cơm đậu) cũng đã cung câp đủ nhu cầu chất đạm thiết yếu cho chúng ta rồi.

Riêng về chất đạm, chúng ta cần 20 loại – gọi là axit amino. Cơ thể chúng ta có thể tự sản xuất 11 loại còn 9 loại axit amino phải hấp thụ từ thức ăn. 9 loại chất đạm thiết yếu này (axit amino) này là  histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophan và valine. Chúng cần thiết cho những chức năng quan trọng như tổng hợp tạo đạm, chữa lành mô tế bào hư hại và hấp thu dinh dưỡng. Một số cũng có thể cần để phòng ngừa teo cơ bắp, cải thiện giấc ngủ, khả năng vận động và giảm cân.

Thức ăn của chúng ta vì vậy cần có đủ 9 loại axit aminô thiết yếu này. Nếu mỗi ngày  chúng ta ăn kha khá nhiều loại rau quả và hạt không biến chế chúng ta có lẽ tiêu thụ nhiều chất đạm hơn cần có  vì thực vật hầu hết đều chứa ít nhiều chất đạm thiết yếu này. Dầu vậy, có một số ít thực vật chứa đủ 9 loại axit amino thiết yếu như đậu nành, qui noa và lúa mạch hay kiều mạch (buckwheat).

Những loại thức ăn gốc thực vật chứa nhiều chất đạm nhất là

  1. Những loại hột đỗ đậu (pulses): Như đậu lăng (lentils), đâu nành (soy beans), đậu đen, đâu đỏ, đậu xanh, đậu ván, đậu tây (kidney beans), đậu gà (chickpeas).

Nguồn: https://www.agupdate.com/crops/pulse_crops

Những loại đậu này không những chứa nhiều đạm (khoảng 20-30% trọng lượng đậu sống) mà còn chứa nhiều chất xơ, cacbon hydrat phức hợp, chất chống oxit hoá (antioxidant), nhiều vitamin và khoáng chất thiết cho cơ thể. (NHa, 2019).

Tuy nhiên những loại đậu này cũng chứa một số chất phản dinh dưỡng (antinutrients) như axit phytic, sterols thực vật, hổn hợp phê no lit, lectin và chất ức chế en-zim tiêu hoá (NHa, 2019). Lectin làm hồng huyết cầu dính chùm  và ức chế tăng trưởng và cản trở tiêu hoá. Những chất phản dinh dưỡng này có mục đích bảo vệ hạt đậu để duy trì giống nhưng gây độc và cản trở cơ thể hấp thụ dinh dưỡng, nhất là khoáng chất. Ông bà chúng ta biết loại bỏ những chất phản dinh dưỡng hoặc chất độc này bằng cách ngâm đậu qua đêm, nấu sôi ít nhất 10 phút trước khi ăn. Làm giá (cho đâu nẩy mầm) cũng là cách loại bỏ chất độc và phản dinh dưỡng hữu hiệu, đồng thời tăng thành phần dinh dưỡng của đâu lên gấp bội.

Có 50 trường hợp ngộ độc ăn đậu tây (kidney beans) được báo cáo tại Anh quốc từ 1976 tới 1989. Lý do là vì ăn đậu tây sống hoặc nấu không kỹ. (Rodhouse et al, 1990). Có nhiều khuynh hướng nấu đậu bằng nồi slow cooker để đâu mềm ra. Tuy nhiên nồi slow cooker chỉ nấu tới 80 độ C nên không đủ sức hoá giải các chất phản dinh dưỡng trong đậu tây. Nếu muốn dung slow cooker để nấu những loại đâu thì trước đó phải ngâm đậu qua đêm, rửa sạch, nấu thật sôi ít nhất 10 phút rồi mới nấu bằng slow cooker.(Eatingwell, 2019).

Đâu nành: Tuy nhiên, đối với đậu nành, những cách trên chỉ làm giảm chứ không loại bỏ hết những chất độc và phản dinh dưỡng trên. Cách tốt nhất để lại bỏ chất độc trong đâu nành là ủ cho đậu nành lên men sau khi đã ngâm và luộc. Vì vậy không nên ăn nhiều và ăn thường xuyên tất cả các loại đậu hủ tươi, đậu hủ khô, tương hột không lên men vì chúng đều còn chứa một ít chất độc. Đâu nành an toàn nhất có thể ăn không sợ độc là chao, tương hột lên men của Việt nam, natto , tempeh và bột miso của Nhật; và nước tương làm từ tương hột lên men. (Hunter, 2019)

Đặc biệt, đậu nành lên men chứa chất genistein,  ngoài tính chống oxit hoá, điều hoà hoc môn và chống ung thư, còn có khả năng ngừa và trị chứng loãng xương cách tự nhiên, làm cho xương mạnh chứ không như những loại thuốc tây trị loãng xương như Fosamax, Evista làm cho xương dễ gãy (GreenMedInfo Research Group, 2019) (xin xem chứng loãng xương)

  • Hạt có dầu và hột rau quả. Các loại hạt có dầu và hột rau cải chứa nhiều chất đạm cùng với những loạt dầu và khoáng chất có chất lương cao. Hạt hạnh nhân, hạt điều, hạt pistachio, hạt hướng dương, hạt óc chó (walnut), hạt bí đỏ (pumpkin seed) đậu phụng chứa khoảng 18- 30% chất đạm. Nhiều nhất là hạt cây gai (hemp seeds) – với 32% chất đạm, hơn gấp đôi lượng đạm trong hạt chia (15%) (SelfNutritiondata.com)  Hạt cây gai là một trong những nguồn chất đạm tốt nhất, không những vì lượng đạm cao và vì chứa mỡ với tỉ lệ omega 6/ omega 3 tốt nhất và  nhiều omega GLA chống viêm (chứ không gây viêm như omega 6 thông thường) (Crichton-Stuart, 2018)
  • Mễ cốc :

Kiều mạch , qui noa , amaranth  chứa nhiều chất đạm, – khoảng 13-14% trọng lương sống. Lượng chất đạm trong lúa gạo và nếp cũng không tệ (khoảng 8-9%).

  • Cơm độn đậu là thức ăn đạm toàn hảo:

Mễ cốc, đậu và hạt chứa nhiều chất đạm, nhưng phần lớn không chứa đủ các loại axit amino thiết yếu. Ăn chung với nhau chúng có thể cung cấp cho chúng ta bữa ăn đầy đủ hổn hợp chất đạm toàn hảo có đủ 9 loại đạm thiết yếu. Thật ra chỉ cần ăn cơm trộn đậu (còn gọi là cơm ghế đậu) là chúng ta có đủ mọi thứ đạm thiết yếu. Lý do là vì gạo không có đủ chất đạm thiết yếu lysine trong khi đó đậu có nhiều lysine. Ngược lại gạo có nhiều chất đạm methionine trong khi đậu lại thiếu methionine. (Bushak, 2019).

Có lẽ nhờ ăn cơm ghế đậu, xôi đậu xanh, xội đậu đen, xôi đậu đỏ chấm muối mè đậu phụng mà dân nghèo Việt nam qua bao đời vẫn đủ dinh dưỡng làm việc nặng nề. Tuy nhiên đậu lúc nào cũng đắt và không nhiều nên ở nhà quê cũng thỉnh thoảng mới được cơm trộn đậu hoặc xôi đậu. Nhớ lại lúc còn nhỏ khi nào được ăn món này là tôi thấy sung sướng lắm. Bây giờ mới biết là cơm trộn đậu + muối mè đậu phụng ai ăn cũng thấy ngon lành vì nó chứa đầy đủ chất đạm.

(Nhớ ngâm đậu qua đêm trước khi nấu chung với gạo).

Đâu xanh không chỉ chứa khá nhiều chất đạm (25%) mà còn chứa nhiều chất dinh dưỡng khác giúp chúng ta chậm già,  có làn da sáng lên, có tóc mạnh, dày và óng ánh; chuyển hoá dinh  dưỡng hữu hiệu, kiểm soát cholestrerol, dễ tiêu hoá, giảm mỡ ở bụng, cải thiện nướu răng, kiểm soát huyết áp (giảm nếu cần), giải độc cơ thể (Susie, 2018). Vì vậy, một chén xôi hay cháo đậu xanh (xin thử 1 đậu – 2 gạo) điểm tâm chắc có lợi ích cho mọi người chúng ta.

Xin Lưu ý: Bài này có mục đích thông tin chứ không thay thế hướng dẫn của bác sĩ hay y sĩ chăm sóc sức khoẻ quý bạn.

Xin cảm ơn quý bạn đã đọc. Mong được đọc ý kiến phản hồi, bổ túc và kinh nghiệm bản thân của quý bạn. Xin cảm ơn.

Tham khảo:

Bushak, L. (2019). The protein in rice and beans. Livestrong.com https://www.livestrong.com/article/351077-the-protein-in-rice-beans/

Crichton-Stuart, C. (2018) Health Benefits of hemp seeds. MedicalNewsToday. https://www.medicalnewstoday.com/articles/323037.php

Eatingwell (2019). Why Cooking Kidney Beans in Your Slow Cooker Can Make You Sick. http://www.eatingwell.com/article/291149/why-cooking-kidney-beans-in-your-slow-cooker-can-make-you-sick/

GreenMedInfo Research Group (2019) Genistein: The Soy Nutrient That Puts Bone Drugs to Shame. https://www.greenmedinfo.health/blog/genistein-soy-nutrient-puts-bone-drugs-shame

Hunter, B.T. (2019) The Downside of Soybean Consumption. Nutrition Digest Volume 38 No 2 Published by the American Nutrition Association. http://americannutritionassociation.org/newsletter/downside-soybean-consumption-0

Melina, V., Craig, W. & Levin, S. (2016) Position of the Academy of Nutrition and Dietetics: Vegetarian Diets. J Acad Nutr Diet. 2016 Dec;116(12):1970-1980. doi: 10.1016/j.jand.2016.09.025.

NHa (2019) Food Advisory Consumer Service. (FACS) S.A. https://foodfacts.org.za/protein-alternatives-pulses-legumes/

Nutritious Life (n.d.) The Essential Guide to Plant-Based Protein. https://nutritiouslife.com/eat-empowered/plant-based-protein-guide/

Rodhouse, J.C., Haugh, C.A., Roberts, D. & Gilbert, R.J. (1990) Red kidney bean poisoning in the UK: an analysis of 50 suspected incidents between 1976 and 1989. Epidemiol Infect.1990 Dec: 105(3): 485-491.

Susie (2018) Health benefits of Mung beans. Facty Health. URL: https://facty.com/food/nutrition/health-benefits-of-mung-beans/

Triệu chứng thiếu Can-xi (Calcium)

Can-xi hay Calcium là khoáng chất có khối lượng lớn nhất trong cơ thể (khoảng 1,4 kilo). 99% calcium của cơ thể nằm trong xương và răng. Tuy nhiên 1% calcium còn lại nằm bên trong các tế bào cơ thể và  trong máu, bạch huyết (lymph) và lưu chất trong cơ thể (body fluids). Phần calcium này tuy nhỏ nhưng đóng vai trò rất thiết yếu trong việc điều hợp hoạt động cơ thể, từ diễn trình đông máu đến vận động cơ bắp, khởi động các enzymes và nhiều quy trình vi bào (cellular processes) trong cơ thể. Cơ thể cần Calcium để kiểm soát lượng magnesium, phốt pho và potassium trong máu . Những khoáng chất này làm việc với nhau để giữ cân bằng với nhau. Vì vậy cần nên tránh tình trạng thiếu calcium cũng như thiếu magnesium và postassium.

Cơ thể thường cần hấp thụ mỗi ngày 1 gram calcium nguyên chất (elemental) mỗi ngày. Tuy nhiên đàn bà trên 50 tuổi và đàn ông trên 70 tuổi cần nhiều hơn, trung bình 1.2 gram calcium nguyên chất một ngày..

Thiếu calcium lâu dài có thể gây những triêu chứng sau đây :

  • Xương dòn, yếu, dễ gãy vì chứng loãng xương.
  • Rối loạn đông máu
  • Yếu sức và mệt mõi.
  • Co giật cơ bắp (muscle spasm) và chuột rút
  • Cảm giác tê hoặc bị kim đâm chich (feeling pins and needles)
  • Dễ cáu gắt
  • Trẻ em chậm lớn và chậm pháp triễn.
  • Cao huyết áp và nhịp tim bất thường
  • Trầm cảm, rối trí và hay quên

Nguyên nhân thiếu calcium trong máu

  • Ăn uống thức ăn không có đủ calcium – thường xãy ra cho những người ăn rau cải mà thiếu sản phẩm sữa có nhiều calcium.
  • Calcium không được hấp thụ đúng mức hoặc bị thất thoát vì
    • Thiếu vitamin D
    • Ăn uống nhiều thức ăn uống có chất caffeine
    • Ăn uống thức ăn có calcium cùng với thức ăn có axit oxalic. Axit oxalic ngăn cản không cho calcium hấp thụ vào cơ thể khiến calcium bị thải ra với phân. Những thức ăn có axit oxalic gồm  cây đại hoàng (rhubarb), củ cải beet, rau cần tây (celery), cà tím, và trái cây như dâu tây, trái việt quất (blueberries), trái mâm xôi (blackberries), trái lý gai (gooseberries), hạt có dầu như đâu phụng, hạt pecans (nuts) và thức uống như cacoa, trà, Ovaltine.
    • Nhiều magnesium và zinc tiêu thụ cùng lúc tiêu thụ calcium hoặc thức ăn chứa calcium.
    • Hệ tiêu hoá và lá lách bị bịnh như viêm lá lách, viêm đường ruột, xơ nang (cystic fibrosis)
    • Uống thuốc tây có ảnh hưởng giảm mức hấp thụ calcium. Điển hình là thuốc trị ợ hơi hay lỡ loét thuộc loại ức chê bơm proton (pump inhibitors) như Prilosec [omeprazole], Prevacid , Nexium [esomeprazole] và thuốc  phenytoin, phenobarbital, rifampin, corticosteroids
  • Thay đổi hoc môn – thường xãy ra cho phụ nữ sau mãn kinh.
  • Yếu thận làm giảm khả năng thu hồi calcium.
  • Ăn quá nhiều chất đam như thịt hoặc nhiều muối làm cho cơ thể tăng mức thải calcium.

Phương cách bồi bổ và tránh thiếu hụt calcium

Chúng ta có thể và nên phòng chống tình trạng thiếu calcium bằng cách bao gồm thức ăn chứa nhiều calcium trong chế độ ăn uống của mình.

Thức ăn giàu calcium gốm:

  • Thực phẩm gốc sữa bò như phó mat, sữa bò, và sữa chua
    • Rau màu xanh đậm như hoa cải xanh (broccoli) và cải xoăn (kale), rau cải ngọt, rau dền, okra.
    • Đâu phụ và đậu ve
    • Hạt vừng (mè), hạt hạnh nhân (almonds)
    • Trái sung (vả) khô (dried figs0
    • Yến mạch (oats)
    • Cá trạch, cá hồi , cá trích, cá mòi

(http://soha.vn/8-thuc-pham-giau-canxi-nhat-an-hang-ngay-se-khoi-can-uong-thuoc-20160712180740561.htm)

Tuy nhiên chúng ta phải để ý tránh những yếu tố làm giảm khả năng hấp thụ calcium kể trên. Chẳng hạn như

  • không uống thuốc tây có hại cho việc hấp thụ calcium trong vòng 2 tiếng đồng hồ trước và sau bữa ăn có calcium.
  • Không ăn thức ăn nhiều calcium cùng một lúc với rau quả có axit oxalic và axit phytic như cần tây,  dâu tây, đậu phộng…
  • Tránh uống magnesium và zinc gần bữa ăn có nhiều calcium.
  • Tránh ăn quá nhiều thịt và thức ăn mặn.

Trong khi đó chúng ta cần phơi nắng hay uống vitamin D cho đủ để tăng khả năng hấp thụ calcium. Lượng vitamin D cần có cho người trên 50 tuổi là 800-1000 đơn vị quốc tế (UI) mỗi ngày.

Đối với chứng bịnh loãng xương, chỉ thêm calcium trong chế độ ăn uống không đủ để làm xương bớt loãng. Xin xem “ cách trị bệnh loãng xương tự nhiên”

Bổ sung Calcium (Calcium supplements)

Ngay cả khi chúng ta có chế độ ăn uống lành mạnh, cân bằng, chúng ta vẫn thấy khó hấp thụ đủ calcium, nhất là khi chúng ta

  • chỉ ăn rau quả,
  • bị loãng xương,
  • không chịu được lactose trong sữa,
  • phải uống thuốc tây corticosteroids dài hạn.
  • Bị rối loạn viêm đường ruột, bệnh celiac (không chịu được thức ăn có gluten nhất là trong lúa mì)

Trong những trường hợp này, thuốc bổ sung calcium có thể giúp chúng ta hấp thụ đủ calcium. Chúng ta nên hỏi ý kiến của bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để biết có nên uống thuốc bổ sung calcium hay không và nên uống loại nào, bao nhiêu và thế nào uống thế nào.

Thiếu calcium trong máu gây triệu chứng bịnh, nhưng nhiều calcium quá trong máu cũng có thể gây nguy hiểm cho sức khoẻ. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy dùng thuốc bổ sung calcium làm mức calcium trong máu vọt lên cao thình lình có thể có hại cho tim. Nhiều calcium quá trong máu cũng có thể tạo mãng mỡ trên thành mạch máu, làm cứng mạch máu và có thể làm đứng tim (heart attacks) hay gây đột quỵ (strokes). Một số nghiên cứu khác nếu lên nguy cơ ung thư tiền liêt tuyến lien hệ đến calcium cao trong máu. Vì vậy hấp thụ thụ calcium qua chế độ ăn uống là tốt nhất.

Nếu cần phải uống thuốc bổ sung calcium thì nên uống liều thấp mỗi lần. Có 4 loại thông dụng sau đây:

  • Calcium carbonate (40 % là calcium nguyên chất)
  • Calcium citrate (21% là calcium nguyên chất)
  • Calcium gluconate (9 % là calcium nguyên chất)
  • Calcium lactate (13 % là calcium nguyên chất)

Phản ứng phụ bất lợi

Không phải tất cả các loại thuốc bổ sung trên đều thích hợp cho mọi người. Phản ứng phụ không nhiều nhưng cũng có thể gồm táo bón, no hơi, buồn nôn đối với một số người. Calcium carbonate là loại bổ sung rẽ nhất nhưng cũng thường gây táo bón nhất. Chúng ta phải thử mới biết thứ nào hợp nhất cho mình.

Phản ứng với thuốc trị bịnh

Ngoài ra thuốc bổ sung calcium có thể phản ứng với những thuốc tậy chúng ta đang uống, nhất là thuốc huyết áp, thuốc trị tuyến giáp trạng, trụ sinh ,.. Vì vậy nên hỏi ý dược sĩ hay bác sĩ trước khi dùng thuốc bổ sung calcium.X

Xin Lưu ý: Bài này chỉ có mục đích thong tin chứ không chỉ cách trị bệnh.

Tham khảo:

Gropper S.S. & Smith, J.L. (2013)  Advanced Nutrition and Human Metabolism. International Edition (6th edition). WADSWORTH CENGAGE Learning. Canada

Khan, A. and Ana Gotter, A (2018). Hypocalcemia (Calcium deficiency Diseases). Healthline. https://www.healthline.com/health/calcium-deficiency-disease

Levy, J, (2018). Calcium deficiency. Are supplements the answer? https://draxe.com/calcium-deficiency/

Lewis JL III. (n.d.). Hypocalcemia (low level of calcium in the blood). 
merckmanuals.com/home/hormonal-and-metabolic-disorders/electrolyte-balance/hypocalcemia-low-level-of-calcium-in-the-blood

Mayo Clinic Staff. (2018) Calcium and calcium supplements: Achieving the right balance

https://www.mayoclinic.org/healthy-lifestyle/nutrition-and-healthy-eating/in-depth/calcium-supplements/art-20047097

Whitbread, D. (2019). 10 top foods highest in calcium. Myfooddata

https://www.myfooddata.com/articles/foods-high-in-calcium.php

T

Bệnh Loãng xương (Osteoporosis)

Phân nửa giới nữ và một phần tư nam giới trên 50 tuổi bị gãy xương vì bịnh loãng xương. 20 phần trăm người bị gãy xương mông chết trong vòng 1 năm và một phần ba thì không còn tự lo cho mình được nữa.

Chúng ta có thể phòng ngừa chứng loãng xương bằng cách ăn uống đầy đủ thức ăn có can–xi, vitamin D (hay hằng ngày phơi nắng đủ), rau quả, thức ăn chứa nhiều potassium, magnesium, chất đạm, vitamin C và vitamin K suốt cả đời từ lúc còn trẻ. Đổng thời chúng ta cần giới hạn tiêu thụ nước ngọt (chai hay hộp) / cà fê  và cần tập thể dục chịu nặng và tăng cường cơ bắp đều đều.

Nếu bị loãng xương thì ngoài cách ăn uống và sinh hoạt trên, chúng ta cần phải

  • Tái tạo cơ cấu căn bản của xương và sụn bằng thuốc bổ sung chứa glucosamine, chondroitin, MSM, Collagen, Gelatin, and Hyaluronic Acid
  • Làm cho xương mạnh khoẻ lại bằng cách bồi dưỡng xương với những chất dinh dưỡng  thiết yếu như  calcium, magnesium, vitamin D, Vitamin K2,  bô ron, strontium
  • Giảm đau và viêm để giúp xương chữa lành nhanh chóng và dễ dàng hơn bằng cách mỗi ngày bổ sung dầu cá hoặc dầu cây gai (hempseed) chứa nhiều ô-mê ga 3, uống trà xanh Matcha, ăn 1 nắm hạt thì là (fennel seeds), dầu dừa, nghệ, gừng, tỏi, ớt và
    • tránh uống rượu, tránh ăn đường, tránh thức ăn nhất là thịt biến chế, tránh dầu ăn thực vật (ngoại trừ dầu dừa).
  1. Sơ lược bệnh

“Bệnh loãng xương, hay còn gọi là bệnh giòn xương hoặc xốp xương, là hiện tượng xương liên tục mỏng dần và mật độ chất trong xương ngày càng thưa dần, điều này khiến xương giòn hơn, dễ tổn thương và dễ bị gãy dù chỉ bị chấn thương nhẹ.”

“Xương là một cơ quan luôn trong trạng thái liên tục đổi mới, xương mới sẽ liên tục được tạo ra và xương cũ bị phá vỡ. Khi còn trẻ, cơ thể tạo ra xương mới nhanh hơn, do đó khối lượng xương sẽ tăng lên. Hầu hết mọi người đạt được khối lượng xương cao nhất vào khoảng năm 20 tuổi. Khi lớn tuổi, khối lượng xương bị mất đi nhanh hơn được tạo ra, từ đó gây nên bệnh loãng xương.” (Nguồn: https://www.vinmec.com/vi/benh/loang-xuong-3027/)

Hình dưới đây cho thấy cấu trúc xương bình thường (hình 1 từ trái), xương loãng (hình 2 từ trái), lưng bình thường (hình 3) và lưng người loãng xương (hình 4)

Cơ cấu xương bình thường và xương bị loãng
Bình thường Loãng xương

(Nguồn: https://www.life-saving-naturalcures-and-naturalremedies.com/natural-cures-for-osteoporosis.html

B.  Triệu chứng:

Không nên coi thường chứng loãng xương vì một khi xương yếu và gãy thì gay go mới phục hồi và chữa trị được.Gãy xương hoặc phẩu thuật để chỉnh lại, có  thể gây biến chứng nguy hiểm cho tánh mạng và gây tật nguyền vĩnh viễn. Xương bị gãy có thể giới hạn khả năng di chuyển, sinh hoạt và gây tuyệt vọng, sầu khổ cho mình và cho người thân.

Một khi bị loãng xương thì sau đây là những triệu chứng thường gặp nhất

  • Nứt hoăc gãy xương, nhất là xương ở mông, cột sống và cổ tay. Xương chân, đầu gối và nơi khác trong cơ thể cũng có thể bị ảnh hưởng. (5)
  • Thấy khó khăn, bị giới hạn trong việc đi lại và sinh hoạt hằng ngày. Người già bị gãy xương cần có người chăm sóc lâu dài.
  • Đau xương, có khi đau thường xuyên và đau gắt, dữ dội.
  • Lùn đi, teo người lại
  • Khòm lưng vì cột sống yếu đi.
  • Có cảm giác cô đơn hay trầm cảm.
  • Dễ tử vong hơn bình thường. Khoảng 20 phần trăm người lớn tuổi bị gãy xương mông chết trong vòng 1 năm.

C. Nguyên Nhân

Bệnh loãng xương do nhiều yếu tố gây nên. Những nguyên nhân chính gồm

  • Lối sống sinh hoạt không hợp lý, ít vận động
  • Tuổi già
  • Có chế độ ăn uống thiếu dinh dưỡng nhất là những chất cần thiết cho sức khoẻ xương như canxi, phốt pho và vitamin D, K.
  • Giới tính: nữ giới có nguy cơ mắc bệnh loãng xương nhiều hơn nam giới (vì qua tuổi mãn kinh, lượng hoc môn estrogen cần thiết cho xương phát triển suy giảm nhanh chóng). Khi thiếu estrogen thì xương bị huỷ  nhiều hơn xương mới tạo.
  • Lượng canxi tạo xương lúc trẻ không được bổ sung đầy đủ. Khi về già, cùng với sự lão hóa, quá trình tạo xương giảm xuống và quá trình hủy xương diễn ra nhanh, mạnh khiến cho mật độ xương giảm sút, làm cho xương giòn và yếu, giảm sức chịu lực và dễ gãy hơn.”
  • Từng bị những bịnh như bịnh tự miễn, bịnh phổi, yếu gan, yếu thận.
  • Thiếu vitamin D lâu dài.
  • Dùng dài hạn một số thuốc tây có phản ứng hại cho xương như

– loại thuốc ức chế bơm proton dung để chữa no hơi, ợ chua, lở bao tử (omeprazole, lansoprazole, rabeprazole, esomeprazole, Prilosec, Prevacid, Dexilent, aspirin, Nexium, Zegerid, Naproxen,

– loại thuốc SSRIs trị trầm cảm (antidepressants) như Citalopram, Escitalopram, Fluoxetine, Fluvoxamine, Paroxetine, Sertraline.

– Loại thuốc ức chế aromatase (dung để trị ung thư vú bằng cách ức chế qui trình chuyển androgen thành estrogen) như letrozole, anastrozole, testolactone, exemestane.

– Loại thuốc trị hiếm muộn, trị rối loạn hóc môn

– Loại thuốc chống động kinh và

– Thuốc steroids như glucocorticoids or corticosteroids.

  • Bị căng thẳng tình cảm và trầm cảm cao độ.
  • Sút cân với chế độ ăn uống giới hạn khắt khe gây thiếu dinh dưỡng.

Những bệnh gây nguy cơ loãng xương có thể nêu lên là

  • Ung thư vú hay tiền liệt tuyến
  • Tiểu đường
  • Bệnh tuyến giáp trạng (Hyperparathyroidism or hyperthyroidism)
  • Hội chứng Cushing (do cơ thể tạo quá nhiều hoc môn cortisol)
  • Viêm ruột
  • Bệnh tự miễn như phong thấp (RA) , sài lang (lupus), đa xơ cứng (MS), viêm cột sống (ankylosing spondylitis)
  • Bịnh Parkinson
  • Phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), kể cả khí thủng (emphysema)
  • Hư thận mãn tính (chronic kidney disease)
  • Bệnh gan, kể cả xơ gan (cirrhosis)
  • Thay nội tạng


D. Phòng ngừa và chữa trị.

  • Tây y chữa trị bệnh loãng xương bằng những loại thuốc giúp cản qui trình huỷ xương như Bisphosphonates, Thuốc Ức chế Rank Ligand. Tây y cũng khuyên thay đổi chế độ ăn uống và tăng thể dục. Tuy nhiên những thuốc tây là hổn hợp nhân tạo (synthetic) này có phản ứng rất tai hại. Chúng có thể tăng tỉ trọng xương làm xương đặc hơn với thành phần hư hoại đáng phải huỷ chứ không phải loại xương mới lành mạnh. Vì vậy một trong những phản ứng phụ gồm cả tăng nguy cơ gãy xương. Những phản ứng tai hại khác còn tệ hại hơn là gây ung thư thực quản, loạn nhịp tim..
  • Liệu pháp tự nhiên:

Loãng xương là kết quả của một tiến trình lâu năm nên cũng không có cách chữa trị nhanh chóng. Tuy nhiên, khi áp dụng triệt để liệu pháp tự nhiên mỗi ngày, chúng ta có thể thấy dễ chịu một cách đáng để ý sau 3-4 tuần. Còn muốn hết hẵn thường cần 1 năm hoạc lâu hơn.

Liệu pháp tự nhiên gồm ba phần:

Thứ nhất là tái tạo cơ sở cấu trúc xương và xương sụn. Cơ sở cấu trúc xương (bone matrix) là nền tảng của xương giống như nền nhà. Xương sụn là phần bảo vệ xương khoi bị hư mòn vì va xát. Chúng ta cần thuốc bổ sung chứa glucosamine, chondroitin, MSM, Collagen, Gelatin, and Hyaluronic Acid để tái tạo cơ sở cấu trúc xương đã bị thoái hoá .

Tất cả những thứ này đều cần thiết để tái tạo cấu trúc cơ bản cho xương và sụn.. Chondroitin và axit hyaluronic có vai trò then chốt làm trơn khớp và cơ bắp. Chúng ta phải kiên trì uống những chất dinh dưỡng đó, không bỏ ngày nào. Nhưng cũng phải cẩn thận chọn nguồn cung cấp có chất lượng và đang tin tưởng. Thường thường tiền nào của nấy, nhưng nên đọc phản hồi của những người tiêu dùng trước khi chọn thuốc bổ sung. 

 Kế đó, quý bạn nên nấu và tiêu thụ nước hầm xương mỗi ngày. Nước xương hầm (bone broth) chứa đầy tất cả những thành phần cơ bản xây dựng  xương, khớp và mô nối kết. Nó chứa mọi chất dinh dưỡng cần có để chữa trị ( hay đảo ngược) chứng loãng xương. Hầm xương bò, xương heo, xương gà, xương cừu hay xương cá trong ít nhất 4-6 tiếng đồng hồ  là có được nước hầm xương ngon lành, bổ dưỡng cho xương.

Thứ hai là phải làm cho xương mạnh khoẻ trở lại bằng cách bồi bổ chúng với những chất dinh dưỡng xương thiết yếu như can xi, magnesium, bô ron, vitamin D, strontium và vitamin K. Can xi chiếm 70 % trọng lượng xương, nhưng không phải là chất dinh dưỡng quan trọng nhất cho xương. Hơn nữa nhiều can xi quá có thể tăng nguy cơ đột quỵ và đứng tim (strokes và heart attacks). Cấu tạo xương gồm hàng tá khoáng chất, chúng hoà hợp với nhau tạo nên xương mạnh mẽ. Calcium, magnesium, boron và strontium là 4 khoáng chất chủ yếu, nhưng còn nhiều khoáng chất khác với lượng nhỏ nhưng không kém quan trọng. Cần uống liều lượng thích hợp mới bảo đảm hấp thụ đầy đủ. Vitamin D và vitamin K2 cũng cực kỳ thiết yếu. Thiếu hai vitamin này thì không khoáng chất nào có thể tới xương và dính ở đó.

Calcium: Tốt nhất  là chọn coral calcium loại tốt có thêm vitamin D.

Magnesium tốt nhất là loại magnesium lỏng trong bình có thể xịt lên da bụng, chân và cánh tay mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần xịt 10-15 lần mỗi chổ.

Bô ron: Có thể bổ sung bằng thuốc bổ sung bô ron. Hàn the (borax) có chứa boron , Nhưng có nhiều quan điểm khác nhau về tai hại của hàn the cho sức khoẻ, nên chỉ dùng borax nếu được y sĩ bảo đảm an toàn.

Strontum có bán dưới dạng thuốc bổ sung. Liều lượng 680 mg 1 ngày trong 1 thử nghiệm lâm sàng cho thấy có công hiệu giảm hơn 40% nguy cơ gãy xương. Hiệu Doctor’s Best Strontium bone maker được nhiều người ưa chuộng.

Vitamin D: Cần 8.000-10.000 UI mỗi ngày mới đủ để trị loãng xương.

Vitamin K2: Có thể trước tiên dùng thuốc bổ sung probiotics nhưng vitamin K có nhiều trong thức ăn lên men nên cố ăn uống nhiều thức ăn lên men, như kim chi, cải chua muối, natto, sửa chua.

Thứ ba là phải giảm đau và viêm để qui trình chữa lành xương không bị ngăn trở bằng cách mỗi ngày bổ sung

  • dầu cá hoặc dầu cây gai (hempseed) chứa nhiều ô-mê ga 3,
  • uống trà xanh Matcha: Trà xanh Matcha chứa rất nhiều chất chống oxyt hoá, nhiều gấp 17 lần blueberries và 7 lần nhiều hơn so co la đậm (dark chocolate). Người Nhật dùng trà xanh, nhất là Trà xanh Matcha, và đậu nành lên men Natto là nhóm người ít bị loãng xương và gãy xương nhất thế giới.
  • ăn 1 nắm hạt thì là (fennel seeds). Hạt thì là có tính chất chống viêm và chống oxit hoá rất mạnh. Thêm vào đó hạt thì là chứa nhiều can xi, magnesium và những khoáng chất chất cần cho xương.
  • dung dầu dừa thay cho dầu ăn. Dầu dừa chứa axit lauric có tính chống viêm và chống đau rất hay. Dầu dừa cũng giúp cơ thể tang hấp thụ can xi và magnesium. Nó lại còn giúp đảo ngược chứng loãng xương do thiếu hoc mon estrogen gây ra nên rất hợp cho giới nữ. Ngoài ra hợp  chất chống oxy hoá của dầu dừa giúp bảo tồn cơ cấu của xương và phòng ngừa tình trạng huỷ xương do tình trạng thay đổi hoc môn gây ra. Xin nhớ là chỉ nên dung dầu dừa hữu cơ nguyên chất (organic virgin coconut oil).
  • dùng nghệ, gừng, tỏi, ớt trong thức ăn. Đây là những loại thức ăn gia vị tự nhiên chống viêm, chống oxit hoá rất tốt.

Tránh uống rượu, tránh ăn đường, tránh thức ăn nhất là thịt biến chế, tránh dầu ăn thực vật (ngoại trừ dầu dừa) cũng cần thiết để tránh cho cơ thể không bị thêm viêm và đau.

Lưu ý: Bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay ý kiến y sĩ.

Tham khảo

Goldschmidt, V. (2016) Top 5 Reasons Why You Should Never Take Osteoporosis Drugs. SaveInstitute. https://saveourbones.com/top-5-reasons-why-you-should-never-take-osteoporosis-drugs/#

Gropper S.S. & Smith, J.L. (2013)  Advanced Nutrition and Human Metabolism. International Edition (6th edition). WADSWORTH CENGAGE Learning. Canada

Levy, J. (2018). Osteoporosis Treatment and 7 natural ways to boost bone density. https://draxe.com/osteoporosis-treatment/

Sawyer, T. (2019). Best Natural Treatments for Osteoporosis & Bone Loss… https://www.life-saving-naturalcures-and-naturalremedies.com/natural-cures-for-osteoporosis.html

Lợi ích tuyệt vời của dầu dừa

Lợi ích sức khoẻ của dầu dừa

Dầu dừa có thể giúp cơ thể khoẻ mạnh, tăng năng lực, ngăn ngừa và giảm triệu chứng nhiều bệnh mãn tính như bệnh tim mạch, bệnh ung thư, mất trí nhớ, lỡ loét đường ruột, tiểu đường, viêm khớp, bệnh viêm da, hư tóc, viêm nướu, mập phì, khô da, viêm lá lách, loãng xương và bịnh già. Kinh nghiệm dân gian ở nhiều quốc gia Á châu và Thái bình Dương và kết quả nghiên cứu khoa học đã xác nhận như vậy. Ngoài ra dầu dừa là món dầu mỡ tốt nhất dùng để nấu thức ăn vì nó có tính bảo hoà, không biến chất ở nhiệt độ cao.

Sơ lược

Với khoảng 1500 nghiên cứu khoa học về đặc tính và lợi ích sức khoẻ của dầu dừa, dầu dừa được công nhận là thực phẩm tự nhiên siêu hạng. Mặc dầu trong năm 2018, TS Karin Michels, một giáo sư ở Đại học Harvard tuyên bố dầu dừa là độc hại, bà ta và không ai đưa ra được bằng chứng cụ thể cho thấy có một người nào vì tiêu thụ dừa mà hại đến sức khoẻ. Ngược lại bằng chứng về lợi ích của dầu dừa cho sức khoẻ thì hằng hà sa số.

Bằng chứng hùng hồn nhất là rất hiếm người bị bịnh tim mạch, ung thư, mất trí nhớ và tiểu đường ở những vùng khi cơm dừa và dầu dừa  trước năm 1960 là nguồn chất béo dinh dưỡng chủ yếu, như Việt nam,  Tích lan, Thái Lan, Mã lai, Ấn đô, Nam dương, và các đảoThái bình Dương. Theo kết quả nghiên cứu về lien hệ giữa mức tiêu thụ dừa và sức khoẻ của cư dân đảo Tích Lan, Pakapuka và Tolekau, khi dừa là nguồn mỡ chính trong dinh dưỡng hàng ngày, cư dân những đảo này không hề biết các triệu chứng bịnh tim mạch, ung thư ruột, xơ vữa động mạch,  trĩ, lỡ loét đường ruột, ruột dư… (Prior, Davidson, Salmond & Czochanska, 1981 trích trong sách của  Bruce Fife, 1999).

Ngoài cách dùng dầu dừa để nấu ăn, chúng ta còn có thể ăn mỗi ngày 3 muỗng canh dầu dừa để bảo vệ sức khoẻ bằng cách hoà 1-2 muỗng canh (tablespoon – muỗng lớn) dầu dừa vào cốc cà phê hoặc vào chén canh rau, hoặc chén cháo hoặc rưới vào sà lách trộn.

Xin thận trọng: Dầu dừa có nhiều lợi ích cho sức khoẻ, nhưng chỉ là một phần trong chế độ ăn uống lành mạnh. Ăn dầu dừa nhiều mà thiếu rau quả có chất xơ sẽ tạo nên tình trạng mất thăng bằng có thể có hại cho sức khoẻ. 

Tốt nhất là dùng dầu dừa ép lạnh nguyên chất. Tuy nhiên dầu dừa sản xuát bằng phương pháp thủ công, theo qui trình nạo cơm dừa, vắt nước cơm dừa, nấu cho bay hơi chỉ còn dầu như cách của cư dân Bến tre (https://www.youtube.com/watch?v=PZgBLePUVhE&t=553s) hoặc cách làm mới nhanh hơn ( https://www.youtube.com/watch?v=LYTrQqn3FCc ) , cũng không làm mất các hoạt chất bổ dưỡng của dầu dừa. Nên tránh dầu dừa khử mùi vì có thể có thêm hoá chất độc hại dùng trong qui trình khử mùi.

Thành phần axit béo chủ yếu dầu dừa gồm:

– Axit béo bảo hoà: 88% gồm

                                                      Axit caprylic (8 car bon): 8%

Axit capric (10 car bon): 7%

                                                    Axit lauric (12  car bon): 48%

                                                      Axit Myristic: (14 car bon): 16%

                                                      Axit palmitic ( 16 car bon): 10%

Axit béo  không bảo hoà: 12%

                                                      Axit oleic: 18 carbon :  6.5%

                                                      Axit khác:                               5%

(Nguồn:  https://en.wikipedia.org/wiki/Coconut_oil)

Axit béo bảo hoà trong dầu dừa không giống axit béo bảo hoà trong mỡ động vật và các nguồn khác ở chổ hầu hết axit bảo hoà của dầu dừa là axit tầm trung, có phân tử nhỏ, có thể đi thẳng vào máu và gan, thành nhiên liệu cho cơ thể – nhất là cho não bộ- có hoạt tính sát trùng, tăng khả năng hấp thụ vitamin và khoáng chất của cơ thể, và không trở thành mỡ trong cơ thể. Dầu dừa chủ yếu là axit béo bảo hoà, rất ổn định, không bị oxy hoá, và không biến chất trong quá trình nấu ăn vì vậy là loại dầu mỡ tốt nhất để nấu ăn.

Lợi ích sức khoẻ: Theo kinh nghiệm dân gian và kết quả nghiên cứu khoa học, dầu dừa được công nhận có những lợi ích sức khoẻ sau đây:

  1. Ngăn ngừa bịnh tim mạch và cao huyết áp. Theo các nghiên cứu lâm sàng sử dụng dầu dừa tự nhiên  với hơn 60 % axit béo chuỗi cac bon dài hạng trung, dầu dừa có tác dụng tăng mức mỡ máu tốt (HDL cholesterol) và  giảm vòng bụng (Cardioso, de Oliverira , Luiz & Rosa, 2015; Dayrit, 2014, trang 162-3). Vì vậy tiêu thụ dầu dừa (thay vì dầu tinh chế) sẽ giúp ngăn ngừa bịnh tim mạch và cao huyết áp. Trước năm 1978, Tích Lan là nơi cư dân ít bị bịnh tim mạch nhất khi mỗi người tiêu thụ trung bình 130 trái dừa 1 năm. Đến năm 2003 thì bịnh tim mạch gia tăng nhanh khi mức tiêu thụ dừa giảm còn 100-110 trái dừa/đầu người /năm. (Amarasiri & Dissanayake, 2006).
  2. Cải thiện trí nhớ và chức năng não bộ cho bệnh nhân Alzheimer’s và người già.  Khi ăn vào, axit béo chuổi cac bon tầm trung (MCFA) trong dầu dừa sẽ vào thẳng gan. Gan sẽ chuyển nó thành ketones. Ketones có thể vượt qua hang rào máu-não bộ (blood-brain barrier) trở thành năng lượng cho não. Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy não bộ tạo ra insulin riêng để chuyển biến glucose và cung cấp năng lượng cho não. Vì não bộ của người bệnh Alheimer’s mất khả năng tạo insulin này, ketones trong máu tạo ra ở gan từ dầu dừa được não bộ sử dụng như một nguồn năng lượng thay thế để chữa lành chức năng não bộ – và trí nhớ (Nafar & Mearow , 2014; Newport et al, 2015). Đã có nhiều kết quả nghiên cứu lâm sàng (Ota et al, 2019; Croteau et al, 2018) chứng tỏ sử dụng dầu dừa giúp những người bị bịnh Alzheimers phục hồi trí nhớ và chức năng trí não rất đáng kể ngay sau khoảng 6 tuần lễ. Bác sĩ Mary Newport là một trong những người đầu tiên dung dầu dừa để phục hồi trí nhớ của chồng mình một cách đáng kể chỉ sau 35 ngày (Newport, 2008).

3. Trị nhiễm trùng đường tiểu,  nhiễm trùng thận và bảo vệ gan. Dầu dừa chứa axit béo tầm trung, nhất là axit caprylic và axit capric có tính diệt vi sinh trùng rất mạnh. Hầu hết nhiễm trùng đường tiểu là do vi trùng E. Coli gây ra. Kết quả nghiên cứu của Nair et al (2005) đang trên tạp chí khoa học Sửa bò (J. Dairy Science) khám phá  axit caprylic có tác dụng diệt E. Coli , vi trùng dòng Staphylococcus  và Streptococcus  rất công hiệu. Vì vậy dầu dừa có thể dùng để trị nhiễm trùng đường tiểu, bảo vệ thận, gan và đường ruột khỏi tai hại của vi trùng E. Coli.

4. Giảm viêm cơ thể và viêm khớp. Kết quả một công trình nghiên cứu  tại Ấn độ xác định dầu dừa giảm viêm và chữa trị thấp khớp hữu hiệu hơn thuốc tây thịnh hành. (Vysakh et al , 2014).

5. Phòng ngừa và trị ung thư.  Kết quả nghiên cứu đang trên tạp chí Cell Death Discov cho thấy axit lo-ric trong dầu dừa có tác dụng ngăn cản sự phát triển của tế bào ung thư ruột già và kích động cơ chế tự diệt trong những tế bào ung thư vú và tử cung (Lappano et al, 2017). Xin xem kinh nghiệm dùng dầu dừa chữa ung thư của Julie Figaro

6. Tăng cường hệ miễn nhiễm và tăng sức đề kháng của cơ thể. Vì 50 % dầu dừa là axit lauric có tác dụng diệt vi trùng, vi khuẩn và nấm vi sinh thuộc nhóm vi-sinh gram-positive (Kabara, Swieczkowski, Lonley, & Truant, 1972) nên khi dầu dừa là nguồn dinh dưỡng axit béo chính, cơ thể có thể có hệ miễn nhiễm và đề kháng rất lớn nhất là đối với những bịnh do vi trùng gram-positive gây nên như

  • nhiễm trùng gây viêm gồm cả nhiễm trùng da, viêm phổi, viêm màng tim, viêm khớp, viêm xương tuỷ, ung nhọt (pneumonia, endocarditis, septic arthritis, osteomyelitis, and abscesses),
  • viêm xoang, viêm màng não (sinusitis, meningitis),
  • nhiễm trùng sinh mủ như viêm họng, viêm dưới da, bệnh chốc lỡ, viêm quầng (pharyngitis, cellulitis, impetigo, erysipelas)
  • viêm thận (glomerulonephritis) sốt thấp khớp (rheumatic fever), viêm ống túi mật, nhiễm trùng đường tiểu,
  • viêm màng họng , viêm cơ tim, và chứng loạn nhịp tim (arrhythmias)
  • viêm dạ dày và ruột (gastroenteritis), viêm màng não trẻ sơ sinh (neonatal meningitis) và
  • nhiễm trùng máu.

(Sizar & Unakal, 2019)

7. Tăng sinh lực và sức chịu đựng. Dầu dừa dễ tiêu hoá , cung cấp năng lượng lâu dài hơn thức ăn khác và tăng nhịp độ chuyển hoá. Khi tiêu thụ dầu dừa ép lạnh cơ thể nhanh chóng được cung cấp năng lượng vì axit lauric, axit crapylic và capric trong dầu dừa đi thẳng tới gan để được biến thành năng lương.  Dầu dừa được các vận động viên điền kinh dùng khi tập luyện cung như khi tranh tài. Theo bác sĩ Axe,  dầu dừa, mật ong và hạt chia (chia seeds) một thứ 1 muỗng canh trộn với nhau rồi dùng 30 phút trước khi tập luyện hay bắt đầu công việc lao lực.

8. Cải thiện tiêu hoá, trị lỡ loét bao tử (stomach ulcers) và ruột già (ulcerative colitis). Dầu dừa giúp cơ thể hấp thụ vitamin D, A, K và E cũng như calcium và magnesium nên giúp cãi thiện tiêu hoá.  Nếu dùng dầu dừa cùng một lúc với dầu chứa ô mê ga 3 như dầu cá và dầu hạt lanh (flaxseed oil), công hiệu của nó tăng gấp đôi (Axe, 2018). Dầu dừa cũng giúp diệt những vi sinh độc hại trong đường ruột nên giảm viêm đường ruột và gíup ngăn ngừa cũng như chữa trị bịnh lỡ loét bao tử và đường ruột (Whiteman, 2017)

9. Giảm triệu chứng bịnh túi mật  (gallbladder disease) và viêm lá lách (pancreatitis). Lá lach không cần sản xuất enzyme để phân hoá axit béo chuổi tầm trung trong dầu dừa. Vì vậy lá lách sẽ không bị quá tải (và viêm) khi chúng ta tiêu thụ dầu dừa thay vì những chất béo khác. Thêm vào đó dầu dừa rất dễ tiêu hoá nên giúp cải thiện những bịnh liên quan đến túi mật khi chúng ta thay thế những chất béo khác bằng dầu dừa (Axe, n.d.; Fife, 1999).

10. Cải thiện tình trạng da  như khô da, mụn trứng cá (acne) (Nakatsuji et al, 2009), gầu (dandruff), viêm da (dermatitis) ( Elmore, Nance, Singleton & Lorenz, 2014).

11. Ngừa và trị bịnh sưng nướu (gum disease) và hư răng (tooth decay). Axit lauric chiếm 50% axit béo trong dầu dừa có hoạt tính chống viêm và diệt vi sinh độc hại. Súc miệng bằng dầu dừa để giữ vệ sinh răng miệng, chữa trị chứng sưng nướu, ngừa hư răng đã được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới từ ngàn năm qua. Công dụng của truyền thống này đã được xác nhận qua một cuộc nghiên cứu lâm sàng năm 2015 (Peedikayil,  Sreenivasan and Narayanan, 2015) Nếu muốn chữa lành chứng sưng nướu và bảo vệ răng, chúng ta cần súc miệng bằng dầu dừa 15- 20 phút ( giữ trong miệng) mỗi ngày (hoặc ít nhất 3 lần một tuần).  Nhớ nhổ dầu dừa ra và súc miệng kỹ càng sau đó.  Bịnh viêm nướu nếu không trị sớm để dây dưa có thể gây nhiễm trùng các nội tạng, nhất là tim vì vi sinh độc nhiễm vào nướu sẽ vào máu và xâm lăng nội tạng.

12. Ngừa và trị bịnh loãng xương (osteoporosis).  Kết quả nghiên cứu của Hayatullina et al năm 2016 chứng tỏ dầu dừa có tác dụng giúp ngừa và trị bịnh loãng xương rất tốt. Thứ nhất nhờ dầu dừa có hoạt tính chống oxit hoá và giảm áp lực ôxit hoá (oxidative stress). Thứ hai nhờ dầu dừa tăng (hay phục hồi) khả năng hấp thụ calcium và cân bằng hoc môn (Feranil, Duazo,  Kuzawa & Adair, 2011). 

13. Ngăn ngừa và cải thiện bịnh tiểu đường (Diabetes type 2 ). Học viện nghiên cứu y khoa Garvan tại Úc khám phá là chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa bảo  vệ tính nhạy ứng insulin bình thường của các tế bào trong cơ thể và làm giảm mỡ (giảm cân) cho những người có nhiều mỡ. Nói cách khác, chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa giúp cơ thể chữa lành bịnh tiểu đường (Turner, 2009). Theo TS Turner, sỡ dĩ dầu dừa có tác dụng này vì dầu dừa là một loại mỡ có chuổi a-xit mỡ tầm trung (medium chain fatty acids), có kích cở nhỏ đủ để vào thẳng tiểu thể (mitochondria)  nhà máy năng lượng – của các tế bào. Sự kiện này không khác gì trường hợp các tế bào phải dùng mỡ làm nhiên liệu trong lúc nhịn ăn theo nghiên cứu của Cahill ( 2006), nghĩa là làm các tế bào tăng nhạy ứng hay giảm tính đề kháng insulin – dẫn đến tác dụng chấm dứt bệnh tiểu đường. TS Turner còn giải thích: Khi ăn nhiều mỡ, cơ thể cố gắng bù chỉnh (compensate) bằng cách tăng khả năng oxit hoá mỡ. Chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa có tác dụng gia tăng khả năng oxit hoá ở bắp thịt hơn là các loại dầu mỡ khác, làm giảm mỡ chứa trong bắp thịt và cải thiện tác dụng của insulin. 

Nhiều người đã làm chứng là nhờ theo chế độ ăn uống nhiều dầu dừa (ít nhất 3 muỗng canh hay 50 – 60 phân khối chia ra làm 3 lần một ngày) họ đã hết bịnh tiểu đường trong vòng 1-2 tháng (Shilharvy, 2012)

14. Phòng ngừa và trị bịnh mập phì (nhất là ở vùng bụng). Nhiều kết quả nghiên cứu xác định axit béo chuổi tầm trung  trong dầu dừa có tác dụng đốt mỡ trắng, tăng tiêu thụ năng lựợng và làm giảm vòng bụng, ngược với tác dụng tăng vòng bụng của dầu đậu nành (Dayrit, 2014, trang 162-3)

15. Dầu dừa làm đẹp tóc, trị gầu, kích thích mọc tóc nhiều (thickening hair) nhờ có hoạt tính chống vi trùng (anti-microbial) mạnh, có axit lo rit và axit béo chuổi dài tầm trung  (medium chain fatty acids). Axit lo-rit  có phân tử lượng thấp và có thể thấm vào chân tóc, ngăn cản thất thoát chất đạm ( nên tóc không bị dòn và gãy) và  bồi dưỡng tóc với  vitamins, khoáng chất (Rele & Mohile , 2003). Vì vậy dầu dừa bổ dưỡng tóc, da đầu và giúp tóc mọc lại.

Muốn trị gầu và kích thích tóc mọc dày  thì xoa bóp 1 muỗng canh (muỗng lớn 15 phân khối) trộn với 10 giọt tinh dầu hương thảo (rosemary essential oil)  lên da đầu chừng 3 phút rồi chờ 30 phút sau gội đầu. Dầu dừa có thể dùng để chải gở tóc rối, bồi dưỡng tóc (hair conditioner) tuyệt vời. Nên biết rằng gầu không phải chỉ là do da đầu khô mà do loại nấm tên gọi là Malassezia globosa (Dr Axe, ) gây nên vì vậy dầu dừa với hoạt tính kháng sinh – kể cả nấm vi sinh-  có công hiệu trị gầu tốt nhất.

16. Giết chí tóc (head lice). Theo thử nghiệm lâm sàng đăng trong Tạp chí Nhi KHoa Âu châu, dầu dừa giết chí tóc hữu hiệu gấp đôi thuốc tây trị chí thông dụng Permetrin (Burgess, Brunton & Burgess, 2010) mà tránh được hoá chất độc hại trong thuốc tây.

 17. Trị bịnh ngứa miệng và bộ phận sinh dục do nhiễm trùng nấm Candida albican và nấm vi sinh (yeast infections) (Bergsson, Arnfinnsson & Thormar, 2001). Muốn hữu hiệu diệt trừ nấm Candida và các chứng nhiễm trùng nấm vi sinh khác phải 1. ngừng tiêu thụ đường chế biến (ngoại trừ đường trong trái cây rau quả) và ngũ cốc tinh chế (refined grains) 2.  ăn nhiều chất béo lành mạnh như dầu dừa, dầu ô liu. 3. Uống 1 muỗng canh dầu dừa  ba lần một ngày như chất dinh dưỡng phụ trợ.

18. Làm chậm già. Theo kết quả nghiên cứu đăng trên tạp chí  Food and Function, dầu dừa cải thiện mức chống ôc xít hoá và có thể làm chậm diễn trình lão hoá vì nó giảm gánh nặng làm việc cho gan và hạ áp lực ôc xy hoá (oxidative stress) (Arunima  & Rajamohan , 2013) . Dầu dừa cũng hổ trợ chức năng tẩy độc của gan. Để làm chậm già một cách tự nhiên, chúng ta nên ăn điểm tâm với 1 muỗng canh (tablespoon) dầu dừa chung với một ít quả mọng (berries). Đồng thời mỗi ngày có thể xoa dầu dừa trưc tiếp lên da.

19. Cân bằng hoc môn. Kết quả  nghiên cứu tình trạng sức khoẻ của phụ nữ Phi luât Tân cho thấy tiêu thụ nhiều dầu dừa tăng mức mỡ máu tốt (HDL cholesterol) giúp cân bằng hoc môn estrogen qua giai đoạn mãn kinh (Feranil, Duazo,  Kuzawa & Adair, 2011).  Những người thiếu estrogen thường bị loãng xương, vì vậy dầu dừa giúp ngăn ngừa bệnh loãng xương cho phụ nữ mãn kinh.

Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến và hướng dẫn của bác sĩ.

Xin xem kinh nghiệm của một số người dùng dầu dừa trị bịnh:

– của 1 chuyên gia y tế

Tham khảo:

Amarasiri, W.A.D.L. & Dissanayake A.S. (2006).  Coconut fats. THE CEYLON MEDICAL JOURNAL. Sri Lanka Medical Association. Volume 51, No. 2, December 2006 https://cmj.sljol.info/articles/10.4038/cmj.v51i2.1351/galley/1200/download/

Arunima S. & Rajamohan T. (2013). Effect of virgin coconut oil enriched diet on the antioxidant status and paraoxonase 1 activity in ameliorating the oxidative stress in rats – a comparative study. Food Funct. 2013 Sep;4(9):1402-9. doi: 10.1039/c3fo60085h https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23892389

 Burgess, I.F, Brunton, E.R. & Burgess, N.A. (2010) Clinical trial showing superiority of a coconut and anise spray over permethrin 0.43% lotion for head louse infestation, ISRCTN96469780. Eur J Pediatr. 2010 Jan;169(1):55-62. doi: 10.1007/s00431-009-0978-0. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19343362

Axe, J. (2018) 20 Coconut Oil Benefits for Your Brain, Heart, Joints + More! https://draxe.com/coconut-oil-benefits/

Bergsson, G., Arnfinnsson, J. & Thormar, H. (2001) In Vitro Killing of Candida albicans by Fatty Acids and Monoglycerides. Antimicrob Agents Chemother. 2001 Nov; 45(11): 3209–3212. doi: 10.1128/AAC.45.11.3209-3212.2001. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC90807/

Cardioso, A.A, de Oliverira , G. M.M., Luiz, R.R. & Rosa, G. (2015). A coconut extra virgin oil-rich diet increases HDL cholesterol and decreases waist circumference and body mass in coronary artery disease patients. Nutricion Hospitalaria. Nutr Hosp. 2015;32(5):2144-2152 http://www.nutricionhospitalaria.com/pdf/9642.pdf

Croteau E., Castellano C.A., Richard M.A., Fortier M., Nugent S., Lepage M., Duchesne S., Whittingstall K., Turcotte É.E., Bocti C., Fülöp T., Cunnane S.C. (2018). Ketogenic Medium Chain Triglycerides Increase Brain Energy Metabolism in Alzheimer’s Disease [Abstract] . J Alzheimers Dis. 2018;64(2):551-561. doi: 10.3233/JAD-180202.

Dayrit, F.M. (2014). Lauric Acid is a Medium-Chain Fatty Acid, Coconut Oil is a Medium-Chain Triglyceride -Review Article. Philippine Journal of Science 143 (2): 157-166, December 2014 ISSN 0031 – 7683. https://pdfs.semanticscholar.org/34bc/db43c84b418b4b309c1c6babe1c873dc900a.pdf

Elmore, L.K., Nance, G., Singleton, G., Lorenz, L. (2014) .Treatment of Dermal Infections With Topical Coconut Oil. A review of efficacy and safety of Cocos nucifera L. in treating skin infections. Natural Medicine Journal. May 2014 Vol. 6 Issue. https://www.naturalmedicinejournal.com/journal/2014-05/treatment-dermal-infections-topical-coconut-oil

Faizal C., Peedikayil, F.C., Prat Sreenivasan, P., & Narayanan, A. (2015). Effect of coconut oil in plaque related gingivitis — A preliminary report. Niger Med J. 2015 Mar-Apr; 56(2): 143–147. doi: 10.4103/0300-1652.153406

Feranil, A.B., Duazo, P.L., Kuzawa, C.W. & Adair, L.S. (2011). Coconut oil predicts a beneficial lipid profile in pre-menopausal women in the Philippines. Asia Pac J Clin Nutr. 2011; 20(2): 190–195. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3146349/

Fife, B. (1999). The coconut oil miracle. Penguin Group (USA) ISBN 1-58333-204-9

Hayatullina Z., Muhammad N., Mohamed N, Soelaiman I.N. (2016) Virgin coconut oil supplementation prevents bone loss in osteoporosis rat model [Abstract]. Evid Based Complement Alternat Med. 2012;2012:237236. Epub 2012 Sep 16. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23024690

Healthline (n.d.) 7 science-based benefits of MCT oil. https://www.healthline.com/nutrition/mct-oil-benefits#section2

Jockers (2017) Is coconut oil bad for your heart. https://drjockers.com/coconut-oil-bad/

Kabara, J.J, Swieczkowski, D.M. Lonley, A.J. & Truant, J.P. (1972) Fatty Acids and Derivatives as Antimicrobial Agents. ANTIMICROBIAL AGENTS AND CHEMOTHERAPY, July 1972, p. 23-28. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC444260/pdf/aac00361-0029.pdf

Kaur, C.D. & Saraf, S.(2010).In vitro sun protection factor determination of herbal oils used in cosmetics Pharmacognosy Res. 2010 Jan-Feb; 2(1): 22–25. doi: 10.4103/0974-8490.60586

Lappano, R., Sebastiani, A., Cirillo,F., Rigiracciolo,D.C., 1 Galli, G.R., Curcio, R. … Maggiolini, M. (2017) The lauric acid-activated signaling prompts apoptosis in cancer cells. Cell Death Discov. 2017; 3: 17063 doi: 10.1038/cddiscovery.2017.63. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5601385/

Nafar,  F. & Mearow K.M. (2014). Coconut oil attenuates the effects of amyloid-β on cortical neurons in vitro. J Alzheimers Dis. 2014;39(2):233-7. doi: 10.3233/JAD-131436.

Nair, M.K., Joy J., Vasudevan P., Hinckley L., Hoagland T.A., Venkitanarayanan K.S. (2005) Antibacterial effect of caprylic acid and monocaprylin on major bacterial mastitis pathogens. J Dairy Sci. 2005 Oct;88(10):3488-95. https://www.journalofdairyscience.org/article/S0022-0302(05)73033-2/fulltext#Results

Nakatsuji T., Kao M.C., Fang J.Y., Zouboulis C.C., Zhang L., Gallo R.L., Huang C.M. (2009) Antimicrobial property of lauric acid against Propionibacterium acnes: its therapeutic potential for inflammatory acne vulgaris. J Invest Dermatol. 2009 Oct;129(10):2480-8. doi: 10.1038/jid.2009.93

Newport, M. (2008) What if there is a cure for Alzheimer’s disease and no one knew? http://coconutketones.com/wp-content/uploads/2016/09/whatifcure.pdf

Newport M.T., VanItallie T.B., Kashiwaya Y., King M.T., Veech R.L. (2015). A new way to produce hyperketonemia: use of ketone ester in a case of Alzheimer’s disease. Alzheimers Dement. 2015 Jan;11(1):99-103. doi: 10.1016/j.jalz.2014.01.006.

Ota M., Matsuo J., Ishida I., Takano H., Yokoi Y., Hori H., Yoshida S., Ashida K., Nakamura K., Takahashi T., Kunugi H. (2019). Effects of a medium-chain triglyceride-based ketogenic formula on cognitive function in patients with mild-to-moderate Alzheimer’s disease. Neurosci Lett. 2019 Jan 18;690:232-236. doi: 10.1016/j.neulet.2018.10.048.

Prior, I.A., Davidson, F., Salmond, C.E., Czochanska, Z., 1981. Cholestertol, coconuts, and diet on Polynesian atolls: A natural experiment: The Pukapuka and Tolkelau Island studies. American Journal of Clinical Nutrients 34(8).

Rele, A.S. & Mohile, R.B. (2003)  Effect of mineral oil, sunflower oil, and coconut oil on prevention of hair damage. J Cosmet Sci. 2003 Mar-Apr;54(2):175-92 https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/12715094

Shilhavy, B. (2019) Virgin coconut oil effective in treating diabetes. Health Impact News. https://healthimpactnews.com/2012/virgin-coconut-oil-effective-in-treating-diabetes/

Sizar, O. & Unakal, C.G. (2019) Gram Positive Bacteria. StatsPearl. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK470553/

Turner, N. (2009). How coconut oili could help reduce symptoms of type 2 diabetes. Media release. Garvan Institute of Medical Research. Media release 08 September 2009.

Vysakh A., Ratheesh M., Rajmohanan T.P., Pramod C., Premlal S., Girish kumar B., Sibi P. (2014). Polyphenolics isolated from virgin coconut oil inhibits adjuvant induced arthritis in rats through antioxidant and anti-inflammatory action. Int Immunopharmacol. 2014 May;20(1):124-30. doi: 10.1016/j.intimp.2014.02.026

Whiteman, H. (2017) Plant fats alter gut bacteria to ease Crohn’s symptoms. Medical news today 23 June 2017. https://www.medicalnewstoday.com/articles/318097.php