Bệnh Loãng xương (Osteoporosis)

Phân nửa giới nữ và một phần tư nam giới trên 50 tuổi bị gãy xương vì bịnh loãng xương. 20 phần trăm người bị gãy xương mông chết trong vòng 1 năm và một phần ba thì không còn tự lo cho mình được nữa.

Chúng ta có thể phòng ngừa chứng loãng xương bằng cách ăn uống đầy đủ thức ăn có can–xi, vitamin D (hay hằng ngày phơi nắng đủ), rau quả, thức ăn chứa nhiều potassium, magnesium, chất đạm, vitamin C và vitamin K suốt cả đời từ lúc còn trẻ. Đổng thời chúng ta cần giới hạn tiêu thụ nước ngọt (chai hay hộp) / cà fê  và cần tập thể dục chịu nặng và tăng cường cơ bắp đều đều.

Nếu bị loãng xương thì ngoài cách ăn uống và sinh hoạt trên, chúng ta cần phải

  • Tái tạo cơ cấu căn bản của xương và sụn bằng thuốc bổ sung chứa glucosamine, chondroitin, MSM, Collagen, Gelatin, and Hyaluronic Acid
  • Làm cho xương mạnh khoẻ lại bằng cách bồi dưỡng xương với những chất dinh dưỡng  thiết yếu như  calcium, magnesium, vitamin D, Vitamin K2,  bô ron, strontium
  • Giảm đau và viêm để giúp xương chữa lành nhanh chóng và dễ dàng hơn bằng cách mỗi ngày bổ sung dầu cá hoặc dầu cây gai (hempseed) chứa nhiều ô-mê ga 3, uống trà xanh Matcha, ăn 1 nắm hạt thì là (fennel seeds), dầu dừa, nghệ, gừng, tỏi, ớt và
    • tránh uống rượu, tránh ăn đường, tránh thức ăn nhất là thịt biến chế, tránh dầu ăn thực vật (ngoại trừ dầu dừa).
  1. Sơ lược bệnh

“Bệnh loãng xương, hay còn gọi là bệnh giòn xương hoặc xốp xương, là hiện tượng xương liên tục mỏng dần và mật độ chất trong xương ngày càng thưa dần, điều này khiến xương giòn hơn, dễ tổn thương và dễ bị gãy dù chỉ bị chấn thương nhẹ.”

“Xương là một cơ quan luôn trong trạng thái liên tục đổi mới, xương mới sẽ liên tục được tạo ra và xương cũ bị phá vỡ. Khi còn trẻ, cơ thể tạo ra xương mới nhanh hơn, do đó khối lượng xương sẽ tăng lên. Hầu hết mọi người đạt được khối lượng xương cao nhất vào khoảng năm 20 tuổi. Khi lớn tuổi, khối lượng xương bị mất đi nhanh hơn được tạo ra, từ đó gây nên bệnh loãng xương.” (Nguồn: https://www.vinmec.com/vi/benh/loang-xuong-3027/)

Hình dưới đây cho thấy cấu trúc xương bình thường (hình 1 từ trái), xương loãng (hình 2 từ trái), lưng bình thường (hình 3) và lưng người loãng xương (hình 4)

Cơ cấu xương bình thường và xương bị loãng
Bình thường Loãng xương

(Nguồn: https://www.life-saving-naturalcures-and-naturalremedies.com/natural-cures-for-osteoporosis.html

B.  Triệu chứng:

Không nên coi thường chứng loãng xương vì một khi xương yếu và gãy thì gay go mới phục hồi và chữa trị được.Gãy xương hoặc phẩu thuật để chỉnh lại, có  thể gây biến chứng nguy hiểm cho tánh mạng và gây tật nguyền vĩnh viễn. Xương bị gãy có thể giới hạn khả năng di chuyển, sinh hoạt và gây tuyệt vọng, sầu khổ cho mình và cho người thân.

Một khi bị loãng xương thì sau đây là những triệu chứng thường gặp nhất

  • Nứt hoăc gãy xương, nhất là xương ở mông, cột sống và cổ tay. Xương chân, đầu gối và nơi khác trong cơ thể cũng có thể bị ảnh hưởng. (5)
  • Thấy khó khăn, bị giới hạn trong việc đi lại và sinh hoạt hằng ngày. Người già bị gãy xương cần có người chăm sóc lâu dài.
  • Đau xương, có khi đau thường xuyên và đau gắt, dữ dội.
  • Lùn đi, teo người lại
  • Khòm lưng vì cột sống yếu đi.
  • Có cảm giác cô đơn hay trầm cảm.
  • Dễ tử vong hơn bình thường. Khoảng 20 phần trăm người lớn tuổi bị gãy xương mông chết trong vòng 1 năm.

C. Nguyên Nhân

Bệnh loãng xương do nhiều yếu tố gây nên. Những nguyên nhân chính gồm

  • Lối sống sinh hoạt không hợp lý, ít vận động
  • Tuổi già
  • Có chế độ ăn uống thiếu dinh dưỡng nhất là những chất cần thiết cho sức khoẻ xương như canxi, phốt pho và vitamin D, K.
  • Giới tính: nữ giới có nguy cơ mắc bệnh loãng xương nhiều hơn nam giới (vì qua tuổi mãn kinh, lượng hoc môn estrogen cần thiết cho xương phát triển suy giảm nhanh chóng). Khi thiếu estrogen thì xương bị huỷ  nhiều hơn xương mới tạo.
  • Lượng canxi tạo xương lúc trẻ không được bổ sung đầy đủ. Khi về già, cùng với sự lão hóa, quá trình tạo xương giảm xuống và quá trình hủy xương diễn ra nhanh, mạnh khiến cho mật độ xương giảm sút, làm cho xương giòn và yếu, giảm sức chịu lực và dễ gãy hơn.”
  • Từng bị những bịnh như bịnh tự miễn, bịnh phổi, yếu gan, yếu thận.
  • Thiếu vitamin D lâu dài.
  • Dùng dài hạn một số thuốc tây có phản ứng hại cho xương như

– loại thuốc ức chế bơm proton dung để chữa no hơi, ợ chua, lở bao tử (omeprazole, lansoprazole, rabeprazole, esomeprazole, Prilosec, Prevacid, Dexilent, aspirin, Nexium, Zegerid, Naproxen,

– loại thuốc SSRIs trị trầm cảm (antidepressants) như Citalopram, Escitalopram, Fluoxetine, Fluvoxamine, Paroxetine, Sertraline.

– Loại thuốc ức chế aromatase (dung để trị ung thư vú bằng cách ức chế qui trình chuyển androgen thành estrogen) như letrozole, anastrozole, testolactone, exemestane.

– Loại thuốc trị hiếm muộn, trị rối loạn hóc môn

– Loại thuốc chống động kinh và

– Thuốc steroids như glucocorticoids or corticosteroids.

  • Bị căng thẳng tình cảm và trầm cảm cao độ.
  • Sút cân với chế độ ăn uống giới hạn khắt khe gây thiếu dinh dưỡng.

Những bệnh gây nguy cơ loãng xương có thể nêu lên là

  • Ung thư vú hay tiền liệt tuyến
  • Tiểu đường
  • Bệnh tuyến giáp trạng (Hyperparathyroidism or hyperthyroidism)
  • Hội chứng Cushing (do cơ thể tạo quá nhiều hoc môn cortisol)
  • Viêm ruột
  • Bệnh tự miễn như phong thấp (RA) , sài lang (lupus), đa xơ cứng (MS), viêm cột sống (ankylosing spondylitis)
  • Bịnh Parkinson
  • Phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), kể cả khí thủng (emphysema)
  • Hư thận mãn tính (chronic kidney disease)
  • Bệnh gan, kể cả xơ gan (cirrhosis)
  • Thay nội tạng


D. Phòng ngừa và chữa trị.

  • Tây y chữa trị bệnh loãng xương bằng những loại thuốc giúp cản qui trình huỷ xương như Bisphosphonates, Thuốc Ức chế Rank Ligand. Tây y cũng khuyên thay đổi chế độ ăn uống và tăng thể dục. Tuy nhiên những thuốc tây là hổn hợp nhân tạo (synthetic) này có phản ứng rất tai hại. Chúng có thể tăng tỉ trọng xương làm xương đặc hơn với thành phần hư hoại đáng phải huỷ chứ không phải loại xương mới lành mạnh. Vì vậy một trong những phản ứng phụ gồm cả tăng nguy cơ gãy xương. Những phản ứng tai hại khác còn tệ hại hơn là gây ung thư thực quản, loạn nhịp tim..
  • Liệu pháp tự nhiên:

Loãng xương là kết quả của một tiến trình lâu năm nên cũng không có cách chữa trị nhanh chóng. Tuy nhiên, khi áp dụng triệt để liệu pháp tự nhiên mỗi ngày, chúng ta có thể thấy dễ chịu một cách đáng để ý sau 3-4 tuần. Còn muốn hết hẵn thường cần 1 năm hoạc lâu hơn.

Liệu pháp tự nhiên gồm ba phần:

Thứ nhất là tái tạo cơ sở cấu trúc xương và xương sụn. Cơ sở cấu trúc xương (bone matrix) là nền tảng của xương giống như nền nhà. Xương sụn là phần bảo vệ xương khoi bị hư mòn vì va xát. Chúng ta cần thuốc bổ sung chứa glucosamine, chondroitin, MSM, Collagen, Gelatin, and Hyaluronic Acid để tái tạo cơ sở cấu trúc xương đã bị thoái hoá .

Tất cả những thứ này đều cần thiết để tái tạo cấu trúc cơ bản cho xương và sụn.. Chondroitin và axit hyaluronic có vai trò then chốt làm trơn khớp và cơ bắp. Chúng ta phải kiên trì uống những chất dinh dưỡng đó, không bỏ ngày nào. Nhưng cũng phải cẩn thận chọn nguồn cung cấp có chất lượng và đang tin tưởng. Thường thường tiền nào của nấy, nhưng nên đọc phản hồi của những người tiêu dùng trước khi chọn thuốc bổ sung. 

 Kế đó, quý bạn nên nấu và tiêu thụ nước hầm xương mỗi ngày. Nước xương hầm (bone broth) chứa đầy tất cả những thành phần cơ bản xây dựng  xương, khớp và mô nối kết. Nó chứa mọi chất dinh dưỡng cần có để chữa trị ( hay đảo ngược) chứng loãng xương. Hầm xương bò, xương heo, xương gà, xương cừu hay xương cá trong ít nhất 4-6 tiếng đồng hồ  là có được nước hầm xương ngon lành, bổ dưỡng cho xương.

Thứ hai là phải làm cho xương mạnh khoẻ trở lại bằng cách bồi bổ chúng với những chất dinh dưỡng xương thiết yếu như can xi, magnesium, bô ron, vitamin D, strontium và vitamin K. Can xi chiếm 70 % trọng lượng xương, nhưng không phải là chất dinh dưỡng quan trọng nhất cho xương. Hơn nữa nhiều can xi quá có thể tăng nguy cơ đột quỵ và đứng tim (strokes và heart attacks). Cấu tạo xương gồm hàng tá khoáng chất, chúng hoà hợp với nhau tạo nên xương mạnh mẽ. Calcium, magnesium, boron và strontium là 4 khoáng chất chủ yếu, nhưng còn nhiều khoáng chất khác với lượng nhỏ nhưng không kém quan trọng. Cần uống liều lượng thích hợp mới bảo đảm hấp thụ đầy đủ. Vitamin D và vitamin K2 cũng cực kỳ thiết yếu. Thiếu hai vitamin này thì không khoáng chất nào có thể tới xương và dính ở đó.

Calcium: Tốt nhất  là chọn coral calcium loại tốt có thêm vitamin D.

Magnesium tốt nhất là loại magnesium lỏng trong bình có thể xịt lên da bụng, chân và cánh tay mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần xịt 10-15 lần mỗi chổ.

Bô ron: Có thể bổ sung bằng thuốc bổ sung bô ron. Hàn the (borax) có chứa boron , Nhưng có nhiều quan điểm khác nhau về tai hại của hàn the cho sức khoẻ, nên chỉ dùng borax nếu được y sĩ bảo đảm an toàn.

Strontum có bán dưới dạng thuốc bổ sung. Liều lượng 680 mg 1 ngày trong 1 thử nghiệm lâm sàng cho thấy có công hiệu giảm hơn 40% nguy cơ gãy xương. Hiệu Doctor’s Best Strontium bone maker được nhiều người ưa chuộng.

Vitamin D: Cần 8.000-10.000 UI mỗi ngày mới đủ để trị loãng xương.

Vitamin K2: Có thể trước tiên dùng thuốc bổ sung probiotics nhưng vitamin K có nhiều trong thức ăn lên men nên cố ăn uống nhiều thức ăn lên men, như kim chi, cải chua muối, natto, sửa chua.

Thứ ba là phải giảm đau và viêm để qui trình chữa lành xương không bị ngăn trở bằng cách mỗi ngày bổ sung

  • dầu cá hoặc dầu cây gai (hempseed) chứa nhiều ô-mê ga 3,
  • uống trà xanh Matcha: Trà xanh Matcha chứa rất nhiều chất chống oxyt hoá, nhiều gấp 17 lần blueberries và 7 lần nhiều hơn so co la đậm (dark chocolate). Người Nhật dùng trà xanh, nhất là Trà xanh Matcha, và đậu nành lên men Natto là nhóm người ít bị loãng xương và gãy xương nhất thế giới.
  • ăn 1 nắm hạt thì là (fennel seeds). Hạt thì là có tính chất chống viêm và chống oxit hoá rất mạnh. Thêm vào đó hạt thì là chứa nhiều can xi, magnesium và những khoáng chất chất cần cho xương.
  • dung dầu dừa thay cho dầu ăn. Dầu dừa chứa axit lauric có tính chống viêm và chống đau rất hay. Dầu dừa cũng giúp cơ thể tang hấp thụ can xi và magnesium. Nó lại còn giúp đảo ngược chứng loãng xương do thiếu hoc mon estrogen gây ra nên rất hợp cho giới nữ. Ngoài ra hợp  chất chống oxy hoá của dầu dừa giúp bảo tồn cơ cấu của xương và phòng ngừa tình trạng huỷ xương do tình trạng thay đổi hoc môn gây ra. Xin nhớ là chỉ nên dung dầu dừa hữu cơ nguyên chất (organic virgin coconut oil).
  • dùng nghệ, gừng, tỏi, ớt trong thức ăn. Đây là những loại thức ăn gia vị tự nhiên chống viêm, chống oxit hoá rất tốt.

Tránh uống rượu, tránh ăn đường, tránh thức ăn nhất là thịt biến chế, tránh dầu ăn thực vật (ngoại trừ dầu dừa) cũng cần thiết để tránh cho cơ thể không bị thêm viêm và đau.

Lưu ý: Bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay ý kiến y sĩ.

Tham khảo

Goldschmidt, V. (2016) Top 5 Reasons Why You Should Never Take Osteoporosis Drugs. SaveInstitute. https://saveourbones.com/top-5-reasons-why-you-should-never-take-osteoporosis-drugs/#

Gropper S.S. & Smith, J.L. (2013)  Advanced Nutrition and Human Metabolism. International Edition (6th edition). WADSWORTH CENGAGE Learning. Canada

Levy, J. (2018). Osteoporosis Treatment and 7 natural ways to boost bone density. https://draxe.com/osteoporosis-treatment/

Sawyer, T. (2019). Best Natural Treatments for Osteoporosis & Bone Loss… https://www.life-saving-naturalcures-and-naturalremedies.com/natural-cures-for-osteoporosis.html

Căng Giãn có thể Trị Bịnh Tốt hơn là dùng thuốc

Căng giãn cơ thể đúng cách là liệu pháp đơn giản nhưng hữu hiệu  hơn là dùng thuốc để chữa trị và phòng chống bịnh tật, nhất là những chứng bịnh lâu năm mãn tính và bịnh lớn tuổi. Có thể căng giãn trong tư thế nằm, ngồi xỗm, đứng… nhưng phải duy trì ít nhất 5 phút trong thế căng giãn.

Sơ lược lý do tại sao cần căng giãn

Chúng ta cần căng giãn những dây gân và dây chằng nối xương cốt với các cơ phận trong cơ thể để giúp giữ xương cốt nằm đúng chổ, làm cho gân mềm dẽo, khai thông kinh mạch và làm cho khí huyết luân lưu hữu hiệu  (Hongchi Xiao, 2017).

Nếu không duy trì những sinh hoạt giúp cho gân và dây chằng căng giãn, dây gân và dây chằng có khuynh hướng  mất mềm dẽo và co rút lại theo thời gian, làm bế tắc kinh mạch.

Khi dây gân và dây chằng cứng đi và co lại thì không phải chỉ làm cho cơ thể khó khăn cử động mà còn làm suy yếu tất cả nội tạng. Theo các chuyên gia kinh mạch, 12 dây gân chính chạy dọc theo 12 kinh mạch nên 12 dây gân này khi co lại và hết mềm dẽo sẽ gây bế tắc kinh mạch dẫn đến bịnh tật, không phải chỉ ở một vài chổ mà toàn cơ thể. Căng giãn vì thế giúp chữa lành triệu chứng đau nhức và bịnh tật.

Thực hành tư thế căng giãn song song với động tác vỗ đập sẽ tăng công hiệu phòng chống bệnh nhiều hơn là chỉ dùng một liệu pháp ( Hongchi Xiao kết hợp 2 động tác thành “vỗ đâp căng giãn Liệu Pháp” Paidalajin).

Ban đầu tôi không tin là động tác căng giãn có công hiệu đáng kể. Nhưng sau khi thử nghiệm tôi thấy nó giúp tôi ổn định được huyết áp và nhịp tim một cách nhanh chóng trong khi động tác vỗ đập riêng rẽ, thuốc tây và dược thảo thất bại.

Đặc điểm

Động tác hay tư thế căng giãn thường gây đau dọc theo dây gân và xung quanh dây chằng gần khớp. Vì vậy chúng ta thường khó thể thực hiện được đúng tư thế căng giãn ngay lần đầu tiên. Tốt nhất là cứ từ từ tăng thời gian và mức độ căng giãn mỗi ngày, cuối cùng sẽ thực hiện đúng tư thế.

Căng giãn liệu pháp này khác biệt những động tác căng giãn mà các vận động viên thường làm trước khi chơi thể thao hay tranh tài. Liệu pháp căng giãn đòi hỏi người thực hiện giữ nguyên tư thế căng giãn ít nhất 5 phút lúc mới tập rồi tăng dần lên 10 phút và có thể lâu đến 40 phút . Lý do là càng lâu dây gân càng giãn thật sự chứ không phải chỉ giãn ra rồi co lại như cách căng giãn của các vận đông viên. Duy trì tư thế căng giãn lâu ít nhất 5 phút mới giúp dây gân và dây chằng thật sự dài ra và lâu đủ để giãi toả bế tắc kinh mạch dọc theo dây gân đó. Vì vậy then chốt của liêu pháp căng giãn là duy trì vị thế căng giãn càng lâu càng tốt từ 5 phút đến tối đa 40 phút.

Các tư thế căng giãn thông dụng

Bảy tư thế căng giãn thường dùng là: nằm (hình 1), chồm hổm (hình 2), đứng với bàn chân dốc lên (hình 3), Căng giãn thẳng người (hình 4), tư thế chữ Y (hình 50, Căng giãn cổ (hình 6), và căng giãn khi ngủ (Hình 7).

Tư thế căng giãn nằm (Hình 1).

Tư thế này an toàn và tổng quát nhất. Nó căng giãn hầu hết dây gân va dây chằng trong cơ thể. ì vậy có tác dụng giúp khai thông tất cả các kinh mạch, mặc dầu ờ các mức độ khác nhau.

Tư thế tiêu chuẩn là nằm trên 1 ghế dài chuyên dùng cho liệu pháp căng giãn, (một đầu có cột đứng để gát 1 chân lên, trên cột có dây velcro giữ chân này thẳng đầu gối và sát vào cột, đồng thời có bao cát nặng 3-5 kí dùng để cột vào chân kia để giữ bàn chân chạm sàn nhà.)

Không có ghế dài đặc biệt này thì có thể tạm thời dùng 2 ghế dựa kê sát vào nhau tạo góc thẳng góc với một khung cửa hay góc tường như hình thứ nhì dưới đây. Một chân gát lên tường thẳng góc với mặt ngang, một chân bỏ xuống sàn. Thay vì dùng bao cát để giữ bàn chân dưới thấp này chạm sàn, chúng ta có thể dùng một sợi dây cột thành một vòng nhỏ, một đầu xỏ vào chân ghế một đầu xỏ vào chân này.

Nguồn: Paidalajin self-healing. 

Lợi ích của tư thế căng giãn nằm:
  1. Giúp khai thông tất cả kinh mạch, đặc biệt Kinh Tâm, Kinh Tam Tiêu, Kinh Can, Kinh Thận, Kinh Tỳ, Kinh Đởm và kinh Bàng Quang. Kết quả là giúp giải độc, chữa bịnh liên hệ và cải thiện chức năng miễn nhiễm và sinh dục.
  2. Triệu chứng đau nhức được giải toả ngay như đau nhức ở đầu, cổ, lưng, eo lưng, mông, chân, đầu gối, bàn chân, gan, bao tử, túi mật, đau kinh nguyệt…
  3. Cải thiện đáng kể những bịnh mãn tính trầm trọng kể cả tiểu đường, cao huyết áp, bịnh tim, viêm tiền liệt tuyến, bịnh da, bịnh gan, suy thận, rối loạn bao tử, bịnh trĩ, bón, hậu chứng đột quỵ (stroke sequelae) vân vân…
  4. Giúp làm cao người ( nếu còn trẻ), giảm cân giảm phì, tăng sắc đẹp, giảm vết nhăn, nâng ngực sệ và trừ mụn trứng cá. Người già được nhiều lợi nhất vì phần lớn người già bĩ co gân và khòm lưng.

Tư thế chồm hổm (ngồi xổm)

Đơn giản: ngồi chồm hổm trên sàn từ 5 đến 40 phút (xem hình 2). Nếu không quen thì có thể bắt đầu tập ngồi với 2 chân xa ra. Quen rồi thì từ từ kéo hai chân lại gần nhau. Tốt nhất là ngồi càng thấp càng tốt, hai chân sát vào nhau,đầu cúi xuống, hai tay ôm đầu gối.

Lợi ích của tư thế chồm hổm:

Tư thế ngồi xổm căng giãn nhiều nhất là gót chân, mắt cá, bắp chân, đấu gối, mông và eo và giúp xoa bóp nội tạng. Tư thế này giúp khai thông các kinh mạch đi ngang qua chân cẳng như kinh Can, Kinh Tỳ, Kinh Vị, Kinh Đởm, Kinh Thận và Kinh Bàng Quang. Tư thế này có lợi ích như sau:

  1. Kích thích tiêu hoá và giúp đi tiêu dễ dàng. Tăng luân lưu khí huyết và khai thông tất cả kinh mạch chính.
  2. Cải thiện hầu hết các bịnh thường gặp như trĩ, viêm /thấp khớp, tiểu đường, cao huyết áp, bón, viêm dạ dày/ruột, đau tim, rối loạn tiền liêt tuyến, bịnh phụ sãn, đau thắt lưng, đau chân..
  3. Giúp những người yếu dai sức hơn.

thế đứng trên tấm ván dốc nghiêng (Hình 3)

Chân dứng trên1 tấm ván dốc với độ dốc từ nhỏ (20-25 độ) đến lớn (30-35 độ). Cố gắng đứng 10 – 60 phút , thẳng người, hai tay dơ cao trên đầu, hoặc sau lưng hay thả lỏng hai bên người.

(Ở vài nước như Mã lai có bán loại ván này, không có thì có thể theo hình tự đóng hoặc nhở người đóng tấm ván có thể xếp lại và thay đổi độ dốc)

Lợi ích:

Giúp vét sạch nhiều kinh mạch và huyệt trên chân và bắp chuối (hai bộ phận không được căng giãn đủ với các tư thế khác) Vì vậy tư thế này giúp giảm đau chân, đau bàn chân, đau eo lưng và các triệu chứng bịnh kinh niên như tiểu đường, cao huyết áp, đau tim, rối loạn tiến liêt tuyến (prostate disorders), suy thận, suy gan, đột quỵ…

Thế đứng Căng giãn  (Hình 4)

Đứng giữa 1 khung cửa thích hợp, dơ tay lên cầm hai cạnh khung cửa và căng giãn tối đa hai cánh tay. Một chân bước tới phía trước, duỗi chân kia ra phía sau càng xa càng tốt. Gót chân sau phải tựa lên sàn. Giữ thân mình thẳng đứng song song với khung cửa, đầu thẳng lên và mắt nhìn thẳng tới trước. Đứng như vậy 5-8 phút rồi đổi chân.

Lợi ích:

Tác dụng trên những kinh mạch đi ngang xung quanh vai, lưng và chân, giúp triệu chứng đau cổ, vai cứng (frozen shoulder), đau lưng, đau tuyến vú, cường giáp (hyperthyroidism). Nó cũng giúp căng giãn kinh Bàng quang cải thiện vấn đề tiểu tiện.

 

 

Tư thế Căng giãn chữ Y (Hình 5)

Nên thực hiện tư thế này nếu lưng và vùng xương cụt vẫn còn đau sau khi căng giãn với tư thế nằm.

Lợi ích:

Giúp vét sạch rất hữu hiệu kinh Can, Kinh Tỳ và kinh Thận dọc theo mặt trong chân đùi nên có công hiệu nâng cao chức năng của gan, tỳ và thận. 

Căng giãn cổ (hình 6)

Tư thế này có thể thực hiện nằm trên giường, hoặc trên ghế dựa hoặc trên ghế dài. Quan trọng là đưa đầu, cổ và phần lưng trên ra ngoài cạnh giường và đầu ghế để cho chúng thòng xuống cách tự nhiên. Duỗi tay ra sau càng xa càng tốt. Thực hiện tư thế này 5-8 phút.

Lợi ích:

Chủ yếu làm giảm chứng bịnh liên quan đến đốt sống ở cổ, vai, lưng trên, và đốt sống ở ngực, bịnh thuộc 5 giác quan, đặc biệt là đau nhức đầu, chóng mặt, suyễn, viêm mũi,đục thuỷ tinh thể (cataract), mù hay các bịnh mắt khác, gù lưng, cứng cổ, chèn ngực, vai đông cứng, bịnh tuyến giáp trạng, bịnh tim mạch …

(Những người hay chóng mặt, đau tim mạch, nên thực hiện từ từ tư thế này).

Tư thế căng giãn khi ngủ (số 7)

Nằm giường không nệm

– có lợi ích là làm thẳng cột sống nếu bi sai trật

– giúp chẫn bịnh hay định vị phần cơ thể có bịnh, vì nằm như vậy thấy đau chổ nào thì chổ đó có lẽ sức khoẻ có vấn đề.

Xin Lưu ý:

  1. Nếu bạn không thấy đau, tê hay cảm giác sưng bất kể thực hiện tư thế nào và bao lâu đi nữa thì không cần phải tập các tư thế này nữa vì xương bạn nằm đúng chổ, và gân mềm dẽo, huyết khí luân lưu tự nhiên.
  2. Tránh căng giãn nơi có gió lạnh, trước quạt máy, máy lạnh. Đổ mồ hôi có ích lợi nên không cần làm lạnh đi. Mặt y phục che eo và đầu gối để giữ ấm người, nhất là trong phòng có máy lạnh. Nếu không hơi lạnh có thê nhiễm vào thân qua lỗ chân lông, ảnh hưởng đến các khớp và làm bịnh tệ hơn.
  3. Những người cao huyết áp, đau tim, gầy yếu, già cả và bịnh nặng nên cẩn thận thực hiện những tư thế căng giãn này một cách từ từ vì cảm giác đau khi tập có thề tăng huyết áp và nhịp tim.
  4. Nếu tư thế căng giãn làm cho đau đầu, chóng mặt, đổ mồ hôi lạnh, chèn ngực, chân tay tê hay lạnh, tim đập không đều… thì ngừng tư thế căng giãn một chốc rồi vỗ đập mạnh trên phía trong cùi chỏ và huyệt Nội Quan gần cổ tay. Càng thấy đau khi vỗ đập 2 vùng này thì cứ tiếp tục vỗ đập đến khi hết đau.

 XIN CẢM ƠN QUY BẠN ĐÃ ĐỌC BÀI VIẾT NÀY

Tham Khảo: Hongchi Xiao (2017). Paidalajin self-healing .

Bài viết này có mục tiêu thông tin chứ không có tính tư vấn y khoa.