Bịnh lo lắng vì hậu quả thuốc tây – thiếu dinh dưỡng

Bệnh lo lắng mãn tính biểu hiện tình trạng bồn chồn, bức rức, lo sợ, lo lắng, bực dọc, khó ngủ và e ngại một cách quá mức và kéo dài. Người bệnh thường đổ mồ hôi, hồi hộp, đau ngực, mệt mỏi, nhức đầu, hụt hơi, và căng cơ bắp.

Có hai lọại nguyên nhân chính gây nên bịnh lo lắng: hậu quả thuốc tây và khủng hoảng tâm lý. (Gaby, 2017). Bài viết này sẽ chú ý đến nguyên nhân thứ nhất.

Liệu pháp tự nhiên gồm bồi bổ dinh dưỡng bằng thuốc bổ sung vitamin B, magnesium, vi sinh tốt, tăng bổ dưỡng trong việc ăn uống, thở sâu và tham gia vận đông thể lực.

Sơ lược liên hệ giữa lo lắng và một số dinh dưỡng cần thiết

Lo lắng là một trong những triệu chứng thiếu Vitamin B3, hoặc magnesium, hoặc vitamin B12 , hoặc B6, hoặc vitamin B9 (axit folic) (Gaby, 2017; Groper & Smith, 2013). Phần lớn tình trạng thiếu dinh dưỡng liên quan đến hậu quả của thuốc tây. Nếu không phải hậu quả của thuốc tây (nhất là thuốc trụ sinh) thì sự căng thẳng, khủng hoảng tinh thần … có thể làm cho vi sinh đường ruột mất thăng bằng, vi sinh tốt chết đi trong khi vi sinh độc hại sinh sôi lộng hành. Vi sinh tốt thường giúp cơ thể sản xuất hoặc hấp thụ dinh dưỡng, nhất là vitamin B kể cả vitamin B12. Mất đi vi sinh tốt là một trong những nguyên nhân gây tình trạng thiếu dinh dưỡng.

Một số thuốc tây có thể ngăn cản hay làm giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng nhất là vitamin B3, Magnesium, B12, B6, B9, làm cho cơ thể thiếu B3, B12, B6, B9 và magnesium. Hậu quả là gây chứng lo lắng.

Những thứ thuốc tây y sau đây có phản ứng phụ làm cạn những chất dinh dưỡng liên quan đến chứng lo lắng:

Thuốc kháng sinh (trụ sinh- antibiotics)

Penicillin
Amoxicillin/Clavulanic acid (Augmentin)
Cephalexin (Keflex)
Cefaclor (Ceclor)
Cefdinir (Omnicef)
Nalidixic Acid (NegGram)
Ciprofloxacin (Cipro)
Levofloxacin (Levaquin)
Moxifloxacin (Avelox)
Erythromycin
Azithromycin (Z-Pak/Tri-Pak/Zithromax)
Clarithromycin (Biaxin)
Sulfamethoxazole/trimethoprim (Bactrim/Septra)
Tetracycline
Minocycline (Minocin)
Doxycycline (Vibramycin)
Cycloserine (Seromycin)

Thuốc chống viêm (anti inflammatory drugs)

Corticosteroids (prednisone, prednisolone (Orapred),
Methylprednisolone (Solu-Medrol, Medrol),
Dexamethasone (Decadron)

Thuốc tim (cardiac glycosides)

Digoxin (Lanoxin)

Thuốc uống ngừa thai
Thuốc huyết áp (antihypertensives)

Furosemide (Lasix),
Bumetanide (Bumex),
Ethacrynic acid (Edecrin),
Torsemide (Demadex)
Chlorthiazide (Diuril),
Hydrochlorothiazide (Microzide)

Liệu pháp tự nhiên

Liệu pháp tự nhiên thường được dùng để trị chứng lo lắng vì thiếu dinh dưỡng do hậu quả của thuốc tây là uống

Thuốc bổ sung Niacimide B3 (1000– 3000 mg một ngày) ,

Magnesium (100-500 mg một ngày), Magnesium lactate và magnesium oxide được dùng trong những nghiên cứu tác dụng của magnesium cho bịnh lo lắng (healthline). Nhưng có thể magnesium dưới hình thức khác như magnesium citrate, magnesium chloride (Kubala, 2020).

Hổn hợp vitamin B có vitamin B12, B6 và B9 và vitamin C (Gaby, 2012; Kubala, 2020)

Thuốc bổ sung vi sinh tốt (probiotics). Thuốc bổ sung vi sinh tốt có thể dùng gồm Radiance Probiotics 100 billion, Lifestream Advanced Probiotics Mood & Immune (2 thứ này có bán ở Chemistwarehouse tại Úc và New Zealand) hoặc Innovixlabs Multi-strain probiotic Innovixlabs mood probiotic, Garden of Life Dr. Formulated Probiotics , Mood+ (có bán ở www.iherb.com) và những thuốc bổ sung vi sinh tố có Lactobacillus helveticus và Bifidobacterium longum, là hai dòng vi sinh được thử nghiệm có hiệu quả nâng cao tinh thần lạc quan (Messaoudi et al, 2011)

Tập thở sâu mỗi ngày, tham gia thể dục thể thao.

Xin lưu ý:

Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế chỉ dẫn của bác sĩ.

Tham khảo:

Gaby, A. (2017) Nutritional Medicine, Second Edition. Fritz Perlberg Publishing Concord.

Gropper, S. & Smith, J.L. (2013). Advanced Nutrition and Human Metabolism. 6th Edition. International Edition.Wadsworth, Cengage Learning.

Kubala, J. (2020) Magnesium for Anxiety: Is it effective? https://www.healthline.com/health/magnesium-anxiety

Messaoudi, M. et al (2011). Beneficial psychological effects of a probiotic formulation (Lactobacillus helveticus R0052 and Bifidobacterium longum R0175) in healthy human volunteers. Gut Microbes, Volume 2, 2011 – Issue 4. https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.4161/gmic.2.4.16108

Pharmacy Solutions. Drug induced nutrient depletion. Pharmacy Solutions. https://pharmacysolutionsonline.com/drug-induced-nutrient-depletion.php

 

Chỉ ăn thức ăn gốc thực vật không chế biến – có thể ngừa và trị được mọi thứ bệnh mãn tính.

Hiện nay hầu hết chuyên gia sức khoẻ thừa nhận tình trạng viêm lâu dài là nguyên nhân chính gây nên các bệnh mãn tính – từ cao huyết áp, ung thư, tiểu đường, suy tim đến suy trí nhớ. Ngày nào cũng ăn thịt, đường và thực phẩm chế biến hoăc ngày nào đầu óc, tình cảm cũng căng thẳng túi bụi thì tạo ra nhiều độc tố đưa đến chứng viêm trong cơ thể. Ăn nhiều quá – một tình trạng phổ biến nhất ở các xứ giàu có – càng làm tê hại hơn.
Các bác sĩ và chuyên gia y tế được phỏng vấn trong loạt video “Bí quyết y học tự nhiên” (Natural Health Secrets ) đồng ý rằng chế độ ăn uống thực phẩm gốc thực vật, ngủ nghỉ đủ và thể dục thích hợp là liệu pháp cơ bản chữa trị các bệnh mãn tính rất hữu hiệu.
Liệu pháp này tuy đơn giản nhưng không dễ thực hiện cho những ai đã quen với chế độ ăn uống nhiều thịt, nhiều đường, bánh ngọt, nước ngọt, nhiều dầu và đầu óc bận rộn cả ngày…

Nếu không thực hiện được đầy đủ từ đầu thì thay đổi từ từ sẽ dễ dàng hơn. Chúng ta có thể bắt đầu 1 ngày 1 tuần không ăn thịt cá, sữa bò… rồi từ từ tăng lên 2 ngày, 3 ngày , 4 ngày , 5 ngày 1 tuần. Cắt giảm được thịt cá, đường muối, bánh mì, bánh ngọt, nước ngọt mà tăng rau cải ngày nào thì giảm viêm trong người ngày đó, có thể làm khoẻ hơn, hoặc ít nhất không tệ hơn. Ăn càng thức ăn chống viêm nhiều hơn thức ăn gây viêm thì sức khoẻ tốt hơn và bịnh nếu có sẽ giảm nhanh hơn.
Sự hổ trợ trong gia đình cũng đóng vai trò then chốt giúp người bệnh. Nếu được mọi người cùng theo đuổi liệu pháp này để hổ trợ người thân trị bịnh và giúp mình ngừa bịnh thì kết quả sẽ đạt được nhanh chóng.

Sơ lược nguyên nhân gây viêm dài hạn.

Thực phẩm gốc động vật:
Thịt cá và sản phẩm gốc động vật nào cũng chứa nhiều vi sinh tiết ra nhiều độc tố (endotoxin). Ăn thịt sống hay chin đếu có nghĩa là ăn những độc tố đó. Mỡ bảo hoà trong thịt lại tăng lượng độc tố chuyển vào máu. Kết quả là tăng chứng viêm trong người (Greger, 2012). Vi sinh độc hại có sẵn trong cơ thể lại thích mội trường axit do thịt ăn vào tạo ra, nên ăn nhiều thịt mỡ sẽ làm vi sinh độc hại sinh sôi và tăng trưởng trong đường tiêu hoá, nâng cao mức lượng nội độc tố, gây thêm viêm đưa đến nhiều thứ bệnh (Minich D., 2017)

Thực phẩm chế biến:
Có nhiều người không ăn thịt hoặc ăn ít thịt nhưng ăn thực phầm chế biến nhiều đường và dầu thưc vật tinh chế (chứa quá nhiều omega 6) cũng bị nhiều chứng bịnh mãn tính kể cả tiểu đường, suy tim mạch, suy trí nhớ vì thực phẩm chế biến, đường, tinh bột và dầu thực vật tinh chế đều gây nên viêm.

Tình trạng căng thẳng
Sự căng thẳng tinh thần tình cảm lâu dài tăng mức hoc môn cortisol tới mức cơ thể không còn khả năng kiểm soát tình trạng viêm. Tình trạng viêm trong cơ thể cứ gia tăng, làm suy yêu hệ miễn nhiểm và gây ra nhiều bịnh mãn tính. (Carnegie Mellon University, 2012)

Thức ăn gốc thực vật không chế biến chống viêm:

Ngược lại thức ăn rau quả và hạt nguyên thô (whole), cùng với lối sống thư thái và khoan dung có ảnh hưởng chống viêm nên có thể chữa lành và ngăn ngừa các bịnh mãn tính.

Đúng vậy, không có cách nào giảm huyết áp hữu hiệu và nhanh bằng cách ngưng ăn thịt, thức ăn uống có sữa, trứng, đường, bột tinh chế và dầu tinh chế để chỉ ăn rau quả (đủ thứ màu) và các loại hạt chưa biến chế cùng với lối sống khoan dung thư thái.

Cách đó cũng là cách nhanh và hữu hiệu nhất để trị ung thư, tiểu đường, viêm khớp, loạn tiêu hoá, suy tim mạch, suy thận, suy gan, suy sụp trí nhớ theo kinh nghiệm của các bác sĩ và chuyên gia y tế trong loạt phỏng vấn trên.

Một số bằng chứng

Sau đây là một số trường hợp cụ thể do những bác sĩ và chuyên gia y tế trình bày trong loạt phỏng vấn “Natural health Secrets” (Jonathan Otto and Natural Health Secrets, 2019).

Bác sĩ Michael Klaper: (Tim mạch, tiểu đường, đau khớp, phì, lỡ da)
“ Tôi nhớ tới một bệnh nhân đàn ông gần 60 tuổi, chuyên viên vật lý trị liệu Động mạch ông ta nghẹt đến nỗi ông ta không thể đi bộ ngang qua sân 20 mét mà không ngừng nghỉ vì cơn đau ngực. Ngực ông đau đến nỗi ông tái xám cả người, và phải uống nitroglycerin. Thân thể ông ta không những thấy khổ sở, đáng lo, mà tạo cảm giác như ông ta sắp chết và chờ chết. Vậy mà sau khi giúp ông ta chỉ ăn uống thuần rau quả, một chế độ ăn uống nhẹ nhàng cho động mạch, mãng mỡ bám thành động mạch của ông ta bắt đầu rớt đi. Động mạch mở ra. Máu chảy mạnh. Sau 10 ngày ông ta đi bộ qua lại sân đó dể dàng không bị đau ngực nữa. Sau ba tuần, ông ta đi bộ khắp cả y viện, rồi leo lên đồi sau y viện. Ông ta sống lại. Bước đi mạnh mẽ và sắc mặt hồng hào trở lại. Thật là một chuyển biến ngoạn mục.”

“ Tôi nhớ một bệnh nhân khác tên Ken. Anh ta cao huyết áp, tiểu đường, đau khớp và da bị lở. Chúng tôi cho anh ta ăn thuần thức ăn thực vật (rau,quả, hạt, củ) không chế biến. Anh ta tiêu biểu tất cả các bệnh nhân khác và chúng tôi có thể bảo đảm bất cứ ai nghiêm túc theo chế độ ăn uống này cũng hết bịnh như anh Ken.
Chỉ trong 5-6 ngày và vài tuần, quý vị sẽ thấy thay đổi như anh Ken. Đúng vậy, chỉ sau ít ngày ăn thuần rau quả hạt không chế biến, họ bắt đầu bớt phì, động mạch mở ra, huyết áp giảm đi, khớp giảm đau, vãy nến trên da biến đi, phổi suyễn bớt khò khè và chứng nhức đầu cũng không còn. Họ trở nên rắn chắc, bình thường, khoẻ mạnh, mắt sáng ra, và không cần gói thuốc họ mang theo khi vào y viện nữa. Không cần thuốc huyết áp nữa, không cần thuốc tiểu đường nữa. Vì họ không còn bị tiểu đường , không còn cao huyết áp nữa.

“Tôi sung sướng thấy hàng trăm trường hợp vậy. Hiện giờ tôi là một trong những bác sĩ hạnh phúc nhất vì bệnh nhân của tôi khoè mạnh trở lại.
Khi nói về những thứ bệnh mãn tính liên quan đến viêm , rau xanh đậm màu phải là món đứng đầu bảng trong chế độ ăn uống của quý vị.
Tôi nói với bệnh nhân của tôi rằng màu xanh và màu vàng phải là màu ưa thích nhất của quý vị. Bữa ăn trưa, bữa ăn tối, ăn rau nào đó có màu xanh và màu vàng. Nên ăn nhiều rau xanh đậm như hoa cải xanh, cải xanh, bok choy, cải làng, dền xanh, măng tây. Đồng thời hãy ăn khá khá rau màu vàng như cà rốt, khoai lang, bí đỏ, khoai mở vàng…. Vì những thứ này chứa nhiều chất chống oxy hoá (antioxidant)”

(Bác sĩ Klaper tốt nghiệp Bás sĩ Y khoa năm 1972 tại Đại học Y khoa Illinois, học thêm chuyên khoa giải phầu, gây mê và chỉnh hình tại Đai học Bệnh viện British Columbia ở Vancouver và Nhi Khoa tại Đại học Bệnh viện California. Qua kinh nghiệp nghề nghiệp, BS Kapler nhận ra rằng nhiều bịnh tật trên các bịnh nhân của mình – như nghẹt động mạch, Cao huyết áp, mập phì, tiểu đường của người lớn , ngay cả một số loại viêm khớp, suyễn và nhiều bịnh quan trọng khác trở nên tệ hơn hoặc là hậu quả của chế độ ăn uống gồm nhiều dường, nhiều mỡ, nhiều muối, thực phẩm chế biến, thực phẩm gốc động vật thịnh hành ở Mỹ.

BS Klaper là Giám đốc Viện Giáo dục và Nghiên cứu Dinh dưỡng (Institute of Nutrition Education and Research) từ 1992 đến 2015 trong vai trò chỉ đạo nghiên cứu chú trọng về những người chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật. BS Kapler có làm việc tại NZ 3 năm và từ 2009 đến 2018 làm việc tại Trung Tâm Y tế “TrueNorth Health Centre” ở Santa Rosa, là trung tâm y tế chuyên sử dụng biện pháp nhịn ăn và chế độ thức ăn gốc thực vật toàn phần để cải thiện sức khoẻ, CA. Hiện nay BS Klaper thuộc Hội đồng Cố vấn cho Dự án “Plantrician” và “International Journal or Disease Reversal and Prevention”

BS Kim Williams (BS trưởng Tim mạch, Huyết áp, tiểu đường)
“ Khi theo dõi huyết áp những bệnh nhân bất đầu chế độ chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật, tôi thấy một phần ba giảm huyết áp rất nhiều, một phần 3 giảm trung bình còn một phần ba giảm nhẹ. Những người giãm huyết áp nhiều phải rất cẩn thận, vì sẽ tới lúc họ cần giảm liều lượng thuốc huyết áp. Nếu không theo dõi mỗi ngày để giảm thuốc họ sẽ bị nguy hiểm vì huyết áp của họ có thể đùng một cái giảm xuống còn 80/50 và bị choáng váng.
Tôi cũng đã thấy một số bệnh nhân sau khi chuyển sang chế độ ăn uống thuần gốc thực vật gặp rắc rối với thuốc insulin vì tình trạng tiểu đường đã cải thiện nhiều.
Vì vậy nếu quý vị đang cố gắng cải thiện sức khoẻ, xin hãy cộng tác với bác sĩ của mình để theo dõi tình hình kịp thời giảm thuốc uống.”
(BS Kim Williams là bác sĩ tại y viện tim mạch Rush Cardiology thuộc Đai Hoc Y khoa Rush, Oak Park, Chicago)

BS Klaper về bộ óc và trí nhớ:
“ Hiện nay ai cũng lo sợ – lo sợ rất đúng- là về già mình sẽ mất khả năng suy nghĩ và nhớ. Trước đây chúng ta không biết lý do tại sao nên nghĩ đó là diễn trình tuổi già. Nhưng càng nghiên cứu thì các khoa học gia càng thấy rõ không phải vì già mà mất trí nhớ. Có nhiều người trên 100 tuổi mà vẫn sáng suốt, nhạy bén và rõ ràng không suy giảm trí nhớ. Khi chúng ta xem kỹ những bịnh còn lại trong cơ thể, một tình trạng cơ bản cứ hiện lên. Đó là tình trạng viêm xãy ra trong các mô tế bào và tình trạng tuần hoàn máu chắc chắn ảnh hưởng đến sức khoẻ của cơ quan trong cơ thể. Khi nhìn tới não bộ, chúng ta bây giờ thấy tình trạng viêm có một vai trò quan trọng trong chứng trầm cảm và suy sụp trí nhớ, và sự tuần hoàn của máu nữa.”
“Không có gì có thể thay thế những động mạch trơn tru rộng đường cho máu chảy mang khí oxy và dưỡng chất đến mô não, và mọi tế bào cơ thể. Khi gặp người bị mất khả năng tinh thần, bác sĩ khám óc sẽ thấy rõ ràng là động mạch dẫn máu lên não bị nghẹt, và các mô tế bào bị viêm. Họ sẽ hỏi: Tạo sao vậy? Các bạn biết, có lẽ không phải vì vi khuẩn, cũng phải là vì các tia sang lạ từ vũ trụ. Mà chắc chắn là do thức ăn những người này tiêu thụ trong 60 năm, 70, năm, 80 năm ở xứ văn minh như Âu Mỹ – gồm toàn chất đạm động vật và sữa bò, dầu ăn và đường và hoá chất thực phẩm. Đây là hổn hợp độc tố chảy qua tế bào não ngày này qua ngày kia và qua những động mạch trong não. Và càng ngày càng nhiều bác sĩ và chuyên gia y tế đều đồng ý rằng đó là cách mà chủ nhân bộ não đó đã đối xử với não đó bao nhiêu năm qua. Và rốt cuộc nguyên nhân chủ chốt của bịnh mất trí nhớ là thức ăn không lành mạnh”.

“Khi nói chuyện với các sinh viên y khoa trẻ, tôi nói ‘Bạn không thể thực hành y khoa mà không để ý đến sự kiện này. Chính là thức ăn của bịnh nhân quý bạn đang thay đổi họ. Đây là sào huyệt của chứng viêm. Đây là chổ nằm của hệ miễn nhiễm. Đây là chỗ ung thư bắt đầu. Đây là chổ chứng tự miễn nhiễm khởi đầu, ở cấp độ DNA, và thức ăn chính là lực bật lên và tắt gen. Chúng ta không thể giả vờ là sự kiện này không xãy ra. Nó áp dụng cho toàn bộ dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của chúng ta.’
Vì thế, sức khoẻ khởi đầu bằng lối sống lành mạnh, bắt đầu với thức ăn lành mạnh, tức là thực phẩm gốc thực vật dạng thô. Không có thuốc tây nào, thuốc bổ sung nào, dược thảo nào có thể thay thế món xà lách, món xúp, rau cải, qui noa, trái cây, thực phẩm thực vật dạng thô. Đó là nền tảng sức khoẻ thứ nhất.”

Dr. Ayesha Sherzai:
“Hãy xem kết quả nghiên cứu trong thập niên 1990 khi BS Paul Giam ở Loma Linda so sánh sức khoẻ của những người chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật so với những người khác trong chương trình nghiên cứu của nhóm Seventh Day Adventist. Rõ ràng là những người không theo chế độ ăn thuẩn thực phẩm gốc thực vật mà ăn nhiều thức ăn gốc động vật kể cả thịt gà và cá có nguy cơ bị mất trí nhớ (Alzheimer’s) cao gấp đôi những người chuyên ăn thực phẩm gốc thực vật”.
( BS Ayesha Sherzai là 1 giám đốc chương trình phòng ngừa bịnh Alzheimer’s tại Trung Tâm y tế Đại học Loma Linda)

Dr. Peter Breggin (Bạch cầu lymphô mãn tính)
“Tôi xin kể một chuyện xãy ra trong nghề nghiệp bác sĩ tâm lý của tôi. Tôi không tin loại chuyện này. Tôi không tin mốt nhất thời. Tôi không tin phép lạ chữa bịnh. Tôi chống tất cả những thứ đó. Vấn đề là trở lại cách ăn uống lúc cơ thể chúng ta lớn lên.
Tôi có một người bạn, một giao sư Đại học. Chúng tôi có cùng quan diểm chính trị. Anh ta không cho ai biết, ngoại trừ bà xã anh ta, là anh ta bị bạch cầu lymphô bào mãn tính (chronic lymphocytic leukemia). Có lẽ anh ta phải sống với bịnh này suốt đời. Tôi thúc anh chuyển sang ăn thực phẩm thuần thực vật và giới thiệu anh với BS. Pam. Anh ta bắt đầu ăn thực phẩm toàn gốc thực vật không chế biến. Rồi anh ta hết bịnh bạch cầu lym phô bào mãn tính. Tôi không phải là người nhẹ dạ dễ tin đâu. Chế độ ăn uống chỉ gồm thực phẩm gốc thực vật có lý vì hầu như nó chỉ là thực vật. Tất cả xã hội có sức khoẻ tốt nhất là xã hội mà dân chúng ăn nhiều thực vật nhất. Pam không khuyên bạn chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật, nhưng tôi nghĩ bà ấy nói đúng là càng ăn nhiều thực vật; và càng tránh sản phẩm sữa bò và thực phẩm chế biến thì càng có cơ hội thoát hậu quả bịnh tim, bịnh cao huyết áp, bịnh suyễn và càng có cơ hội phục hồi sức khoẻ.”

BS Pam Popper : (Huyết áp, suyễn, loét ruột già)
“Một trong những cộng tác viên kinh doanh của tôi là BS Peter Breggin, một bác sĩ tâm lý nỗi tiếng. Ông ta là người không bao giờ cho bệnh nhân mình uống thuốc tây trong 55 năm hành nghề. Ông ta tuyệt vời trong lãnh vực bịnh tâm thần nhưng lại không bao giờ để ý đến sức khoẻ sinh học. Ông ta bị suyễn, lúc nào cũng bị cảm lạnh và nhiễm trùng. Ông ta uống thuốc huyết áp dài dài và vợ ông ta bị lỡ loét ruột già (ulcerative colitis). Ông ta chú tâm vào bịnh tâm thần đến nỗi không có thì giờ chăm sóc sức khoẻ mình. Vì vậy khi Peter được 82 tuổi, ông ta quyết định thay đổi chế độ ăn uống. Ông ta sút 12 kí lô và nhìn trẻ hơn 20 năm trước. Ông ta không cón phải uống thuốc huyết áp, thuốc suyễn nữa. Bà vợ ông ta cũng thay đổi chế độ ăn uống và dứt binh lỡ loét ruột già đã hành hạ bà bao nhiêu năm.”
(BS Pam Popper là bác sĩ y học tự nhiên -naturopathic doctor- PhD và là tác giả sách- Food over medicine va sách : Solving America’s healthcare crisis)

BS. Peter Breggin:
“Sau 2 tuần ăn toàn thức ăn gốc thực vật không chế biến, tôi thấy yếu người. Tôi tự bảo mình: Ăn như vậy là tào lao. Nhưng vợ tôi (Ginger) bảo: Sao anh không thử đo huyết áp mình. Tôi nghe lời và thấy huyết áp tâm trương (systolic) xuống còn 100.
Vậy là tôi không còn bị cao huyết áp nữa. Mà chỉ cần có 2 tuần lễ với chế độ ăn uống chủ yếu là thực phẩm gốc thực vật không chế biến. Thật thú vị, Vì vậy tôi tiếp tục và sụt gần 30 cân (14 kg).
Vợ tôi bắt đầu chế độ ăn uống mới và sau 2 tuần lễ, bà ấy lần đầu tiên hết đau kể từ khi tôi quen biết bà ấy (tôi nhớ trước đó phải đưa bà ấy đi cấp cứu ít nhất 12 lần). “

Liana Werner-Gray: (Ung thư)
“Tôi lớn lên ở vùng Alice Springs ở giữa Úc châu. Được nuôi dưỡng cần thận nên tôi lớn lên khá khoẻ mạnh. Tuy nhiên khi lên Brisbane học Đại học, tôi bất đầu lao vào lối sống ăn nhanh ăn lẹ với đủ thứ thức ăn chế biến ở McDonald, Pizza, KFC, Doritos. Sáng trưa chiều tối lúc nào cũng ăn thức ăn tạp nhạp. Năm năm như vậy cho tới một ngày tôi cảm thấy có gì lạ lạ nổi lên ở cổ. Tôi đi bệnh viện khám mới biết là mình bị một khối ung thư bằng trái bóng bàn trong tuyến bạch cầu. Mới có 21 tuổi.
Tôi nhớ lại những gì học được từ thổ dân bản xứ. Tôi phải trở lại thiên nhiên, ăn thức ăn thật sự có dinh dưỡng và chữa lành thân mình. Tôi tự nhủ trong 365 ngày tôi sẽ chỉ ăn thức ăn trực tiếp ra từ đất.
Trong vòng 3 tháng, khối ung thư đường kính 3.7 cm tan mất, hoàn toàn biến mất. Vâng chỉ sau 3 tháng thay đổi chế độ ăn uống, và ngừng ăn 4 thứ có hại nhất là gluten (trong bột mì) đường trắng, sản phẩm sữa và thứ gì thay gen, không tự nhiên và tất cả chất bảo trì thực phẩm, bổ sung thực phẩm…. Đúng vây, tôi dẹp hết 4 thứ đó và thay thể những thứ tôi thèm ăn trước đó bằng thực phẩm tự nhiên gốc thực vật. Rồi tôi cũng bắt đầu ép nước rau quả (đặc biệt lúc nào cũng có giá hoa cải xanh – Broccoli sprouts và củ nghệ) để uống 6 lần 1 ngày, tôi cũng uống hổn hợp đất sét bentonite.
Chế độ ăn uống của tôi chỉ có vậy thôi. Sau 3 tháng khối ung thư biến mất và từ đó đế nay, sau 10 năm tôi vẫn khoẻ mạnh, không bị ung thư nữa. “

Steve V. (Bịnh đa xơ Multiple sclerosis)
“Tháng 9 năm 2014, mắt tôi có vấn đề. Sau một loạt khám nghiệm, bác sĩ cho tôi biết tôi bị bịnh đa xơ (MS – Multiple Scleroris). Một bác sĩ bạn tôi giới thiệu tôi tới BS Kahn. Bác sĩ Kahn nói rằng, Đây là một chứng bịnh thông thường mà người ta gọi là bịnh đa xơ hay MS nhưng thật ra nó là một vấn đề đường ruột. Mình phải sửa chữa đường ruột. Phải giảm hệ miễn nhiễm từ trạng thái quá cảnh gíac -thấy cái gì cũng là ngoại thể xâm lăng-xuống tình trạng binh thường.

Trước hết là phải thay đổi chế độ ăn uống, thứ hai cung ứng một ít thứ thuốc bổ sung dinh dưỡng mà thức ăn không cung cấp được cho để hạ hệ miễn nhiễm xuống tình trạng phòng vệ thấp hơn.

Sau sáu tháng, tôi hết bịnh. Tôi từng phải uống thuốc cholesterol, bây giờ không cần nữa. Tôi giãm 9 kí lô nhờ chế độ ăn uống này. Tôi có thể chơi dã cầu với các con tôi, là chuyện tôi không làm được trước đó.”

Dr. Alan Goldhamer: “ Chế độ ăn uống, ngủ, và thể dục là những gì chúng ta có thể làm để sống cho khoẻ mạnh. Phần lớn nhiệm vụ của chúng tôi là hướng dẫn, dạy người ta sống sao cho lành mạnh. Ăn thế nào, thể dục làm sao và cách đảm bảo nghỉ ngơi / ngủ đầy đủ. “
“ Chúng tôi cũng xuất bản một số tài liệu trên báo chí y học. Trường hợp mới nhất được đăng trên Tập san Y học Anh quốc (British Medical Journal) về một phụ nữ ung thư hạch lymphô trong 2 năm tới gia đoạn 3. Bà thực hiện 21 ngày nhịn ăn và khối ung thư của bà biến đi trong lúc nhịn ăn. 10 ngay ăn trờ lại, theo dõi trong 3 năm cho thấy bà ta qua khỏi ung thư lym phô bằng cách ăn thức ăn thuần gốc thực vật.

“ Phương pháp trị bịnh của chúng tôi không phải dễ dàng mà có vẻ nguy hiểm và cực đoan đôi với nhiều người vì nó đòi hỏi họ phải bỏ lối sống quen thuộc cố hữu trãi qua hàng bao nhiêu chục năm trong đời họ. Ăn uống lành mạnh, đi ngủ đúng giờ, tập thể dục thích hợp mỗi ngày là lối sống quá mức tưởng tượng của nhiều người”.
(BS Alan Goldhamer là sáng lập viên của trung tâm y tế TrueNorth Health Centre, tốt nghiệp Western States Chiropractic College in Portland, Oregon.)

Xin lưu ý: Bài viết này chỉ có mục tiêu phổ biến thong tin chứ không thay thế ý kiến của bác sĩ chăm sóc quý bạn.

Tham khảo:

  1. Carnegie Mellon University (2012) How stress influences disease: Study reveals inflammation as the culprit. ScienceDaily. https://www.sciencedaily.com/releases/2012/04/120402162546.htm
  2. Greger, M. (2012). Dead Meat Bacteria Endotoxemia. NutritionFacts.org
  3. Jonathan Otto and Health Secret, LLC (2019). Natural Health Secrets. Episode Transcripts. Hosted by Jonathan Otto.
  4. Minich, D. (2017) What you need to know about a high-fat diet. Huffpost. https://www.huffingtonpost.com/entry/what-you-need-to-know-about-a-high-fat-diet_us_595f22c4e4b0cf3c8e8d57b0
  5. Kapler, M. About Dr. Kapler. https://www.doctorklaper.com/about

Cẩm nang đánh bại Ung thư

Mặc dầu thế giới không thiếu thông tin về thành quả đánh bại ung thư bằng cách thay đổi ăn uống và sinh hoạt của hàng vạn người, ung thư vẫn được xem là bản án tử hình trên phương tiện truyền thông đại chúng. Hầu hết mọi người đều bị ảnh hưởng của truyền thông đại chúng nên không có nỗ lực chống trả ung thư nào khác ngoài hoá trị và xạ trị . Và nếu may mắn chữa trị sớm thì thoát được nhưng tỉ lệ may mắn này rất nhỏ.

Những người cố gắng đánh trả ung thư bằng cách tự nhiên như thay đổi ăn uống, sinh hoạt và dược thảo thì lại lúng túng không biết bắt đầu từ đâu, phải làm gì, và có thể làm gì. Kết quả là lo lắng, hoang mang. Nghe người nào nói có món thuốc này, món ăn nọ, món dược thảo kia trị được ung thư thì chạy cuống cuồng tìm cho được… Rồi kết quả cũng không có gì đáng mừng lắm.

Để giúp cho quý bạn và người thân quý bạn tự tin biết cách đánh bại ung thư nếu gặp phải, tôi xin tổng hợp thông tin đáng tin cậy lập thành Cẩm nang đánh bại ung thư trong 2 trang  ai cũng có thể có và dùng được. Quý bạn có thể tải cẩm nang tiếng Việt và tiếng Anh dưới dạng hồ sơ PDF như sau:

cẩm nang đánh bại ung thư  tiếng Việt

guide-to-defeating-cancer tiếng Anh

Cẩm nang này có thể dùng như 1 phương pháp tự nhiên toàn diện để đánh bại ung thư nhưng cũng có thể dùng để tăng công hiệu và giảm ảnh hưởng bất lợi do cách chữa trị Tây y gây nên. Sau đây là những cách đánh bại ung thư.

  1. Xem Ung thư là tiếng chuông cảnh tỉnh, chứ không phải là án tử hình.

Đầy là bước quan trọng nhất. Ung thư chỉ là án tử hình khi chúng ta tin như vậy. Điều này được các bác sĩ, y sĩ công nhận là đúng với các bệnh nhân ung thư do họ chữa trị. Những người xem ung thư là tiếng chuông cảnh tỉnh trái lại không ngừng cảm tạ là mình đã bi ung thư và nhờ đó cuộc sống của họ được biến đổi cách tuyệt vời.

Tại sao? Vì hiện nay người ta biết rằng mỗi ngày có hàng trăm ngàn tế bào ung thư được hình thành trong cơ thể mọi người. Phận sự của hệ thống miễn nhiễm là diệt trừ những tế bào ung thư đó. Nếu hê miễn nhiễm quá yếu không hoàn thành được công tác này thì tế bào ung thư tích luỹ càng lúc càng nhiều và kết quả là ung thư. Vì vậy, phát hiện ung thư là tiếng chuông cảnh báo cho chúng ta biết rằng mình cần phục hồi và bồi bổ hệ miễn nhiễm để nó có thể chận đứng và đảo ngược diễn trình phát triển ung thư. Ai cũng có thể làm được việc đó bằng cách tránh thức ăn độc hại, chỉ ăn thức ăn lành mạnh, nuôi dưỡng liên hệ tình cảm gia đình và xã hội lành mạnh, xây dựng tấm lòng khoan dung, nhân ái, thương yêu, một tâm tình biết ơn, và một lối sống tích cực. Chúng ta cần nhớ là mình cần phải giải quyết ung thư tận rễ – tức là không phải chỉ diệt trừ tế bào ung thư mà làm chúng không còn đường trở lại.

Tây y đúng khi bảo không có thuốc chữa ung thư. Và cũng đúng là không có bác sĩ , y sĩ nào có thể chữa trị ung thư cho bệnh nhân. Chỉ có chính bệnh nhân mới có thể chữa trị, đánh bại ung thư trong cơ thể mình bằng cách thay đổi cách ăn uống, lối sinh sống và tinh thần tình cảm. Một khi  khẵng định chỉ có mình mới có thể đánh bại ung thư và quyết tâm đánh bại nó thì sau đây là những thay đổi trong cách ăn uống và lối sống cần thiết  phải làm:

  1. Tránh thức ăn có hại, là thức ăn nuôi tế bào ung thư như đường,  thịt đỏ, sửa bò, bia rượu, thực phẩm chế biến kể cả dầu ăn thực vật chế biến như dầu canola, dầu đậu nành, dầu hột hướng dương, dầu cám gạo … và món ăn có đường kể cả đường nhân tạo, soda và thực phẩm biến đổi Gen. Các dầu thực vật tinh chế có quá nhiều omega 6 so với omega 3 gây viêm và làm yếu hệ miễn nhiễm. Dùng nhiều thực vật tinh chế là một trong những nguyên nhân gây ung thư. Tế bào ung thư sống nhờ đường và thịt chúng ta ăn vào. Ngừng ăn thịt và đường tế bào ung thư sẽ chết đói. Vì vậy đây là việc quan trọng nhất. Xin đừng nghe theo người trong gia đình và bạn thân là người vì thương mình, sợ mình không có đủ sức chống chỏi nên khuyên ép mình ăn thịt, uống sửa Ensure, ăn miếng bánh ngọt…
  2. Luôn luôn ăn bữa ăn có nhiều rau quả gồm nhiều loại để tăng cường hệ miễn nhiễm. Nếu muốn có một chế độ ăn uống rõ ràng hơn trong thời kỳ chống ung thư, chúng ta có thể dùng chế độ ăn uống mà bác sĩ Renee Wellhouse đã dùng thành công cho bệnh nhân bị ung thư của mình, được tóm gọn như sau:
    Điểm tâm: Trái cây và nước ép trái cây hữu cơ (không có dầu mở rau cải hay chất đạm)
    Ăn trưa: Rau cải ăn với dầu mở tốt như dầu ô liu nguyên chất, dầu dừa, dầu hột flax (tốt nhất là trộn đều với da ua dừa theo công thức Budwig), trái bơ. Không có chất đạm. Nguồn hữu cơ nếu được.
    Bữa ăn chiều: Chất đam gốc thực vật (như từ hạt họ đậu) cùng với rau cải . Không có chất bột và trái cây. Nguồn hữu cơ nếu được.

Sau đây là loại rau quả có tính chống ung thư có thể chọn lựa cho những ăn trên  (ít nhiều tuỳ từng loại):

  • Nấm có tính chống ung thư ở vú, bao tử, trực tràng và tiền liệt tuyến
  • Tỏi có tính chống ung thư ở da, phổi, ruột già và bao tử.
  • Quả mọng (berries) có tính chống ung thư ở da, bọng đái, phổi, ngực và thực quản.
  • Củ nghệ có tính chống ung thư ở vú, ở ruột, bao tử và da.
  • Bắp cải và rau cải có tính chống ung thư ở vú, phổi, ruột già và tiền liệt tuyến.
  • Rau có lá màu xanh đậm có tính chống ung thư ở vú, da, bao tử, miệng, thanh quản và yết hầu.
  • Ăn hay uống nước xay rau mầm hoa cải xanh (broccoli sprouts) mỗi ngày vì rau mầm hoa cải xanh chứa nhiều nhất chất chống ung thư mạnh nhất trong các loại rau cải. Xem bài rau mầm
  • Các loại hột đậu (nẩy mầm là tốt nhất) có tính chống ung thư ở miệng, bao tử, ruột già, vú và tiền liệt tuyến
  • Nho đỏ (red grapes) có tính chống ung thư ở da và vú.
  • Hạt óc chó (walnut)có tính chống ung thư vú và tiền liệt tuyến.
  • Rau cần tây (celery có tính chống ung thư ở buồng trứng, lá lách, tiền liệt tuyến, vú , gan và phổi.
  • Vỏ chanh / quýt có tính chống ung thư ở da, buồng trứng, ruộc già, vú, máu và di căn ung thư.
  • Dầu dừa nguyên chất ép lạnh (cold pressed virgin coconut oil) có tính chống ung thư vú và ung thư ruột già. Ngoài ra nên chỉ nên dùng dầu dừa để chiên xào.
  • Mỗi ngày uống những loại trà có tính chống ung thư như trà xanh, trà rễ bồ công anh, trà lá đu đủ.
  1. Biện pháp dinh dưỡng chống ung thư đặc thù.
  • Ăn dầu dừa : mỗi ngày 3-4 muỗng canh dầu dừa sẽ giúp làm teo u xơ ung thư một cách tuyệt vời. Vì dầu dừa có tính kháng ung thư rất mạnh. (Xem bài lợi ích tuyệt vời của dầu dừa )
  • Dầu hạt thì là đen (Black cumin seed oil) có tính chống tất cả các loại ung thư, nhưng đặc biệt là ung thư lá lách và ung thư ruột già. Liều lượng hữu hiệu nhất theo thử nghiệm lâm sàng là: uống 1 muỗng nhỏ (muỗng cà phê hay 5 phân khối) dầu hạt thì là đen trộn với với 1 muỗng nhỏ mật ong tươi trước bửa ăn sáng 30 phút và trước khi đi ngủ. Buổi chiều thì trộn với nước của 1 trái cam. (Tối đa 3 muỗng nhỏ một ngày đến khi hết ung thư và 1 muỗng để bảo trì sức khoẻ sau đó). Hạt thì là đen và dầu của nó còn có công hiệu điều hoà tiểu đường, huyết áp, mỡ máu và bổ dưỡng cho thận, tim, gan, hô hấp, tiêu hoá, bàng quang và hệ miễn nhiễm.
  • Qui trình dinh dưỡng Budwig. Qui trình này được Bác sĩ Budwig ở Germany nghiên cưú, và sử dụng chữa trị ung thư thành công từ thâp niên 1990, dựa trên cở sở là tế bào ung thư không thể sống trong môi trường giàu oxy: Trộn thật kỹ 1 muỗng lớn dầu hột flax (flax seed oil) với 2 muỗng lớn phó mát tươi (cottage cheese) hay 2-3 muỗng lớn gia ua dừa (coconut yogurt). Ăn hỗn hợp này 1 ngày ba lần. Hỗn hợp này giúp chữa màng tế bào để nhanh chóng đem oxy đến các tế bào trong cơ thể. Nên tiếp tục sử dụng qui trình này sau khi hết ung thư để bảo tồn năng lực.
  1. Giải toả căng thẳng tình cảm và tâm tình tiêu cực. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng tâm tình tiêu cực và căng thẳng tình cảm gây nên nhịp tim bất ổn, và thất thường làm cho cơ thể hoạt động kém hữu hiệu, rút cạn năng lực và làm hao mòn cả thân thể chúng ta. Vì vậy chúng ta cần giải toả hết tình trang giận dữ, buồn bực , nãn lòng, lo lắng, căm ghét, uất hận, cố chấp, cay đắng, hối tiếc… để cơ thể chúng ta khỏi bị suy kiệt. Chúng ta cần nhận ra mọi tâm tình tiêu cực của mình. Cân nhắc tai hại mà chúng gây ra cho sức khoẻ, hạnh phúc và mức độ vui sống của mình. Hãy cầu nguyện cho mình có can đảm nói ra những tình cảm tiêu cực này và dứt bỏ chúng. Hãy tiếp tục cầu nguyện cho đến khi không còn tâm tình tiêu cực nữa. Nếu được, chúng ta nên tìm sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè hoặc cố vấn tâm lý, tâm linh trong cuộc chiến này.
  2. Bồi dưỡng tình cảm lành mạnh, tích cực.

Kinh nghiệm sống và khoa học xác nhận rằng tâm tình lành mạnh cùng tình cảm tích cực có tác dụng làm cho nhịp tim có khuôn mẫu hoà hợp, giúp cho cơ thể hoạt động đồng điệu, điều hoà và tự chữa lành hữu hiệu hơn.

Một khi chúng ta xem ung thư là tiếng chuông cảnh tỉnh, chúng ta sẽ kiểm điểm đời sống mình, gẫm lại để điều chỉnh mục đích và ý nghĩa cuộc sống mình. Cách tôt nhất là bắt đầu và chấm dứt mỗi ngày bằng lời cầu nguyện tạ ơn Đấng Tạo hoá cho những điều tốt đẹp, ích lợi mình đã nhận được và biết ơn những lời nói, cử chỉ nhân hậu, tử tế của người khác cho mình. Kế đến là cầu xin cho mình được tràn đầy lòng thương xót, tình thương vô điều kiện, sự khoan dung tha thứ, biết cảm kích lòng tốt của người khác, và có lòng tử tế nhân từ…

8. Phơi nắng nhiều hơn để hấp thụ đủ vitamin D. Vitamin D giúp cản không cho ung thư phát triển và gây di căn nhất là đội với ung thư vú, tiền liệt tuyến, trực tràng và da.

9. Nhịn ăn 2-3 ngày mỗi tháng hoặc nhịn ăn 16 giờ ít nhất ba bốn lần một tuần (có thể là nhịn ăn sáng hoặc tối ) để cho hệ tiêu hoá ngơi nghỉ. Làm như vậy sẽ giúp cho hệ miễn nhiễm và hệ giải độc của cơ thể có thêm nhiều năng lượng và thì giờ để loại bỏ độc tố và chất thải ra khỏi cơ thể và tăng tốc độ chữa lành.

10. Tham gia sinh hoạt vận động cơ thể như bơi, đi bộ, đạp xe đạp, thể thao nhẹ 30-60 phút 3 lần 1 tuần.

 Xin lưu ý: Mục đích của cẩm nang này chỉ là phổ biến thông tin chứ không thay thế chỉ dẫn của các y sĩ chăm sóc quý vị.

Xin quý bạn tải xuống cẩm nang này ở đây:

cam nang danh bai ung thu tiếng Việt

guide to defeating cancer  tiếng Anh

Xin vui lòng phổ biến để giúp những người bị chẩn đoán ung thư và gia đình họ. Xin cảm ơn.

Tài liệu Tham khảo:

Black Cumin Center. Black Cumin Cancer Protocol. https://www.blackcumincenter.com/black-cumin-protocol.html

Bollinger, T. & Scholberg. A. (2012). The 31-day Home Cancer Cure . Online Publishing & Marketing, LLC.

Chacko, M. Thambi, P.T. & Nishigaki (2010) Beneficial effects of green tea: A literature review. Chin Med. 2010: 5: 13

Clark, I. (2014). Black Cumin Seed oil: Ultimate Life Elixir . https://www.activationproducts.com/blog/black-cumin-healing/

Cousineau, F. & Scholberg, F. (2014). Cancer Breakthrough USA! Little-known American clinics that turn around even “hopeless ” cancer cases. Published by Online Publishing & Marketing, LLC.

Desaulniers, V. (2016). 7 Essentials system. https://breastcancerconqueror.com/about/7-essentials/

HeartMath (2018) . The Science of HeartMath. Article made available by HeartMath LLC. https://www.heartmath.com/science/

Jocker, D. (2016) Benefits of Epsom Salt Baths: A Powerful (and Cheap!) Detoxifier https://thetruthaboutcancer.com/benefits-epsom-salt-baths/

Michaels, B. (2014). The Gift of Cancer: A miraculous Journey to healing. Skyhorse Publishing.

Otsuki, N . et al. Aqueous extract of Carica papaya leaves exhibits anti-tumor activity and immunomodulatory effects. J Ethnophatmacol. 2010 Feb 17;127(3):760-7/ doi:10.1016/j.jep.2009.11.024. Epub 2009 Dec 2.

Ovadje, P., Ammar, S. & Pandey, S. Dandelion root extract affects colorectal cancer proliferation and survival through the activation of multiple death signaling pathways. Oncotarget. 2016 Nov 8: 7(45): 73080-73100.

Robins, O. (2018). Eat to Defeat Cancer: 10 Superfoods that nourish every cell. Food Revolution NetWork.

Wang, L. et al (2014). Anticancer activities of citrus peel Polymethoxyflavones related to angiogenesis and others. BioMed Research International Volume 2014, Article ID 453972. http:dx.doi.org/10.1155/2014/453972

Viêm khớp

Trị Bịnh Viêm khớp – Arthritis bằng Chế độ dinh dưỡng

Tóm tắt: Kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu kiểm nghiệm lâm sàng cho thấy có thể trị dứt bịnh viêm khớp bằng chế độ ăn uống thuần rau quả cùng với dầu mỡ tốt, thưc phẩm lên men và phụ trợ tăng khả năng hấp thụ calcium. Thời gian chữa trị có thể rút ngắn bằng cách nhịn ăn 1-2 tuần trước khi thay đổi chế độ ăn uống . Đồng thời có thể giảm đau nhức cấp thời bằng cách dùng phụ trợ chống viêm và ngừng tiêu thụ một số thức ăn như đường, sữa, dầu thực vật tinh chế, sản phẩm bột mì, thực phẩm chế biến và thực phẩm gốc động vật.

Sơ lược bệnh viêm khớp

Bệnh viêm khớp – gồm cả phong  thấp, thấp khớp, gút – thường làm cho khớp xương sưng, đau nhức, cứng nhắc và hạn chế phạm vi cử động. Những triệu chứng này có thể nay có mai không và có thể nhẹ, trung bình hoặc trầm trọng và có thể không thay đổi năm này qua năm khác nhưng cũng có thể ngày càng nặng. Viêm khớp nặng có thể gây đau dài hạn, làm người bịnh mất khả năng thực hiện sinh hoạt hằng ngày, khó khăn lên xuống cầu thang.

Viêm khớp cũng có thể làm khớp cong quẹo vĩnh viễn nếu chỉ trị bằng thuốc tây (xem hình)

Có hàng trăm thứ viêm khớp khác nhau, bệnh viêm khớp thường gặp nhất là

-Bịnh viêm khớp thoái hoá (degenerative arthritis – osteoarthritis) do xương sụn bọc khớp bị mòn hay thoái hoá vì cơ thể không hấp thụ đủ calcium. Loại viêm khớp này thường thấy ở người lớn tuổi.

-Bịnh viêm xung quanh khớp (Inflammatory Arthritis) xãy ra khi hệ miễn nhiễm tấn công các khớp vì lầm tưởng đó là ngoại sinh vật xâm lược cơ thể. Nơi nào bị hệ miễn nhiễm tấn công thì nơi đó bị viêm.

– Nhiễm trùng khớp (infectious arthritis) xãy ra khi khớp bị nhiễm vi trùng, vi khuẩn hay vi nấm (fungus). Phản ứng của hệ miễn nhiễm gây viêm và đau nhức ở khớp. Chữa trị kịp thời bằng kháng sinh thường dứt bịnh, nhưng có khi thành viêm khớp mãn tính.

– Viêm khớp do dưỡng chế (Metabolic Arthritis) thông thường gọi là bịnh gút, xãy ra khi cơ thể không kịp thải bỏ uric acid, một sản phẩm phụ của qui trình biến dưỡng chất purine thường có trong tế bào cơ thể và thức ăn. Acid uric tích tụ nhiều sẽ tạo thành tinh thể giống những cây kim xung quanh khớp gây đau nhức.

Chế độ dinh dưỡng trị bịnh viêm khớp:

Vì mỗi lọại viêm khớp có nguyên do riêng của nó, nên cách chữa trị cho loại này khác cách chữa trị cho khác. Thêm vào đó, cách chữa trị chỉ nhắm mục tiêu giảm đau cũng khác cách chữa trị tận gốc. Cách chữa trị tận gốc có thể cần thời gian lâu, từ vài tháng đến vài năm. Trong khi đó cũng cần gấp rút giảm đau nhức. Vì vậy thông thường nên phối hợp cả 2 cách chữa tri cho đến khi trị dứt.

A.  Cách trị tận gốc:

Viêm khớp là một trong những hậu quả của chế độ dinh dưỡng không lành mạnh vì chê độ ăn uống quyết định tình trạng đường ruột và hệ miễn nhiễm. Viêm khớp có thể là hậu quả của tình trạng miễn nhiễm tự tác (autoimmune) (Campbell, 2014) hoặc tình trạng viêm đường ruột (Mielands, Veys, Cuvelier & De Vos, 1996) liên quan sự mất thăng bằng trong quần thể vi sinh đường ruột hoặc vì màng đường ruột bị rò rĩ (Jacob, 2013; Campbell, 2014), tức là màng đường ruột có kẻ hở đủ lớn cho nhiều vật thể không thân thiện lẻn vào máu. Viêm khớp cũng có thể liên quan đến tình trạng xượng bị thoái hoá vì thiếu những vitamin và khoáng chất cần thiết để hấp thụ đủ calcium (Nutriceuticals world, 2013).

Cách trị tận gốc bịnh viêm khớp vì vậy gồm nhiều biện pháp. Kiễm nghiệm lâm sàng cho thấy mỗi biện pháp đều có kết quả hiệu lực cho đa số bịnh nhân tham gia trong cuộc thử nghiệm nhưng không hữu hiệu cho tất cả. Chẳng hạn như biện pháp nhịn ăn sẽ không hiệu lực cho những người bị viêm khớp do nhiễm trùng, hay do thoái hoá xương

  1. Nhịn ăn: (Nếu nhịn ăn không thích hợp thì chuyển sang ăn rau quả – mục kế tiếp) Nhịn ăn làm giảm tình trạng rò rĩ màng ruột, cho nên nhịn ăn 2 tuần lễ giúp cải thiện rất nhiều tình trạng viêm khớp theo kết quả của nhiều nghiên cứu kiểm nghiệm lâm sàng (Beri, Malaviya, Shandilya & Singh,1988; Longo, V.D. & Mattson, 2014; Sandqvist et al , 1999). Xin xem lại bài nhịn ăn trong đó có cô Diana kế lại cô hết đau viêm khớp sau 11 ngày nhịn ăn và chỉ uống nươc rau cải ( Nhật ký của Diana)
  2. Sau khi nhịn ăn (hoặc không cần thiết nhịn ăn), chỉ nên ăn rau quả và thực phẩm thực vật (vegan) vì thực thẩm gốc thực vật chống viêm, tạo môi trường kiềm cho cơ thể. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy chế độ dinh dưỡng bằng rau quả giúp tăng cường lượng vi sinh tốt trong bộ tiêu hoá, giảm rò rĩ màng ruột (Peltonen R. et al, 1997) và đẩy lùi triệu chứng viêm khớp (Kjeldsen-Kragh, 1999).
  3. Ăn dầu mỡ tốt sản xuất bằng phương ướp lạnh như dầu dừa, dầu hột flax, dầu ô liu, dầu hột não chó (walnut oil), dầu trái bơ (avocado oil) (Arthritis Foundation 1). (Chỉ dùng dầu dừa để xào nấu) Theo nghiên cứu lâm sàng gần đây, dầu dừa là mỡ tốt có thể giúp chữa lành rò rĩ màng ruột, có tác dụng giảm viêm khớp (Ratheesh et al., 2017; Paul Fassa, 2017) và kiềm chế nấm Candida (Kearney et al, 2015). Khi nấm men Candida chế ngự cơ thể thì cơ thể bị nhiều triệu chứng bịnh, trong đó có viêm khớp (Muedin, 2013). Dầu dừa còn có tác dụng trị bịnh miễn nhiễm tự tác (auto immune disease) kể cả viêm khớp (Myers, 2015).
  4. Ăn nhiều thức ăn lên men như kim chi, dưa cải chua, gia ua dừa sống (coconut yogurt), chao, đậu nành lên men (natto), gia ua sữa (nếu bị viêm khớp thoái hoá, nhiễm trùng hay gút) hoặc uống phụ trợ probiotics để tăng cường sức khoẻ và hệ miễn nhiễm đường ruột. (Helme, J., 2015).
  5. Tăng khả năng hấp thụ calcium của cơ thể bằng cách sử dụng khoáng chất bổ sung như boron, magnesium, Vitamin K và vitamin D (Christakos, 2011). Viêm khớp do thoái hoá xương liên hệ đến tình trạng cơ thể giảm khả năng hấp thụ calcium chứ không phải vì tiêu thụ không đủ calcium. Cơ thể cần có đủ boron (Walter Last) magnesium, vitamin K, vitamin D mới hấp thụ được đầy đủ calcium (Nutriceuticals world, 2013). Thiếu những chất này thì uống bao nhiêu sữa và bao nhiêu calcium bổ sung đi nữa, xương vẫn loãng và viêm khớp cứ tệ hơn. Chúng ta có thể mua phụ trợ tổng hợp đủ những khoáng chất trên để tăng hấp thụ calcium và dứt bệnh viêm khớp thoái hoá như Clinicians Bone Care Complete ở NZ, hoặc Bone Strength, Bone-Up, Bone Solid ở iherb.com

B. Cách giảm đau nhức gấp rút: Xin lưu ý là không phải cách nào trong những cách này cũng công hiệu cho tất cả mọi người bị viêm khớp. Bịnh viêm khớp thường liên hệ rất nhiều đến dị ứng thức ăn (food allergy) và tình trạng chuyển hoá dinh dưỡng của cơ thể. Có thể chọn lọc nhưng cũng có thể thử mỗi lần một vài cách vì  tất cả nếu không có công hiệu thì cũng không có hại gì cả.

  1. Ngừng tiêu thụ những thức ăn thức uống sau đây:
  • Ngừng sử dụng sữa bò và thực phẩm gốc sửa bò (nếu cơ thể có phản ứng với sữa bò). Nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy nhiều người (nhưng không phải tất cả) dùng lại sửa bò và thưc phẩm gốc sữa bò và động vật sau khi nhịn ăn thì bị đau nhức viêm khớp trở lại (Kjeldsen-Kragh, 1999). Tuy nhiên, nên ăn sữa chua gia ua sống (live yogurt – nghĩa là gia ua có thể dùng để gầy thêm gia ua mới) để giúp diệt vi sinh có hại trong ruột để gỉam rò rĩ đường ruột. (Dr Axe, 2017) Có thể thay thế sữa bò bằng sửa hạnh nhân, sửa gạo, sửa (kem) dừa….
  • Ngừng hay giảm thiểu ăn thịt vì thịt chứa nhiều nội độc tố (endotoxin) do vi sinh trong thịt tiết ra (khi thịt còn sống) và mỡ bảo hoà trong thịt tăng lượng độc tố chuyển vào máu. Kết quả là tăng chứng viêm trong người (Greger, 2012). Vi sinh độc hại thích thịt, nên ăn nhiều thịt sẽ giúp vi sinh độc sinh sôi và tăng trưởng trong bộ tiêu hoá, nâng cao mức lượng nội độc tố gây nhiều thứ bệnh kể cả viêm khớp (Minich D., 2017)
  • Ngừng hay giảm thiểu thức ăn nước uống chứa nhiều purine như bia rượu, sò điệp, cá cơm, cá thu, thịt, nhất là thịt nai, thịt bacon, bò non, nai, gan, thịt bò, gà, vịt, heo… Càng ăn nhiều thực phẩm chứa nhều purine thì càng tăng mức acid uric trong người, gây nên đau nhức viêm khớp gút (Roubenoff, n.d.)
  • Ngừng dùng dầu ăn thực vật (vegetable oils) tinh chế như dầu canola, dầu đậu nành, dầu bắp, dầu hột hướng dương (Kris Gunnars (2013). Vì những thứ dầu này chứa qua nhiều omega-6 so với omega-3 nên gây viêm và hại đường ruột (Arthritis Foundation 5; Hyman, 2015). Ăn nhiều mỡ động vật kể cả sữa bò nguyên kem (full cream dairy products) cũng gây nên viêm khớp (Arthritis Foundation 3).
  • Ngừng ăn thức ăn chế biến, nhất là những loại khoai tây chiên, rán (chips), vì thức ăn chế biến thường chứa nhiều dầu mỡ chiên đã biến chất (transfat) là những chất tạo viêm và kích hoạt triệu chứng viêm khớp (Arthritis Foundation 4)
  • Ngừng ăn đường (Arthritis Foundation ) và những thức ăn gốc tinh bột (refined carbohydrates) như bánh mì trắng, gạo trắng, bột khoai tây trắng vì những chất này gây viêm và những đau nhức mãn tính (Arthritis Foundation 6; Franziska Spritzler, 2017).
  • Ngừng ăn thức ăn có bột ngọt (MSG) tức là nên tránh tất cả thức ăn chế biến Á châu vì bột ngọt kích hoạt viêm và đau nhức mãn tính (Arthritis Foundation 7)
  • Ngừng tiêu thụ thức ăn gốc lúa mì (wheat), lúa mạch (barley) và lúa mạch đen (rye) vì có chứa gluten, là chất thường gây rò rĩ màng ruột và những bệnh miễn nhiễm tự tác kể cả viêm khớp (Rath, 2015; Punder & Pruimboom, 2013).
  1. Ăn mè sống  xay (hay giã nhỏ) mỗi ngày  40 gm (chia ra làm nhiều lần ) sẽ giảm đau nhức viêm khớp rất nhiều theo kết quả nghiên cứu lâm sàng ở Đại Học Tabriz Iran năm 2013 với 50 bệnh nhân tham gia (Sayer Ji, 2013).
  2. Phụ trợ cao củ nghệ (Turmeric supplement). Kết quả tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng của Daily, Yang và Park (2016) xác nhận dùng cao củ nghệ (turmeric extract) có hiệu lực giảm đau viêm khớp. Liều lượng tối thiểu để có hiệu lực giảm đau là 1000mg cao, tương đương khoảng 30 g củ nghệ khô. Công thức phụ trợ cao củ nghệ cần phải có tiêu đen (black pepper) để giúp cơ thể hấp thụ hữu hiệu chất thuốc của củ nghệ.
  3. Phụ trợ Bromelain. Bromelain là một nhóm enzyme từ trái dứa có tác dụng chống viêm và nhiễm trùng được chứng nghiệm đã giúp nhiều bệnh nhân viêm khớp thoái hoá giảm đau đáng kể (Pavan et al, 2012) . Có thể dùng liều 2000 mg 3 lần một ngày giữa 2 bửa ăn . (Arthritis Foundation 8).
  4. Dầu cá (fish oil). Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cho thấy dầu cá giúp nhiều bệnh nhân giảm đau khớp và giúp cử động dễ hơn. Cần dùng 2.6 gm 2 lần một ngày dầu cá loại tốt (Nordic fish oil) gồm ít nhất 30 phần trăm EPA/DHA (Arthritis Foundation 9 ).
  5. Dầu hạt đen (black seed oil) – có thể cũng gọi là dầu hạt mè đen hay dầu thì là Ai cập – có công dụng chữa được nhiều bịnh. Một cuộc thử nghiệm lâm sàng với 40 phụ nữ bị viêm khớp (RA), tất cả đều giảm đau rất nhièu sau khi dùng 500 mg dầu hạt đen 2 lần một ngày trong 1 tháng (Gheita & Kenawy, 2012).
  6. Phụ trợ gồm enzyme huỷ đạm (proteolytic enzyme). Khi chổ nào bị thương thì cơ thể đưa chất đạm fibrin đến đó để tạo một tấm lưới bảo vệ cho platelets và hồng cầu làm xong công tác chữa lành nơi đó. Chữa lành xong thì cơ thể lại gởi enzyme huỷ đạm đến đó để dọn sạch fibrin và phục hồi tình trạng nguyên si trước đó. Khi cơ thể không đủ enzyme để huỷ fibrin thì fibrin tích luỹ thành sẹo cứng, cản trở mạch máu, gây trở ngại hoạt động bắp thịt và gây viêm mãn tính. Lượng enzymes huỷ đạm trong cơ thể giảm đi sau 25 tuổi là 1 trong những nguyên do có thể gây  viêm khớp (Cannone, 2011). Enzyme huỷ đạm như bromelain, rutin, papain có tác dụng giảm đau viêm khớp như các thuốc tây giảm đau nhưng có lợi thế hơn  là bảo vệ sụn khớp (Bolten et al, 2015; Nouza, 1994). Có thể tìm mua phụ trợ enzyme huỷ đạm bán trên internet như

“Doctor’s Best, Proteolytic Enzymes, 90 Enteric Coated Veggie Caps” với giá $US20 trên iherb.com (Iherb.com tương đối khá rẽ so với các tiệm khác, tính bằng tiền địa phương của người mua và tuỳ trường hợp có khi miễn cước phí). Phụ trợ này gôm bromelain, papain, amylase, rutin, lipase, neutral protease, bacterial protease, fungal protease và Serratiopeptidase.

Trong 10 người sử dụng thì có 8 người thấy phụ trợ này có công hiệu tuyệt vời. Dĩ nhiên loại phụ trợ này có thể không công hiệu cho những người bị viêm khớp thoái hoá.

  1. Cao gừng (ginger extract) được kiểm nghiệm có tác dụng giảm đau viêm khớp không thua gì steroid. Liều dùng trong nghiên cứu tương đương 3 gam gừng khô 2 lần một ngày (Arthritis Foundation 10)
  2. Dầu hột flax (Flax seed oil) chứa rất nhiều omega 3 nên có công hiệu chống viêm hữu hiệu và được công nhận là có hiệu quả giảm đau cho nhiều người bị viêm khớp. ( Arthritis Foundation 11 )
  3. Chondroitin sulfate và glucosamine có công hiệu giảm đau cho một số người bị viêm khớp thoái hoá nhưng trung bình không có hiệu quả bao nhiêu (Arthritis Foundation 12)
  4. MSM Methylsulfonylmethane là một hợp chất sulphur tự nhiên trong rau quả, mễ cốc và động vật. MSM có tác dụng giúp giảm đau và viêm cho tất cả 50 người tham gia1 thử nghiệm lâm sàng. Liều dùng từ 1 g đến 3 g mỗi ngày. (Arthritis Foundation 13)

Phụ trơ tổng hợp tên Flexitrinol chứa vitamin C, dầu hột flax, dầu cá, vitamin E, boron, dầu Eneming Primrose, chondroitin sulfate, MSM và Glucosamine được đánh giá là phụ trợ trị đau viêm khớp hữu hiệu nhất. (Richard, dietsinreview 2016)

Xin lưu ý: Bài viết tóm tắt trên đây chỉ có mục đích thông tin để giúp quý bạn nắm vững hơn tình hình khi lấy quyết định liên quan đến sức khoẻ mình. Bài viết này không thay thế nhu cầu tham khảo ý kiến y sĩ chăm sóc sức khoẻ của quý bạn.

 

Tham khảo:

Beri, D., Malaviya, A.M., Shandilya, R. & Singh, R.R. (1988) Effect of dietary restrictions on disease activity in rheumatoid arthritis. Ann Rheum Dis. 1988 Jan; 47(1): 69–72

Bolten, W. W. et al (2015). The Safety and Efficacy of an Enzyme Combination in Managing Knee Osteoarthritis Pain in Adults: A Randomized, Double-Blind, Placebo-Controlled Trial. Arthritis. 2015; 2015: 251521.  doi:  10.1155/2015/251521

Campbell, A.W. (2014) Autoimmunity and the Gut . Autoimmune Dis. 2014; doi:  10.1155/2014/152428

Cannone, J. (2011) What Is Fibrin – And What to Do About It Now to Relieve Pain & Improve Health. The Healthy Back Institute. URL: https://www.losethebackpain.com/what-is-fibrin/

Christakos, S. et al. Vitamin D and Intestinal Calcium Absorption. Mol Cell Endocrinol. 2011 Dec 5: 347(1-2): 25-29.  doi:  10.1016/j.mce.2011.05.038

Daily, J.W., Yang, M. & Park, S. Efficacy of Turmeric Extracts and Curcumin for Alleviating the Symptoms of Joint Arthritis: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Clinical Trials. J Med Food. 2016 Aug 1; 19(8): 717–729. doi:  10.1089/jmf.2016.3705

Dr Axe (2017) Leaky Gut treatment. https://draxe.com/leaky-gut-diet-treatment/.

Fasano, A. Leaky gut and autoimmune diseases. Clin Rev Allergy Immunol. 2012 Feb;42(1):71-8. doi: 10.1007/s12016-011-8291-x.

Hyman, M. (2016) Why oil is bad for you. http://drhyman.com/blog/2016/01/29/why-oil-is-bad-for-you/

Fassa, P. (2017) Coconut Oil Proven Beneficial for Healing Rheumatoid Arthritis and Other Autoimmune Diseases. Health Impact News. November 3, 2017 URL: http://coconutoil.com/coconut-oil-proven-beneficial-for-healing-rheumatoid-arthritis-and-other-autoimmune-diseases/

Franziska Spritzler (2017) 6 foods that cause inflammation. https://www.healthline.com/nutrition/6-foods-that-cause-inflammation#section1

Gheita, T.A. & Kenawy, S.A. Effectiveness of Nigella sativa oil in the management of rheumatoid arthritis patients: a placebo controlled study. Phytother Res. 2012 Aug;26(8):1246-8. doi: 10.1002/ptr.3679.

Greger, M. (2012). Dead Meat Bacteria Endotoxemia. NutritionFacts.org

Helme, J. (2015). The Promise of Probiotics for Arthritis. Foods and supplements with these “good bacteria” may prove to help arthritis and overall health. Arthritis Foundation. URL: http://www.arthritis.org/living-with-arthritis/arthritis-diet/healthy-eating/guide-to-probiotics.php

Jacob, A. (2013) Gut Health and Autoimmune Disease — Research Suggests Digestive Abnormalities May Be the Underlying Cause. Today’s Dietitian Vol. 15 No 2 P. 38

Kearney, T.W. et al (2015) Manipulation of Host Diet To Reduce Gastrointestinal Colonization by the Opportunistic Pathogen Candida albicans. American Society for Microbiology. DOI: 10.1128/mSphere.00020-15

Kjeldsen-Kragh, J. Rheumatoid arthritis treated with vegetarian diets. Am J Clin Nutr . September 1999 vol. 70 no. 3 594s-600s. http://ajcn.nutrition.org/content/70/3/594s.full#fn-1

Kris Gunnars (2013) . 6 reasons why vegetable oils are toxic. https://www.healthline.com/nutrition/6-reasons-why-vegetable-oils-are-toxic#section1

Longo, V.D. & Mattson, M.P. Fasting: Molecular Mechanisms and Clinical Applications. Cell Metab. 2014 February 4; 19(2): 181-192. doi:10.1016/j.cmet.2013.12.008

Mielands, H. Veys, E.M., Cuvelier, C. & De Vos, M. Course of gut inflammation in spondylarthropathies and therapeutic consequences. Baillieres Clin Rheumatol. 1996 Feb;10(1):147-64.

Minich, D. (2017) What you need to know about a high-fat diet. Huffpost. https://www.huffingtonpost.com/entry/what-you-need-to-know-about-a-high-fat-diet_us_595f22c4e4b0cf3c8e8d57b0

Muedin, L. (2013). Candida. Intelligent Medicine. http://drhoffman.com/article/candida/

Myers, A. (2015). The Autoimmune Solution. New York, New York: HarperCollins Publications.

Nouza, K. (1994). Outlooks of systemic enzyme therapy in rheumatoid arthritis and other immunopathological diseases. Acta Univ Carol Med (Praha). 1994;40(1-4):101-4.

Pavan, R., Jain, S., Shraddha & Kumar, A. Properties and Therapeutic Application of Bromelain: A Review. Biotechnol Res Int. 2012; 2012: 976203. doi:  10.1155/2012/976203

Nutraceutical World (2013). Association: Magnesium Essential to Absorption of Vitamin D & Calcium. URL: https://www.nutraceuticalsworld.com/contents/view_breaking-news/2013-03-07/association-magnesium-essential-to-absorption-of-vitamin-d-calcium

Peltonen, R. et al (1997). Faecal microbial flora and disease activity in rheumatoid arthritis during a vegan diet. Br J Rheumatol. 1997 Jan;36(1):64-8. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/9117178

Punder, K. D. & Pruimboom, L. (2013) The Dietary Intake of Wheat and other Cereal Grains and Their Role in Inflammation. Nutrients. 2013 Mar; 5(3): 771–787. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3705319/ doi:  10.3390/nu5030771

Rath, L. (2015). The Connection Between Gluten And Arthritis. Arthritis Foundation. http://www.arthritis.org/living-with-arthritis/arthritis-diet/anti-inflammatory/gluten-free-diet.php

Ratheesh, M. et al (2017). Anti-inflammatory and antioxidant effect of Kerabala: a value-added ayurvedic formulation from virgin coconut oil inhibits pathogenesis in adjuvant-induced arthritis. Inflammopharmacology. 2017 Feb;25(1):41-53. doi: 10.1007/s10787-016-0298-8

Roubenoff, R. (n.d.). Safe food for gout. Arthritis Foundation.

Sayer Ji (2013) Eating Sesame Seeds Superior To Tylenol for Knee Arthritis. http://www.greenmedinfo.com/blog/eating-sesame-seeds-superior-tylenol-knee-arthritis

Sundqvist, T. et al (1982) Influence of fasting on intestinal permeability and disease activity in patients with rheumatoid arthritis. Scand J Rheumatol; 11(1):33-8. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/7063809

Walter Last (1). ARTHRITIS AND RHEUMATISM. A Holistic Therapy. http://www.health-science-spirit.com/arthritis.html

Walter Last (2). The Borax Conspiracy. How the Arthritis Cure has been stopped. http://www.health-science-spirit.com/borax.htm

 

 

 

 

 

 

 

 

Chế độ ăn uống chống cao huyết áp

 

Tóm lược: Bịnh cao huyết áp làm cho hàng ngàn người chết mỗi ngày ở Mỹ. Xin đừng coi thường bệnh này và đừng hoàn toàn dựa vào thuốc trị huyết áp nhưng nên bổ sung bằng thức ăn và sinh hoạt lành mạnh. Có thể chống bệnh cao huyết áp bằng cách thay đổi chế độ ăn uống và sinh hoạt như  1. Giảm thiểu tiêu thụ muối, đường, cà phê, rượu bia; 2. Tạo nhiều thời gian không căng thẳng; 3. Tăng tiêu thụ rau quả tươi đủ loại, hành, tỏi, hạt flax seed, hạt có dầu, nước dừa,  yến mạch, dầu mè, sô cô la đen; và 4. Bồi dưỡng CoQ10, magnesium và dầu cá.

Cao huyết áp làm chết rất nhiều người:

Y khoa ngày càng tiến bộ nhưng càng ngày càng nhiều người bị bệnh cao huyết áp và chết vì cao huyết áp. Theo trung tâm Kiểm soát và phòng bệnh của Hoa kỳ (Centres for Disease Control and Prevention – CDC), cứ 3 người lớn ở Mỹ thì có 1 người – tức là có tất cả 75 triệu dân Mỹ trên 18 tuổi – bị bệnh cao huyết áp. Trong năm 2013 có 360 ngàn người chết ở Mỹ vì cao huyết áp – tức là 1000 người chết chủ yếu vì cao huyết áp mỗi ngày. Cao huyết áp là nguyên nhân chính gây tử vong  qua triệu chứng nhồi máu cơ tim (heart attack), đột quỵ (stroke),  suy tim mãn tính (chronic heart failure) và suy thận (kidney disease). Hơn 70 % những người cao huyết áp dùng thuốc tây y chữa cao huyết áp, nhưng hơn có tới 54 % người không kiểm soát được huyết áp của mình. Các con số nói lên thực trạng là thuốc tây không trị được bịnh huyết áp cao. Hơn nữa, tuỳ theo loại thuốc sử dụng, người bịnh có thể bị nhức đầu, chóng mặt, sưng mắt cá chân, bón, triệu chứng cảm cúm, xây xẩm khi đúng dậy, đi tiểu thường hơn, mệt, lạnh tay chân (Cơ quan y tế quốc gia Anh – NHS)

Khi chúng ta có huyết áp tâm thu (systolic) nằm trong khoảng 120 – 139 mmHg hay huyết áp tâm trương (diastolic) trong khoảng 80-89 mmHg thì chúng ta ở trong tình trạng tiền cao huyết áp.

Khi huyết áp tâm thu cao hơn 139 hoặc huyết áp tâm trương cao hơn 89, chúng ta ở trong tình trạng cao huyết áp. Hai con số này cao hơn 159/99 là tình trạng đáng lo.

Biện pháp chống cao huyết áp.

Nghiên cứu lâm sàng cho thấy có thể giúp người bịnh cao huyết áp giảm huyết áp xuống mức an toàn bằng cách giảm tình trạnh căng thằng, tránh môi trường đôc hại, thay đổi chế độ ăn uống và dùng một số chất bổ sung dinh dưỡng cần thiết.

Tránh môi trường và thức ăn gây cao huyết áp

  1. Môi trường. Những ai sinh hoạt trong môi trường có nhiều chất chì có thể bị cao huyết áp. Sự kiện này được nêu lên trong chương trình nghiên cứu của Gutfield (1992) liên hệ đến nước sử dụng ở 130 thành phố ở Hoa kỳ. Những người ăn đồ ăn hộp nhiều hoặc làm việc trong ngành ráp ống nước, sản xuất kính, plastic, xây dựng có thể bị ảnh hưởng của chì.

Cadmium trong nước uống cũng có thể làm tăng huyết áp. Môt trường làm việc trong hãng sản xuất plastic, pin, dệt vải , và phân bón cũng có nhiều cadmium làm tăng huyết áp. Những người cao huyết áp ở trong môi trường như vậy nếu được y sĩ giúp tẩy độc chì và cadmium thì có thể giảm huyết áp.

  1. Căng thẳng tinh thần, tình cảm… không trực tiếp gây bịnh cao huyết áp nhưng tình trạng căng thẳng làm tăng huyết áp. Nếu kéo dài hoặc xãy ra thường xuyên, sự căng thẳng sẽ gây nên bịnh cao huyết áp (KulkarniO’FarrellErasiKochar, 1998). 

Những thức ăn cần giảm:

Những thức ăn có thể gây cao huyết áp nên tránh hay giảm tiêu thụ gồm muối, đường, cà phê, rượu bia và thức ăn gây dị ứng.

Muối. Ăn nhiều muối có nguy cơ làm cao huyết áp. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Laragh & Pecker (1983) thì chỉ 30-50 % bệnh nhân cao huyết áp nhạy cảm với lượng muối tiêu thụ. Đối với số người còn lại thì giảm tiêu thụ muối cũng không giảm huyết áp. Ngược lại giới hạn ăn muối quá khe khắt có thể có ảnh hưởng tai hại như làm mất sức và tình trạng đề kháng insulin gây tiểu đường.

Đường : Ăn nhiều đường thường tăng huyết áp. Nhiều nghiên cứu cho thấy một khi số calori của lượng đường (sucrose) tiêu thụ cao hơn 10% tổng lượng calori hấp thụ, huyết áp tâm trương (diastolic) lên cao đáng kể (Gaby, 2017). Giảm mức tiêu thụ đường, sản phẩm chế biến kể cả chất bột, và trái cây ngọt như chuối, xoài, dứa có thể giúp chúng ta giảm huyết áp.

Cà phê thường có ảnh hưởng không đáng kể trên huyết áp. Nhưng uống nhiều quá (hơn tách 1 ngày) có thể gây bịnh cao huyết áp. Bác sĩ Gaby ghi lại trường hợp 1 bệnh nhân bị cao huyết áp hơn 10 năm mặc dầu đã dùng 2 loại thuốc giảm huyết áp. Khi khám phá ra là anh ta uống 10-20 tách cà phê 1 ngày. Bác sĩ Gaby , tác giả sách “Y học dinh dưỡng” (Nutritional Medicine) yêu cầu anh ta ngưng uống cà phê. Sau 3 tuần huyết áp anh ta không cần uống thuốc nữa mà huyết áp trở lại bình thường.

Rượu bia: Nghiên cứu cho thấy những người cao huyết áp mà uống nhiều rượu nếu ngừng hoặc giảm lượng rượu tiêu thụ một cách đáng kể thì huyết áp giảm đáng kể.

Thức ăn gây dị ứng: một vài nghiên cứu cho thấy thức ăn gây dị ứng là một trong những yếu tố gây cao huyết áp cho một số người. Trong các cuộc nghiên cứu đó, nhiều người có huyết áp trở lại bình thường mà không cần thuốc huyết áp sau nhiều năm bị cao huyết áp nhờ tìm ra và ngưng tiêu thụ thức ăn gây dị ứng (Gay được đề cập trong sách của Dr Gaby)

– Dầu thực vật nấu ăn: Theo tài liệu nghiên cứu ở Spain, sử dụng dầu thực vật có nhiều polyunsaturated fat như dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu bắp ngô.. thường bị cao huyết áp hơn không dùng. Nếu phải chiên xào thì dầu dừa là an toàn nhất.

Những thức ăn và chế độ ăn uống giúp giảm huyết áp cách tự nhiên:

Chế độ ăn uống DASH (Biện pháp ăn uống ngưng chận cao huyết áp- Dietary Approach to Stop Hypertension) qua nhiều thử nghiệm lâm sàng chứng tỏ có công hiệu giảm huyết áp. Trong cuộc thử nghiệm với 459 bệnh nhân cao huyết áp , chế độ DASH giảm 11 mmHg huyết áp tâm thu và 5.5 mmHg huyết áp tâm trương sau 8 tuần. Chế độ ăn uống DASH gồm thật nhiều rau quả, một lượng hạt có dầu, hạt và đậu vừa phải, ít thực phẩm từ sữa bò, ít mỡ bảo hoà và ít tổng lượng dầu mỡ.

Chế độ ăn uống Địa Trung Hải: chủ yếu gồm rau quả, đậu, ngũ cốc, cá, dầu ô liu, ít thịt, ít sản phẩm từ sữa bò. Kết quả nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống này không giảm huyết áp nhiều bằng chế độ DASH nhưng có nhiều ích lợi khác cho bệnh tim mạch như giảm đường, giảm cholesterol trong máu.

Chỉ ăn rau quả. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy ai chỉ ăn rau quả thì ít bị cao huyết áp hơn là có ăn thịt. Ăn rau quả làm giảm huyết áp cho mọi người: người cao huyết áp lẫn người có huyết áp bình thường. (Tôi không dùng từ ăn chay vì thức ăn chay không có sản phẩm từ đông vật nhưng có thể có nhiều hoá chất làm cho thức ăn chay có vị giống thức ăn có thịt, rất độc hại)

Rau quả tươi sống: Kết quả nghiên cứu thử nghiệm cho thấy bệnh nhân cao huyết áp và nặng lý hơn trung bình (overweight) khi ăn ít nhất 40% thức ăn là rau quả sống thì huyết áp tâm trương giảm 17.5 mmHg sau 6-7 tháng. Huyết áp lên lại như cũ khi họ ăn trở lại thức ăn chín như trước (Douglass, Rasgon et al, 1985).

  •  Hành củ: 20 người cao huyết áp thử nghiệm dùng 15 phân khối nước cốt hành 2 hay 3 lần một ngày sau 2 tháng giảm trung bình 25 mmHg tâm thu và 15 mmHg tâm trương (Louira, McNally, Lasser et al, 1985). Vì vậy ăn nhiều hành, nhất là hành sống trong sà lách hay uống rượu đỏ ngâm hành đỏ có thể giúp giảm huyết áp rất công hiệu .

Tỏi cũng chứng tỏ giúp giảm huyết áp cho những người cao huyết áp trong 20 cuộc thử nghiệm tiêu chuẩn. Trung bình nó giúp giảm huyết áp tâm thu được 8.7 mmHg và huyết áp tâm trương được 6.1 mmHg (Riek, 2016).

Cháo yến mạch ( whole oats porridge) thêm vào thức ăn hằng ngày cho người cao huyết áp có tác dụng giảm huyết áp tâm thu rất đáng kể. Hơn 70 phần trăm số người ăn yến mạch có thể ngừng hoặc giảm 1/2 thuốc huyết áp (Pins, Geleva, Keeman et al, 2002).

Đậu nành: Nhiều cuộc thử nghiệm cho thấy chất đạm đậu nành hay sữa đậu nành – tiêu thụ vài lần 1 ngày – giúp giảm huyết áp những người cao huyết áp (Gaby, 2017).

Hạt flax (flaxseed): Tiêu thụ 30 gam flaxseed mỗi ngày đã giúp nhóm người cao huyết áp trong 1 cuộc nghiên cứu giảm 6-9 mmHg huyết áp (Rodriguez et al, 2013).

Dầu mè: Một cuộc thử nghiệm cho thấy ăn dầu mè (sống) sau 45 ngày giảm trung bình 10 mmHg huyết áp tâm thu và tâm trương (Gaby, 2017).

Sô cô la đen đậm: Mỗi ngày ăn chừng 6g sô cô la đen đậm có tác dụng hạ huyết áp đáng kể cho trường hợp cao huyết áp theo kết quả nghiên cứu thử nghiệm (Gaby, 2017).

– Nước dừa: Nước dừa chứa nhiều Potassium là chất có tác dụng giảm huyết áp (Alleyne et al, 2005). Nhưng nhiều potassium quá sẽ gây thiệt hại cho tim mạch, hạ huyết áp xuống dưới mức an toàn và có thể làm chết người. Trường hợp này xãy cho một người đàn ông 42 tuổi đang chơi tennis. Anh ta bị ngất, phải dùng xe cấp cứu vào vệnh viện vì anh ta uống 8 ly nước dừa trong ngày. Sau ba ngày nằm bệnh viện và nhờ máy điều hoà nhịp tim anh ta mới trở lại bình thường (UHN, 2017) . Chính vì vậy mà chỉ nên uống nước dừa chừng mực, vừa đủ ngay cả đối với người bị cao huyết áp – có thể 1-2 trái hay 1 lít một ngày uống làm nhiều lần. Nếu muốn cho chắc thì uống từ từ và theo dõi đo huyết áp khoảng 1 tiếng đồng hồ sau khi uống. Những ai có huyết áp thấp cần phải cẩn thận nhiều hơn. Theo kinh nghiệm của tôi là người có huyết áp thấp thì nên thêm 1 tí muối và nước dừa trước khi uống cho an toàn.

Chuối chứa nhiều potassium nên cũng giúp giảm huyết áp.

Cà chua chứa nhiều calcium, potassium, vitamin A, C và E và lycopene, là những chất có tác dụng giảm huyết áp.

Vitamin và chất dinh dưỡng phụ trợ:

Co-En-zim CoQ10: Kết quả nghiên cứu cho thấy những người cao huyết có mức CoQ10 trong máu thấp hơn người bình thường và khoảng một phần ba số người cao huyết áp thiếu CoQ10. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy huyết áp tâm thu của những người cao huyết áp ( trung bình 165 mmHg) chỉ còn 145 mmHg trung bình sau 12 tuần uống 60 mg CoQ10 hai lần một ngày (Burke, Nuenschwander & Olson 1999 trích dẩn trong Gaby, 2017).

Magnesium

Thiếu magnesium là một yếu tố gây nên bịnh cao huyết áp theo nghiên cứu của Resnick, Gupta và Laragh (1984). Thử nghiệm cho thấy phụ trợ magnesium có tác dụng giảm huyết áp cho nhiều người cao huyết áp. Magnesium cũng cần thiết cho sức khoẻ tim mà không có ảnh hưởng tai hại nào nên bác sĩ Gaby khuyên nên sử dụng khoảng 500 mg phụ trợ magnesium mỗi ngày. Thực phẩm có nhiều magnesium nhất gồm rau nhiều lá xanh đậm, trái bơ, hạt bì đỏ, cải spinach, rau biển, muối có màu hồng (pink salt), hạt có dầu (nuts), sô cô la đen, cá sống trong môi trường thiên nhiên (wild caught fish), cà phê.

Vitamin C là một chất chống oxy hoá rất mạnh nên có thể giảm cao huyết áp do các gốc tự do (free radicals) gây nên. Kết quả từ nhiều thử nghiệm cho thấy uống 500mg – 1000mg vitamin C trong 30 ngày có công hiệu giảm đáng kể huyết áp tâm thu (trung bình khoảng 13 mmHg) cho những nhóm người cao huyết áp (Gaby, 2017).

Dầu cá và dầu Omega 6 có tác dụng giảm độ nhớt trong máu nên có thể giúp giảm huyết áp chút ít theo kết quả thử nghiêm tác dụng của dầu cá và Omega 6 trên huyết áp.

 

Xin Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin để giúp quý bạn nắm vững tình hình hơn khi lấy quyết định liên quan đến sức khoẻ mình chứ không thay thế sự chỉ dẫn của y sĩ chăm sóc sức khoẻ của quý bạn. 

Tham khảo:

  1.  Alleyne ,T., Roache, S., Thomas, C. & Shirley, A. The control of hypertension by use of coconut water and mauby: two tropical food drinks [Abstract]. West Indian Med J.2005 Jan;54(1):3-8.
  2. Douglas, J.M, Rasgon, I.M. et al. Effects of a raw food diet on hypertension and obesity. South Med J 1985;78:841-844
  3. Gaby, A., R. Nutritional Medicine, 2nd Ed. 2017. Fritz Pelberg Publising Concord, NH
  4. Gutfield, R. Excessive lead found in water in many cities. Wall Street Journal 1992 (October 21):B7.
  5. Gay, L.P. Nonreaginic food allergy in the management of essential hypertension. J app Nutr 1959; 12(2):71-74
  6. Gay, L.P. Food allergy in internal medicine with special reference to paroxysmal tachycardia and essential hypertension. J App Nutr 1959;12(2)82-92
  7. Laragh, J.H. & Pecker, M.S. Dietary Sodium and Essential Hypertension: some myths, hopes, and truths. Ann Intern Med 1983;98:735-743
  8. Louira, D.B., McAnally, J.F., Lasser, N. et al. Onion extract in treatment of hypertension and hyperlipidemia: a preliminary communication. Curr Ther Res 1985;37:127-131
  9. Price, A.S. The role of allergy in hypertension: an experimental study. Rev Gastroenterol 1943;10:233-245
  10. Pins, J.J. Geleva, D., Keeman, J.M. et al. Do whole grain oats cereals reduce the need for hypertensive medications and improve blood pressure control? J Fam Pract 2002;51:353-359.
  11. Riek, K. Garlic lowers blood pressure in hyperintensive individuals, regulates serum cholesterol, and stimulates immunity: an updated meta-analysis and review. J Nutr Biochem 1998;9:415-419.
  12. Rodriguez-Leyva, D. et al. Potent antihypertensive action of dietary flaxseed in hypertensive patients. Hypertension 2013;62:1081-1089.
  13. UHN (2017). Coconut water disadvantages. University Health News May 2017.