Chỉ ăn thức ăn gốc thực vật không chế biến – có thể ngừa và trị được mọi thứ bệnh mãn tính.

Hiện nay hầu hết chuyên gia sức khoẻ thừa nhận tình trạng viêm lâu dài là nguyên nhân chính gây nên các bệnh mãn tính – từ cao huyết áp, ung thư, tiểu đường, suy tim đến suy trí nhớ. Ngày nào cũng ăn thịt, đường và thực phẩm chế biến hoăc ngày nào đầu óc, tình cảm cũng căng thẳng túi bụi thì tạo ra nhiều độc tố đưa đến chứng viêm trong cơ thể. Ăn nhiều quá – một tình trạng phổ biến nhất ở các xứ giàu có – càng làm tê hại hơn.
Các bác sĩ và chuyên gia y tế được phỏng vấn trong loạt video “Bí quyết y học tự nhiên” (Natural Health Secrets ) đồng ý rằng chế độ ăn uống thực phẩm gốc thực vật, ngủ nghỉ đủ và thể dục thích hợp là liệu pháp cơ bản chữa trị các bệnh mãn tính rất hữu hiệu.
Liệu pháp này tuy đơn giản nhưng không dễ thực hiện cho những ai đã quen với chế độ ăn uống nhiều thịt, nhiều đường, bánh ngọt, nước ngọt, nhiều dầu và đầu óc bận rộn cả ngày…

Nếu không thực hiện được đầy đủ từ đầu thì thay đổi từ từ sẽ dễ dàng hơn. Chúng ta có thể bắt đầu 1 ngày 1 tuần không ăn thịt cá, sữa bò… rồi từ từ tăng lên 2 ngày, 3 ngày , 4 ngày , 5 ngày 1 tuần. Cắt giảm được thịt cá, đường muối, bánh mì, bánh ngọt, nước ngọt mà tăng rau cải ngày nào thì giảm viêm trong người ngày đó, có thể làm khoẻ hơn, hoặc ít nhất không tệ hơn. Ăn càng thức ăn chống viêm nhiều hơn thức ăn gây viêm thì sức khoẻ tốt hơn và bịnh nếu có sẽ giảm nhanh hơn.
Sự hổ trợ trong gia đình cũng đóng vai trò then chốt giúp người bệnh. Nếu được mọi người cùng theo đuổi liệu pháp này để hổ trợ người thân trị bịnh và giúp mình ngừa bịnh thì kết quả sẽ đạt được nhanh chóng.

Sơ lược nguyên nhân gây viêm dài hạn.

Thực phẩm gốc động vật:
Thịt cá và sản phẩm gốc động vật nào cũng chứa nhiều vi sinh tiết ra nhiều độc tố (endotoxin). Ăn thịt sống hay chin đếu có nghĩa là ăn những độc tố đó. Mỡ bảo hoà trong thịt lại tăng lượng độc tố chuyển vào máu. Kết quả là tăng chứng viêm trong người (Greger, 2012). Vi sinh độc hại có sẵn trong cơ thể lại thích mội trường axit do thịt ăn vào tạo ra, nên ăn nhiều thịt mỡ sẽ làm vi sinh độc hại sinh sôi và tăng trưởng trong đường tiêu hoá, nâng cao mức lượng nội độc tố, gây thêm viêm đưa đến nhiều thứ bệnh (Minich D., 2017)

Thực phẩm chế biến:
Có nhiều người không ăn thịt hoặc ăn ít thịt nhưng ăn thực phầm chế biến nhiều đường và dầu thưc vật tinh chế (chứa quá nhiều omega 6) cũng bị nhiều chứng bịnh mãn tính kể cả tiểu đường, suy tim mạch, suy trí nhớ vì thực phẩm chế biến, đường, tinh bột và dầu thực vật tinh chế đều gây nên viêm.

Tình trạng căng thẳng
Sự căng thẳng tinh thần tình cảm lâu dài tăng mức hoc môn cortisol tới mức cơ thể không còn khả năng kiểm soát tình trạng viêm. Tình trạng viêm trong cơ thể cứ gia tăng, làm suy yêu hệ miễn nhiểm và gây ra nhiều bịnh mãn tính. (Carnegie Mellon University, 2012)

Thức ăn gốc thực vật không chế biến chống viêm:

Ngược lại thức ăn rau quả và hạt nguyên thô (whole), cùng với lối sống thư thái và khoan dung có ảnh hưởng chống viêm nên có thể chữa lành và ngăn ngừa các bịnh mãn tính.

Đúng vậy, không có cách nào giảm huyết áp hữu hiệu và nhanh bằng cách ngưng ăn thịt, thức ăn uống có sữa, trứng, đường, bột tinh chế và dầu tinh chế để chỉ ăn rau quả (đủ thứ màu) và các loại hạt chưa biến chế cùng với lối sống khoan dung thư thái.

Cách đó cũng là cách nhanh và hữu hiệu nhất để trị ung thư, tiểu đường, viêm khớp, loạn tiêu hoá, suy tim mạch, suy thận, suy gan, suy sụp trí nhớ theo kinh nghiệm của các bác sĩ và chuyên gia y tế trong loạt phỏng vấn trên.

Một số bằng chứng

Sau đây là một số trường hợp cụ thể do những bác sĩ và chuyên gia y tế trình bày trong loạt phỏng vấn “Natural health Secrets” (Jonathan Otto and Natural Health Secrets, 2019).

Bác sĩ Michael Klaper: (Tim mạch, tiểu đường, đau khớp, phì, lỡ da)
“ Tôi nhớ tới một bệnh nhân đàn ông gần 60 tuổi, chuyên viên vật lý trị liệu Động mạch ông ta nghẹt đến nỗi ông ta không thể đi bộ ngang qua sân 20 mét mà không ngừng nghỉ vì cơn đau ngực. Ngực ông đau đến nỗi ông tái xám cả người, và phải uống nitroglycerin. Thân thể ông ta không những thấy khổ sở, đáng lo, mà tạo cảm giác như ông ta sắp chết và chờ chết. Vậy mà sau khi giúp ông ta chỉ ăn uống thuần rau quả, một chế độ ăn uống nhẹ nhàng cho động mạch, mãng mỡ bám thành động mạch của ông ta bắt đầu rớt đi. Động mạch mở ra. Máu chảy mạnh. Sau 10 ngày ông ta đi bộ qua lại sân đó dể dàng không bị đau ngực nữa. Sau ba tuần, ông ta đi bộ khắp cả y viện, rồi leo lên đồi sau y viện. Ông ta sống lại. Bước đi mạnh mẽ và sắc mặt hồng hào trở lại. Thật là một chuyển biến ngoạn mục.”

“ Tôi nhớ một bệnh nhân khác tên Ken. Anh ta cao huyết áp, tiểu đường, đau khớp và da bị lở. Chúng tôi cho anh ta ăn thuần thức ăn thực vật (rau,quả, hạt, củ) không chế biến. Anh ta tiêu biểu tất cả các bệnh nhân khác và chúng tôi có thể bảo đảm bất cứ ai nghiêm túc theo chế độ ăn uống này cũng hết bịnh như anh Ken.
Chỉ trong 5-6 ngày và vài tuần, quý vị sẽ thấy thay đổi như anh Ken. Đúng vậy, chỉ sau ít ngày ăn thuần rau quả hạt không chế biến, họ bắt đầu bớt phì, động mạch mở ra, huyết áp giảm đi, khớp giảm đau, vãy nến trên da biến đi, phổi suyễn bớt khò khè và chứng nhức đầu cũng không còn. Họ trở nên rắn chắc, bình thường, khoẻ mạnh, mắt sáng ra, và không cần gói thuốc họ mang theo khi vào y viện nữa. Không cần thuốc huyết áp nữa, không cần thuốc tiểu đường nữa. Vì họ không còn bị tiểu đường , không còn cao huyết áp nữa.

“Tôi sung sướng thấy hàng trăm trường hợp vậy. Hiện giờ tôi là một trong những bác sĩ hạnh phúc nhất vì bệnh nhân của tôi khoè mạnh trở lại.
Khi nói về những thứ bệnh mãn tính liên quan đến viêm , rau xanh đậm màu phải là món đứng đầu bảng trong chế độ ăn uống của quý vị.
Tôi nói với bệnh nhân của tôi rằng màu xanh và màu vàng phải là màu ưa thích nhất của quý vị. Bữa ăn trưa, bữa ăn tối, ăn rau nào đó có màu xanh và màu vàng. Nên ăn nhiều rau xanh đậm như hoa cải xanh, cải xanh, bok choy, cải làng, dền xanh, măng tây. Đồng thời hãy ăn khá khá rau màu vàng như cà rốt, khoai lang, bí đỏ, khoai mở vàng…. Vì những thứ này chứa nhiều chất chống oxy hoá (antioxidant)”

(Bác sĩ Klaper tốt nghiệp Bás sĩ Y khoa năm 1972 tại Đại học Y khoa Illinois, học thêm chuyên khoa giải phầu, gây mê và chỉnh hình tại Đai học Bệnh viện British Columbia ở Vancouver và Nhi Khoa tại Đại học Bệnh viện California. Qua kinh nghiệp nghề nghiệp, BS Kapler nhận ra rằng nhiều bịnh tật trên các bịnh nhân của mình – như nghẹt động mạch, Cao huyết áp, mập phì, tiểu đường của người lớn , ngay cả một số loại viêm khớp, suyễn và nhiều bịnh quan trọng khác trở nên tệ hơn hoặc là hậu quả của chế độ ăn uống gồm nhiều dường, nhiều mỡ, nhiều muối, thực phẩm chế biến, thực phẩm gốc động vật thịnh hành ở Mỹ.

BS Klaper là Giám đốc Viện Giáo dục và Nghiên cứu Dinh dưỡng (Institute of Nutrition Education and Research) từ 1992 đến 2015 trong vai trò chỉ đạo nghiên cứu chú trọng về những người chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật. BS Kapler có làm việc tại NZ 3 năm và từ 2009 đến 2018 làm việc tại Trung Tâm Y tế “TrueNorth Health Centre” ở Santa Rosa, là trung tâm y tế chuyên sử dụng biện pháp nhịn ăn và chế độ thức ăn gốc thực vật toàn phần để cải thiện sức khoẻ, CA. Hiện nay BS Klaper thuộc Hội đồng Cố vấn cho Dự án “Plantrician” và “International Journal or Disease Reversal and Prevention”

BS Kim Williams (BS trưởng Tim mạch, Huyết áp, tiểu đường)
“ Khi theo dõi huyết áp những bệnh nhân bất đầu chế độ chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật, tôi thấy một phần ba giảm huyết áp rất nhiều, một phần 3 giảm trung bình còn một phần ba giảm nhẹ. Những người giãm huyết áp nhiều phải rất cẩn thận, vì sẽ tới lúc họ cần giảm liều lượng thuốc huyết áp. Nếu không theo dõi mỗi ngày để giảm thuốc họ sẽ bị nguy hiểm vì huyết áp của họ có thể đùng một cái giảm xuống còn 80/50 và bị choáng váng.
Tôi cũng đã thấy một số bệnh nhân sau khi chuyển sang chế độ ăn uống thuần gốc thực vật gặp rắc rối với thuốc insulin vì tình trạng tiểu đường đã cải thiện nhiều.
Vì vậy nếu quý vị đang cố gắng cải thiện sức khoẻ, xin hãy cộng tác với bác sĩ của mình để theo dõi tình hình kịp thời giảm thuốc uống.”
(BS Kim Williams là bác sĩ tại y viện tim mạch Rush Cardiology thuộc Đai Hoc Y khoa Rush, Oak Park, Chicago)

BS Klaper về bộ óc và trí nhớ:
“ Hiện nay ai cũng lo sợ – lo sợ rất đúng- là về già mình sẽ mất khả năng suy nghĩ và nhớ. Trước đây chúng ta không biết lý do tại sao nên nghĩ đó là diễn trình tuổi già. Nhưng càng nghiên cứu thì các khoa học gia càng thấy rõ không phải vì già mà mất trí nhớ. Có nhiều người trên 100 tuổi mà vẫn sáng suốt, nhạy bén và rõ ràng không suy giảm trí nhớ. Khi chúng ta xem kỹ những bịnh còn lại trong cơ thể, một tình trạng cơ bản cứ hiện lên. Đó là tình trạng viêm xãy ra trong các mô tế bào và tình trạng tuần hoàn máu chắc chắn ảnh hưởng đến sức khoẻ của cơ quan trong cơ thể. Khi nhìn tới não bộ, chúng ta bây giờ thấy tình trạng viêm có một vai trò quan trọng trong chứng trầm cảm và suy sụp trí nhớ, và sự tuần hoàn của máu nữa.”
“Không có gì có thể thay thế những động mạch trơn tru rộng đường cho máu chảy mang khí oxy và dưỡng chất đến mô não, và mọi tế bào cơ thể. Khi gặp người bị mất khả năng tinh thần, bác sĩ khám óc sẽ thấy rõ ràng là động mạch dẫn máu lên não bị nghẹt, và các mô tế bào bị viêm. Họ sẽ hỏi: Tạo sao vậy? Các bạn biết, có lẽ không phải vì vi khuẩn, cũng phải là vì các tia sang lạ từ vũ trụ. Mà chắc chắn là do thức ăn những người này tiêu thụ trong 60 năm, 70, năm, 80 năm ở xứ văn minh như Âu Mỹ – gồm toàn chất đạm động vật và sữa bò, dầu ăn và đường và hoá chất thực phẩm. Đây là hổn hợp độc tố chảy qua tế bào não ngày này qua ngày kia và qua những động mạch trong não. Và càng ngày càng nhiều bác sĩ và chuyên gia y tế đều đồng ý rằng đó là cách mà chủ nhân bộ não đó đã đối xử với não đó bao nhiêu năm qua. Và rốt cuộc nguyên nhân chủ chốt của bịnh mất trí nhớ là thức ăn không lành mạnh”.

“Khi nói chuyện với các sinh viên y khoa trẻ, tôi nói ‘Bạn không thể thực hành y khoa mà không để ý đến sự kiện này. Chính là thức ăn của bịnh nhân quý bạn đang thay đổi họ. Đây là sào huyệt của chứng viêm. Đây là chổ nằm của hệ miễn nhiễm. Đây là chỗ ung thư bắt đầu. Đây là chổ chứng tự miễn nhiễm khởi đầu, ở cấp độ DNA, và thức ăn chính là lực bật lên và tắt gen. Chúng ta không thể giả vờ là sự kiện này không xãy ra. Nó áp dụng cho toàn bộ dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của chúng ta.’
Vì thế, sức khoẻ khởi đầu bằng lối sống lành mạnh, bắt đầu với thức ăn lành mạnh, tức là thực phẩm gốc thực vật dạng thô. Không có thuốc tây nào, thuốc bổ sung nào, dược thảo nào có thể thay thế món xà lách, món xúp, rau cải, qui noa, trái cây, thực phẩm thực vật dạng thô. Đó là nền tảng sức khoẻ thứ nhất.”

Dr. Ayesha Sherzai:
“Hãy xem kết quả nghiên cứu trong thập niên 1990 khi BS Paul Giam ở Loma Linda so sánh sức khoẻ của những người chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật so với những người khác trong chương trình nghiên cứu của nhóm Seventh Day Adventist. Rõ ràng là những người không theo chế độ ăn thuẩn thực phẩm gốc thực vật mà ăn nhiều thức ăn gốc động vật kể cả thịt gà và cá có nguy cơ bị mất trí nhớ (Alzheimer’s) cao gấp đôi những người chuyên ăn thực phẩm gốc thực vật”.
( BS Ayesha Sherzai là 1 giám đốc chương trình phòng ngừa bịnh Alzheimer’s tại Trung Tâm y tế Đại học Loma Linda)

Dr. Peter Breggin (Bạch cầu lymphô mãn tính)
“Tôi xin kể một chuyện xãy ra trong nghề nghiệp bác sĩ tâm lý của tôi. Tôi không tin loại chuyện này. Tôi không tin mốt nhất thời. Tôi không tin phép lạ chữa bịnh. Tôi chống tất cả những thứ đó. Vấn đề là trở lại cách ăn uống lúc cơ thể chúng ta lớn lên.
Tôi có một người bạn, một giao sư Đại học. Chúng tôi có cùng quan diểm chính trị. Anh ta không cho ai biết, ngoại trừ bà xã anh ta, là anh ta bị bạch cầu lymphô bào mãn tính (chronic lymphocytic leukemia). Có lẽ anh ta phải sống với bịnh này suốt đời. Tôi thúc anh chuyển sang ăn thực phẩm thuần thực vật và giới thiệu anh với BS. Pam. Anh ta bắt đầu ăn thực phẩm toàn gốc thực vật không chế biến. Rồi anh ta hết bịnh bạch cầu lym phô bào mãn tính. Tôi không phải là người nhẹ dạ dễ tin đâu. Chế độ ăn uống chỉ gồm thực phẩm gốc thực vật có lý vì hầu như nó chỉ là thực vật. Tất cả xã hội có sức khoẻ tốt nhất là xã hội mà dân chúng ăn nhiều thực vật nhất. Pam không khuyên bạn chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật, nhưng tôi nghĩ bà ấy nói đúng là càng ăn nhiều thực vật; và càng tránh sản phẩm sữa bò và thực phẩm chế biến thì càng có cơ hội thoát hậu quả bịnh tim, bịnh cao huyết áp, bịnh suyễn và càng có cơ hội phục hồi sức khoẻ.”

BS Pam Popper : (Huyết áp, suyễn, loét ruột già)
“Một trong những cộng tác viên kinh doanh của tôi là BS Peter Breggin, một bác sĩ tâm lý nỗi tiếng. Ông ta là người không bao giờ cho bệnh nhân mình uống thuốc tây trong 55 năm hành nghề. Ông ta tuyệt vời trong lãnh vực bịnh tâm thần nhưng lại không bao giờ để ý đến sức khoẻ sinh học. Ông ta bị suyễn, lúc nào cũng bị cảm lạnh và nhiễm trùng. Ông ta uống thuốc huyết áp dài dài và vợ ông ta bị lỡ loét ruột già (ulcerative colitis). Ông ta chú tâm vào bịnh tâm thần đến nỗi không có thì giờ chăm sóc sức khoẻ mình. Vì vậy khi Peter được 82 tuổi, ông ta quyết định thay đổi chế độ ăn uống. Ông ta sút 12 kí lô và nhìn trẻ hơn 20 năm trước. Ông ta không cón phải uống thuốc huyết áp, thuốc suyễn nữa. Bà vợ ông ta cũng thay đổi chế độ ăn uống và dứt binh lỡ loét ruột già đã hành hạ bà bao nhiêu năm.”
(BS Pam Popper là bác sĩ y học tự nhiên -naturopathic doctor- PhD và là tác giả sách- Food over medicine va sách : Solving America’s healthcare crisis)

BS. Peter Breggin:
“Sau 2 tuần ăn toàn thức ăn gốc thực vật không chế biến, tôi thấy yếu người. Tôi tự bảo mình: Ăn như vậy là tào lao. Nhưng vợ tôi (Ginger) bảo: Sao anh không thử đo huyết áp mình. Tôi nghe lời và thấy huyết áp tâm trương (systolic) xuống còn 100.
Vậy là tôi không còn bị cao huyết áp nữa. Mà chỉ cần có 2 tuần lễ với chế độ ăn uống chủ yếu là thực phẩm gốc thực vật không chế biến. Thật thú vị, Vì vậy tôi tiếp tục và sụt gần 30 cân (14 kg).
Vợ tôi bắt đầu chế độ ăn uống mới và sau 2 tuần lễ, bà ấy lần đầu tiên hết đau kể từ khi tôi quen biết bà ấy (tôi nhớ trước đó phải đưa bà ấy đi cấp cứu ít nhất 12 lần). “

Liana Werner-Gray: (Ung thư)
“Tôi lớn lên ở vùng Alice Springs ở giữa Úc châu. Được nuôi dưỡng cần thận nên tôi lớn lên khá khoẻ mạnh. Tuy nhiên khi lên Brisbane học Đại học, tôi bất đầu lao vào lối sống ăn nhanh ăn lẹ với đủ thứ thức ăn chế biến ở McDonald, Pizza, KFC, Doritos. Sáng trưa chiều tối lúc nào cũng ăn thức ăn tạp nhạp. Năm năm như vậy cho tới một ngày tôi cảm thấy có gì lạ lạ nổi lên ở cổ. Tôi đi bệnh viện khám mới biết là mình bị một khối ung thư bằng trái bóng bàn trong tuyến bạch cầu. Mới có 21 tuổi.
Tôi nhớ lại những gì học được từ thổ dân bản xứ. Tôi phải trở lại thiên nhiên, ăn thức ăn thật sự có dinh dưỡng và chữa lành thân mình. Tôi tự nhủ trong 365 ngày tôi sẽ chỉ ăn thức ăn trực tiếp ra từ đất.
Trong vòng 3 tháng, khối ung thư đường kính 3.7 cm tan mất, hoàn toàn biến mất. Vâng chỉ sau 3 tháng thay đổi chế độ ăn uống, và ngừng ăn 4 thứ có hại nhất là gluten (trong bột mì) đường trắng, sản phẩm sữa và thứ gì thay gen, không tự nhiên và tất cả chất bảo trì thực phẩm, bổ sung thực phẩm…. Đúng vây, tôi dẹp hết 4 thứ đó và thay thể những thứ tôi thèm ăn trước đó bằng thực phẩm tự nhiên gốc thực vật. Rồi tôi cũng bắt đầu ép nước rau quả (đặc biệt lúc nào cũng có giá hoa cải xanh – Broccoli sprouts và củ nghệ) để uống 6 lần 1 ngày, tôi cũng uống hổn hợp đất sét bentonite.
Chế độ ăn uống của tôi chỉ có vậy thôi. Sau 3 tháng khối ung thư biến mất và từ đó đế nay, sau 10 năm tôi vẫn khoẻ mạnh, không bị ung thư nữa. “

Steve V. (Bịnh đa xơ Multiple sclerosis)
“Tháng 9 năm 2014, mắt tôi có vấn đề. Sau một loạt khám nghiệm, bác sĩ cho tôi biết tôi bị bịnh đa xơ (MS – Multiple Scleroris). Một bác sĩ bạn tôi giới thiệu tôi tới BS Kahn. Bác sĩ Kahn nói rằng, Đây là một chứng bịnh thông thường mà người ta gọi là bịnh đa xơ hay MS nhưng thật ra nó là một vấn đề đường ruột. Mình phải sửa chữa đường ruột. Phải giảm hệ miễn nhiễm từ trạng thái quá cảnh gíac -thấy cái gì cũng là ngoại thể xâm lăng-xuống tình trạng binh thường.

Trước hết là phải thay đổi chế độ ăn uống, thứ hai cung ứng một ít thứ thuốc bổ sung dinh dưỡng mà thức ăn không cung cấp được cho để hạ hệ miễn nhiễm xuống tình trạng phòng vệ thấp hơn.

Sau sáu tháng, tôi hết bịnh. Tôi từng phải uống thuốc cholesterol, bây giờ không cần nữa. Tôi giãm 9 kí lô nhờ chế độ ăn uống này. Tôi có thể chơi dã cầu với các con tôi, là chuyện tôi không làm được trước đó.”

Dr. Alan Goldhamer: “ Chế độ ăn uống, ngủ, và thể dục là những gì chúng ta có thể làm để sống cho khoẻ mạnh. Phần lớn nhiệm vụ của chúng tôi là hướng dẫn, dạy người ta sống sao cho lành mạnh. Ăn thế nào, thể dục làm sao và cách đảm bảo nghỉ ngơi / ngủ đầy đủ. “
“ Chúng tôi cũng xuất bản một số tài liệu trên báo chí y học. Trường hợp mới nhất được đăng trên Tập san Y học Anh quốc (British Medical Journal) về một phụ nữ ung thư hạch lymphô trong 2 năm tới gia đoạn 3. Bà thực hiện 21 ngày nhịn ăn và khối ung thư của bà biến đi trong lúc nhịn ăn. 10 ngay ăn trờ lại, theo dõi trong 3 năm cho thấy bà ta qua khỏi ung thư lym phô bằng cách ăn thức ăn thuần gốc thực vật.

“ Phương pháp trị bịnh của chúng tôi không phải dễ dàng mà có vẻ nguy hiểm và cực đoan đôi với nhiều người vì nó đòi hỏi họ phải bỏ lối sống quen thuộc cố hữu trãi qua hàng bao nhiêu chục năm trong đời họ. Ăn uống lành mạnh, đi ngủ đúng giờ, tập thể dục thích hợp mỗi ngày là lối sống quá mức tưởng tượng của nhiều người”.
(BS Alan Goldhamer là sáng lập viên của trung tâm y tế TrueNorth Health Centre, tốt nghiệp Western States Chiropractic College in Portland, Oregon.)

Xin lưu ý: Bài viết này chỉ có mục tiêu phổ biến thong tin chứ không thay thế ý kiến của bác sĩ chăm sóc quý bạn.

Tham khảo:

  1. Carnegie Mellon University (2012) How stress influences disease: Study reveals inflammation as the culprit. ScienceDaily. https://www.sciencedaily.com/releases/2012/04/120402162546.htm
  2. Greger, M. (2012). Dead Meat Bacteria Endotoxemia. NutritionFacts.org
  3. Jonathan Otto and Health Secret, LLC (2019). Natural Health Secrets. Episode Transcripts. Hosted by Jonathan Otto.
  4. Minich, D. (2017) What you need to know about a high-fat diet. Huffpost. https://www.huffingtonpost.com/entry/what-you-need-to-know-about-a-high-fat-diet_us_595f22c4e4b0cf3c8e8d57b0
  5. Kapler, M. About Dr. Kapler. https://www.doctorklaper.com/about

Triệu chứng thiếu Can-xi (Calcium)

Can-xi hay Calcium là khoáng chất có khối lượng lớn nhất trong cơ thể (khoảng 1,4 kilo). 99% calcium của cơ thể nằm trong xương và răng. Tuy nhiên 1% calcium còn lại nằm bên trong các tế bào cơ thể và  trong máu, bạch huyết (lymph) và lưu chất trong cơ thể (body fluids). Phần calcium này tuy nhỏ nhưng đóng vai trò rất thiết yếu trong việc điều hợp hoạt động cơ thể, từ diễn trình đông máu đến vận động cơ bắp, khởi động các enzymes và nhiều quy trình vi bào (cellular processes) trong cơ thể. Cơ thể cần Calcium để kiểm soát lượng magnesium, phốt pho và potassium trong máu . Những khoáng chất này làm việc với nhau để giữ cân bằng với nhau. Vì vậy cần nên tránh tình trạng thiếu calcium cũng như thiếu magnesium và postassium.

Cơ thể thường cần hấp thụ mỗi ngày 1 gram calcium nguyên chất (elemental) mỗi ngày. Tuy nhiên đàn bà trên 50 tuổi và đàn ông trên 70 tuổi cần nhiều hơn, trung bình 1.2 gram calcium nguyên chất một ngày..

Thiếu calcium lâu dài có thể gây những triêu chứng sau đây :

  • Xương dòn, yếu, dễ gãy vì chứng loãng xương.
  • Rối loạn đông máu
  • Yếu sức và mệt mõi.
  • Co giật cơ bắp (muscle spasm) và chuột rút
  • Cảm giác tê hoặc bị kim đâm chich (feeling pins and needles)
  • Dễ cáu gắt
  • Trẻ em chậm lớn và chậm pháp triễn.
  • Cao huyết áp và nhịp tim bất thường
  • Trầm cảm, rối trí và hay quên

Nguyên nhân thiếu calcium trong máu

  • Ăn uống thức ăn không có đủ calcium – thường xãy ra cho những người ăn rau cải mà thiếu sản phẩm sữa có nhiều calcium.
  • Calcium không được hấp thụ đúng mức hoặc bị thất thoát vì
    • Thiếu vitamin D
    • Ăn uống nhiều thức ăn uống có chất caffeine
    • Ăn uống thức ăn có calcium cùng với thức ăn có axit oxalic. Axit oxalic ngăn cản không cho calcium hấp thụ vào cơ thể khiến calcium bị thải ra với phân. Những thức ăn có axit oxalic gồm  cây đại hoàng (rhubarb), củ cải beet, rau cần tây (celery), cà tím, và trái cây như dâu tây, trái việt quất (blueberries), trái mâm xôi (blackberries), trái lý gai (gooseberries), hạt có dầu như đâu phụng, hạt pecans (nuts) và thức uống như cacoa, trà, Ovaltine.
    • Nhiều magnesium và zinc tiêu thụ cùng lúc tiêu thụ calcium hoặc thức ăn chứa calcium.
    • Hệ tiêu hoá và lá lách bị bịnh như viêm lá lách, viêm đường ruột, xơ nang (cystic fibrosis)
    • Uống thuốc tây có ảnh hưởng giảm mức hấp thụ calcium. Điển hình là thuốc trị ợ hơi hay lỡ loét thuộc loại ức chê bơm proton (pump inhibitors) như Prilosec [omeprazole], Prevacid , Nexium [esomeprazole] và thuốc  phenytoin, phenobarbital, rifampin, corticosteroids
  • Thay đổi hoc môn – thường xãy ra cho phụ nữ sau mãn kinh.
  • Yếu thận làm giảm khả năng thu hồi calcium.
  • Ăn quá nhiều chất đam như thịt hoặc nhiều muối làm cho cơ thể tăng mức thải calcium.

Phương cách bồi bổ và tránh thiếu hụt calcium

Chúng ta có thể và nên phòng chống tình trạng thiếu calcium bằng cách bao gồm thức ăn chứa nhiều calcium trong chế độ ăn uống của mình.

Thức ăn giàu calcium gốm:

  • Thực phẩm gốc sữa bò như phó mat, sữa bò, và sữa chua
    • Rau màu xanh đậm như hoa cải xanh (broccoli) và cải xoăn (kale), rau cải ngọt, rau dền, okra.
    • Đâu phụ và đậu ve
    • Hạt vừng (mè), hạt hạnh nhân (almonds)
    • Trái sung (vả) khô (dried figs0
    • Yến mạch (oats)
    • Cá trạch, cá hồi , cá trích, cá mòi

(http://soha.vn/8-thuc-pham-giau-canxi-nhat-an-hang-ngay-se-khoi-can-uong-thuoc-20160712180740561.htm)

Tuy nhiên chúng ta phải để ý tránh những yếu tố làm giảm khả năng hấp thụ calcium kể trên. Chẳng hạn như

  • không uống thuốc tây có hại cho việc hấp thụ calcium trong vòng 2 tiếng đồng hồ trước và sau bữa ăn có calcium.
  • Không ăn thức ăn nhiều calcium cùng một lúc với rau quả có axit oxalic và axit phytic như cần tây,  dâu tây, đậu phộng…
  • Tránh uống magnesium và zinc gần bữa ăn có nhiều calcium.
  • Tránh ăn quá nhiều thịt và thức ăn mặn.

Trong khi đó chúng ta cần phơi nắng hay uống vitamin D cho đủ để tăng khả năng hấp thụ calcium. Lượng vitamin D cần có cho người trên 50 tuổi là 800-1000 đơn vị quốc tế (UI) mỗi ngày.

Đối với chứng bịnh loãng xương, chỉ thêm calcium trong chế độ ăn uống không đủ để làm xương bớt loãng. Xin xem “ cách trị bệnh loãng xương tự nhiên”

Bổ sung Calcium (Calcium supplements)

Ngay cả khi chúng ta có chế độ ăn uống lành mạnh, cân bằng, chúng ta vẫn thấy khó hấp thụ đủ calcium, nhất là khi chúng ta

  • chỉ ăn rau quả,
  • bị loãng xương,
  • không chịu được lactose trong sữa,
  • phải uống thuốc tây corticosteroids dài hạn.
  • Bị rối loạn viêm đường ruột, bệnh celiac (không chịu được thức ăn có gluten nhất là trong lúa mì)

Trong những trường hợp này, thuốc bổ sung calcium có thể giúp chúng ta hấp thụ đủ calcium. Chúng ta nên hỏi ý kiến của bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để biết có nên uống thuốc bổ sung calcium hay không và nên uống loại nào, bao nhiêu và thế nào uống thế nào.

Thiếu calcium trong máu gây triệu chứng bịnh, nhưng nhiều calcium quá trong máu cũng có thể gây nguy hiểm cho sức khoẻ. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy dùng thuốc bổ sung calcium làm mức calcium trong máu vọt lên cao thình lình có thể có hại cho tim. Nhiều calcium quá trong máu cũng có thể tạo mãng mỡ trên thành mạch máu, làm cứng mạch máu và có thể làm đứng tim (heart attacks) hay gây đột quỵ (strokes). Một số nghiên cứu khác nếu lên nguy cơ ung thư tiền liêt tuyến lien hệ đến calcium cao trong máu. Vì vậy hấp thụ thụ calcium qua chế độ ăn uống là tốt nhất.

Nếu cần phải uống thuốc bổ sung calcium thì nên uống liều thấp mỗi lần. Có 4 loại thông dụng sau đây:

  • Calcium carbonate (40 % là calcium nguyên chất)
  • Calcium citrate (21% là calcium nguyên chất)
  • Calcium gluconate (9 % là calcium nguyên chất)
  • Calcium lactate (13 % là calcium nguyên chất)

Phản ứng phụ bất lợi

Không phải tất cả các loại thuốc bổ sung trên đều thích hợp cho mọi người. Phản ứng phụ không nhiều nhưng cũng có thể gồm táo bón, no hơi, buồn nôn đối với một số người. Calcium carbonate là loại bổ sung rẽ nhất nhưng cũng thường gây táo bón nhất. Chúng ta phải thử mới biết thứ nào hợp nhất cho mình.

Phản ứng với thuốc trị bịnh

Ngoài ra thuốc bổ sung calcium có thể phản ứng với những thuốc tậy chúng ta đang uống, nhất là thuốc huyết áp, thuốc trị tuyến giáp trạng, trụ sinh ,.. Vì vậy nên hỏi ý dược sĩ hay bác sĩ trước khi dùng thuốc bổ sung calcium.X

Xin Lưu ý: Bài này chỉ có mục đích thong tin chứ không chỉ cách trị bệnh.

Tham khảo:

Gropper S.S. & Smith, J.L. (2013)  Advanced Nutrition and Human Metabolism. International Edition (6th edition). WADSWORTH CENGAGE Learning. Canada

Khan, A. and Ana Gotter, A (2018). Hypocalcemia (Calcium deficiency Diseases). Healthline. https://www.healthline.com/health/calcium-deficiency-disease

Levy, J, (2018). Calcium deficiency. Are supplements the answer? https://draxe.com/calcium-deficiency/

Lewis JL III. (n.d.). Hypocalcemia (low level of calcium in the blood). 
merckmanuals.com/home/hormonal-and-metabolic-disorders/electrolyte-balance/hypocalcemia-low-level-of-calcium-in-the-blood

Mayo Clinic Staff. (2018) Calcium and calcium supplements: Achieving the right balance

https://www.mayoclinic.org/healthy-lifestyle/nutrition-and-healthy-eating/in-depth/calcium-supplements/art-20047097

Whitbread, D. (2019). 10 top foods highest in calcium. Myfooddata

https://www.myfooddata.com/articles/foods-high-in-calcium.php

T

Triệu chứng thiếu Magnesium

Thiếu magnesium liên hệ đến nhiều bịnh mãn tính thông thường như chuột rút, cao huyết áp, yếu tim, mất ngủ, đau cơ bắp, nhức đầu, lo âu, trầm cảm, loảng xương, mệt mỏi, viêm mãn tính, đau kinh nguyệt… Vì magnesium là một trong những khoáng chất quan trọng nhất trong cơ thể. Người ta ước lượng 80 phần trăm dân chúng thế giới có mức magnesium thấp. Hầu hết chúng ta đều có thể bị thiếu magnesium mà không biết vì chỉ 1  phần trăm magnesium trong cơ thể nằm trong máu (Martin, 2017) nên thử máu không cho biết mình có thiếu magnesium.  Bồi dưỡng mức magnesium cho cơ thể vì thế giúp cơ thể khoẻ ra rất nhanh chóng.

Vai trò của Magnesium

Theo Bác sĩ Normon Shealy, một bác sĩ giải phẩu thần kinh và người tiên phong trong thuốc trị đau, “ Mọi bịnh tật mà chúng ta biết đều liên hệ đến tỉnh trạng thiếu magnesium mà  liệu pháp cho nhiều bịnh lại thiếu nó.”

Không phải magnesium chỉ cần thiết để giúp đìều phối calcium, potassium và sodium, nó giúp duy trì các tế bào trong trạng thái lành mạnh và nó thiết yếu cho hơn 300 chức năng sinh hoá trong cơ thể. Ngay cả  glutathione là chất chống oxit hoá mạnh nhất của cơ thể cũng cần magnesium mới hình thành được. Rất tiếc là ít người ý thức được tình trạng này , và hang triệu người chịu khổ hang ngày vì thiếu magnesium mà không biết.  

Thật ra, có hơn 600 phản ứng trong cơ thể cần có magnesium , kể cả các diễn trình  (de Baaij et al, 2015)

  • Tạo năng lượng: bằng cách giúp biến đổi thức ăn thành năng lượng 
  • Tạo chất đạm mới từ axit amino.
  • Bảo trì gen bằng cách giúp tạo gen và sữa chữa DNA và RNA
  • Điều hoà chuyển động cơ bắp trong nhu cầu co thắt và thư giản cơ bắp.
  • Điều hợp hệ thống thần kinh: Điều hợp tín hiệu thần kinh khắp não bộ và hệ thần kinh.

Nguyên do làm cho chúng ta thiếu magnesium bao gồm tình trạng đất nông nghiệp mất dần magnesium, kỹ thuật đổi gen (GMO) trong nông nghiệp, hệ tiêu hoá suy yếu, bịnh mãn tính và các thuốc trị bịnh. Tất cả ba yếu tố sau cùng làm giảm khả năng hấp thụ magnesium của cơ thể.

Những người có vấn đề tiêu hoá, tiểu đường, ghiền rượu và những người lớn tuổi thường có nguy cơ thiếu magnesium lớn hơn bình thường.

Triệu chứng thiếu magnesium gồm:

1. Chân bị  chuột rút.

70% người lớn và 7% trẻ em thường bị chuột rút. Vì magnesium có vai trò then chốt trong việc truyền tín hiệu não cơ bắp và sự co giản bắp thịt nên thiếu magnesium thường là nguyên dân gây nên tình trạng này. (12). Để khỏi bị đau vì chuột rút và hội chứng chân bồn chồn bứt rứt, chúng ta có thể cần tăng tiêu thụ magnesium và potassium dưới dạng phụ trợ và thức ăn thích hợp.

2. Mất ngủ:

Magnesium có vai trò làm dịu trí óc và thư giản cơ bắp nên thiếu magnesium thường gây nên bịnh mất ngủ và bứt rứt (Abbasi et al, 2012)

Uống khoảng 400 mg magnesium chelate hoặc xoa bóp sau cổ bằng dầu hay kem magnesium chloride trước khi đi ngủ có thể giúp ngủ dễ hơn.

3. Đau cơ bắp

Kết quả một công trình nghiên cứu đăng trên báo Magnesium Research cho thấy magnesium giúp giảm đau cơ bắp cho những người bị đau cơ nhiều nơi trên cơ thể (fibromyalgia).(4)

4. Lo âu (Anxiety) và trầm cảm (depression)

Công trình nghiên cứu do Sartori dẫn đầu năm 2012 xác định thiếu magnesium gây ra lo âu. Nếu bị chứng lo âu hoặc trầm cảm thường xuyên, chúng ta uống magnesium mỗi ngày sẽ thấy bình tỉnh bớt lo lắng và thấy lạc quan hơn (Eby & Eby, 2006). Nếu không thiếu magnesium mà bị lo âu và trầm cảm thì thường có thể vì thiếu niacin (Vitamin B3), một chất vi dinh dưỡng cần thiết trong mọi phản ứng tạo năng lượng ATP ( Healthline, 2, n.d.).  Một  thử nghiệm ngầu biến có kiểm soát cho thấy 450 mg magnesium có công hiệu giảm trầm cảm bằng thuốc chống trầm cảm mà không bị phản ứng phụ  (Barragán-Rodríguez et al, 2008)

5. Cao huyết áp

Magnesium cùng với calcium hổ trợ cho cơ thể có huyết áp thích hợp và bảo vệ tim. Vì vậy nếu thiếu magnesium thì calcium tích tụ trên thành mạch máu,  gây cao huyết áp.  Kết quả một cuộc nghiên cứu với trên 23000 người tham gia đăng trên tạp chí “American Journal of Clinical Nutrition ” xác định những người ăn nhiều thức ăn giàu magnesium” ít  bị tai biến mạch máu não hơn (6).

Những người uống magnesium ngay sau khi bị nhồi máu cơ tim giảm nguy cơ tử vong. Magnesium cũng thường là một phần trong cách chữa trị  suy tim ứ máu (congestive heart failure) để giảm nguy cơ nhịp tim bị loạn  (Ware, 2017).

5. Tiểu đường loại 2

Theo các nghiên cứu về magnesium và tiểu đường, chế độ ăn uống có nhiều magnesium giảm  rất đáng kể nguy cơ bị tiểu đường (7) (8).  Vì magnesium cần thiết cho qui trình chuyển hoá đường trong cơ thể. 

6. Giảm tính kháng insulin.

Kháng insulin là một trong những nguyên do gây nên tiểu đường loại 2 và  hội chứng chuyển hoá (metabolic syndrome) – biểu hiệu qua tình trạng mập bụng, đau tim và tiểu đường. Nó làm cho cơ bắp và tế bào gan mất khả năng hấp thụ đúng cách đường trong máu. Magnesium đóng vai trò chủ yếu trong qui trình này. Tính kháng insulin càng cao thì càng tăng lượng insulin trong máu làm mất thêm magnesium qua nước tiểu (41) .  Rất may tình trạng này có thể tránh được bằng cách  tăng lượng magnesium tiêu thụ (424344).

7. Mệt mỏi, thiếu sức lực (fatigue)

triệu chứng thông thường  của tình trạng thiếu magnesium ( Cox, Campbell & Dowson ,1991). Để tăng sinh lực và bớt mệt mỏi, chúng ta có thể uống 200 mg đến 1000 mg  phụ trơ magnesium mỗi ngày. Nhưng cần cẩn thận tang liều từ từ tới mức thích hợp cho mình vì uống nhiều magnesium quá sẽ gây tiêu chảy.

8. Nhức đầu (headache, migraine)

Magnesium đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng các chất dẫn tín hiệu thần kinh. Nhiều cuộc nghiên cứu thử nghiệm ngẫu biến, kín kép (randomized, doubled blind, controlled trial) có kiểm soát cho thấy dùng 360-600 mgs magnesium giảm 42% số lần bị nhức đầu (10)

9. Loảng xương (osteoporosis)

Theo Viện Y tế quốc gia của Mỹ (The National Institute of Health), “ Trung bình chúng ta có 25 gam magnesium trong người mà 1 nửa ở trong xương (Martin , 2017). Thiếu magnesium vì vậy là một trong những yếu tố gây nên loãng xương, nhất là người già. Thiếu  magnesium, mà tiêu thụ nhiều calcium có thể tăng nguy cơ làm vôi calcium đọng trên thành các mạch máu gây bịnh tim mạch và sạn thận.

Theo kết quã một nghiên cứu đăng trong  tạp chí khoa học Biology Trace Element Research uống phụ trợ magnesium làm giảm tiến trình loảng xương rất nhiều chỉ sau 30 ngày. Khi uống magnesium, chúng ta cũng nên uống them vitamin D3 và vitamin K để tăng tỉ trọng xương một cách tự nhiên. (Aydin et al, 2010).

10. Gây viêm (Healthline, 1, n.d)

Thiếu magnesium thường đi đôi với viêm mãn tính, một trong những yếu tố đưa đến lão hoá, mập phì và bịnh mãn tính (Neilsen, 2014; Neilsen, 2010). Sử dụng phụ trợ magnesium hoăc thức ăn chứa nhiều magnesium như cá nhiều mỡ và sô cô la đen có thể  giúp giảm viêm mãn tính và những bịnh liên hệ. (Neilsen, Johnson & Zeng, 2010).

11. Đau kinh nguyệt (Healthline, 1, n.d)

Rất nhiều phụ nữ trong tuổi sinh con trước ngày có kinhthường bị phù, chuột rút vùng bụng, mệt mỏi và dễ bực tức.  Nghiên cứu lâm sàng cho thấy magnesium có tác dụng giảm những triệu chứng này cho những phụ nữ đó (Facchinetti et al, 1991).

Liều lượng cần thiết và nguồn magnesium (Healthline, 1, n.d)

Magnesium tuyệt đối thiết yếu để có sức khoẻ tốt. Các cơ quan Y tế  thế giới đề nghị đàn ông cần 400-420 mg mỗi ngày và phụ nữ cần 310-320 mg mỗi ngày.

Thức ăn giàu magnesium nhất (theo thứ tự ): (49):

  • Rau cải củ (chard)
  • Sô cô la đen (70–85% cocoa)
  • Đâu đen (black bean)
  • Hạt ki noa (quinoa)
  • Hạt hạnh nhân (almond)
  • Hạt điều (cashew nut)
  • Cá thu (mackerel)
  • Trái bơ (Avocado)
  • Cá hồi
  • Hạt bí đỏ (Pumpkin seeds)
  • Rau dền, rau bina luộc (Spinach, boiled)

Dầu dừa dùng để sửa soạn thức ăn mỗi ngày kể cả chiên xào có thể gúp tăng khả năng hấp thụ magnesium và chất dinh dưỡng khác trong thức ăn. Xin xem các bài viết vê dầu dừa

Phụ trợ magnesium:

Magnesium phu trợ dưới hình thứcmagnesium citrate, glycinate, orotate and carbonate có độ hấp thụ cao. Tuy nhiên khi hệ tiêu hoá không tốt, mức hấp thụ cũng không đạt tiêu chuẩn. Trong trường hợp đó, magnesium chloride trong dạng dầu và kem dùng trên da tốt hơn và nó hấp thụ qua da rất nhanh. Nhất là dùng cho bịnh mất ngủ, nhức đầu, đau kinh nguyệt, loảng xương, chuột rút, đau cơ bắp, đau khớp… Good Health Magnesium Cream và dầu NTS MagSorb được người tiêu dung khen rất công hiệu.

Xin Lưu ý:

Nếu quý bạn đang uống thuốc tây trị bịnh thì nên hỏi ý bác sĩ trước khi mua và dùng phụ trợ magnesium vì nó có thể phản ứng không an toàn với thuốc tây tăng tiểu tiện (diuretics), thuốc  tim mạch và thuốc kháng sinh.

Tham khảo

Abbasi B, Kimiagar M, Sadeghniiat K, Shirazi MM, Hedayati M, Rashidkhani B. (2012) The effect of magnesium supplementation on primary insomnia in elderly: A double-blind placebo- controlled clinical trial. J Res Med Sci. 2012 Dec;17(12):1161-9. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23853635

Axe, J.  (2017) 9 Signs You Have Magnesium Deficiency and How to Treat It. https://draxe.com/9-signs-magnesium-deficiency/

Aydin H, Deyneli O, Yavuz D, Gözü H, Mutlu N, Kaygusuz I, Akalin S. (2010) Short-term oral magnesium supplementation suppresses bone turnover in postmenopausal osteoporotic women.Biol Trace Elem Res. 2010 Feb;133(2):136-43. doi: 10.1007/s12011-009-8416-8 http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19488681

Barragán-Rodríguez L., Rodríguez-Morán M., Guerrero-Romero F.  (2008) Efficacy and safety of oral magnesium supplementation in the treatment of depression in the elderly with type 2 diabetes: a randomized, equivalent trial. [Abstract] Magnes Res. 2008 Dec;21(4):218-23. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19271419

Cox IM, Campbell MJ, Dowson D (1991) Red blood cell magnesium and chronic fatigue syndrome. The Lancet, MARCH 30, 1991. https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PII0140-6736(91)91371-Z/fulltext

de Baaij JH, Hoenderop JG, Bindels RJ. (2015) Magnesium in man: implications for health and disease. Physiol Rev. 2015 Jan;95(1):1-46. doi: 10.1152/physrev.00012.2014.

Eby GA, Eby K (2006) Rapid recovery from major depression using magnesium treatment [Abstract]. Med Hypotheses. 2006;67(2):362-70.  https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/16542786

Facchinetti F, Borella P, Sances G, Fioroni L, Nappi RE, Genazzani AR (1991). Oral magnesium successfully relieves premenstrual mood changes. [Abstract]. Obstet Gynecol. 1991 Aug;78(2):177-81. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/2067759

Healthline (1, n.d.). 10 Evidence-Based Health Benefits of Magnesium. https://www.healthline.com/nutrition/10-proven-magnesium-benefits#section11

Healthline (2, n.d.) Niacin and Depression. https://www.healthline.com/health/niacin-for-depression#causes

Martin, L. J. (2017), MD, Magnesium Blood test. https://medlineplus.gov/ency/article/003487.htm

Nielsen FH (2010) Magnesium, inflammation, and obesity in chronic disease [Abstract]. Effects of Nutr Rev. 2010 Jun;68(6):333-40. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/20536778

Nielsen FH (2014) Magnesium depletion on inflammation in chronic disease. Curr Opin Clin Nutr Metab Care. 2014 Nov;17(6):525-30. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/25023192

Nielsen FH, Johnson LK, Zeng H. (2010) Magnesium supplementation improves indicators of low magnesium status and inflammatory stress in adults older than 51 years with poor quality sleep. Magnes Res. 2010 Dec;23(4):158-68. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/21199787

Sartori S.B., Whittle N., Hetzenauer A. and Singewald N. (2012) Magnesium deficiency induces anxiety and HPA axis dysregulation: Modulation by therapeutic drug treatment . Neuropharmacology. 2012 Jan; 62(1): 304–312. doi: 10.1016/j.neuropharm.2011.07.027

Ware, M. (2017) Why do we need magnesium? MedicalNewsToday. https://www.medicalnewstoday.com/articles/286839.php

Công dụng và cách dùng Dầu Ô liu, dầu ăn tuyệt vời cho sức khoẻ

Dầu ô liu là loại mỡ chính đóng góp khoảng 30 % năng lượng thực phẩm của dân vùng Địa Trung Hải. Họ được công nhận là có một trong những chế độ ăn uống lành mạnh nhất trên thế giới nên sống khoẻ mạnh, ít bị bệnh tim mạch và những bệnh mãn tính.

Người dân Địa Trung Hải (CDDTH) trung bình dùng dầu mỡ để cung ứng 36-40 % tổng số năng lượng ca lô ri hằng ngày (so vói 33% ở Mỹ) trong đó mỡ bảo hoà cung ứng 7-10% (so với 11% ở Mỹ), mỡ đơn kết không bảo hoà (MUFA) 19-25% (so với 12.5 % ở Mỹ) và mỡ đa kết không bảo hoà (PUFA) chỉ có 3-6% (so với 7% ở Mỹ).

Dầu ô liu là dầu ăn tốt nhất cho sức khoẻ trong các loại dầu ăn vì nó có thành phần chủ yếu (71%) là axit béo Ômêga 9 còn gọi là axit oleic và popyphenol oleocanthal.

Chủ yếu dầu Ô liu gồm những thành phần dinh dưỡng chính sau đây:

• Mỡ béo bảo hoà (Saturated fat): 13.8%.
• Mỡ béo đơn kết không bảo hoà (Monounsaturated fat): 73% – hầu hết là axit ô lê ic có 18 car bon

• Omega-6: 9.7%.
• Omega-3: 0.76%.
• Vitamin E: 72% of the RDA.
• Vitamin K: 75% of the RDA.

Cơ thể cần axit Ôleic để giữ màng tế bào mềm dẻo linh động, đảm bảo cho màng bọc tế bào dày đủ để chống ngoại xâm, vận chuyển khóang chất và ứng đáp tác động hoc môn. Axit Ô lê ic còn là nguồn năng lượng chính cho các tế bào trong việc sản xuất và sinh tổng hợp (biosyntheisis) nhiều chất chuyển hoá (metabolites

Axit ô lê ic giúp dầu ô liu có công dụng

  1. giảm huyết áp
  2. Bảo vệ màng mạch máu
  3. Ngừa máu đông – giảm nguy cơ quỵ tim (heat attacks) hay đột quỵ (strokes)
  4. giảm mỡ máu (lowering cholesterol),
  5. giảm mập phì (burning fat)
  6. trị tiểu đường 2
  7. bồi dưỡng trí tuệ (boosting cognitive brain function)
  8. ngừa viêm loét ruột già (Ulcerative Colitis)
  9. tăng khả năng miễn nhiểm và chống nhiễm trùng
  10. dưỡng da và làm lành da,
  11. chống ung thư .

Ngoài ra , hoạt chất Popyphenol oleocanthal được khẵng định giúp dầu ô liu có thêm công dụng

  • chống viêm mãn tính kể cả chống phát triển ung thư (anti cancer growth) và di căn ung thư (anti metastasis)
  • chống diễn tiến thoát hoá thần kinh (Alzheimer’s) và
  • chống thoái hoá khớp.

Dầu vậy theo nghiên cứu của University Health News thì không phải loại dầu nào cũng có nhiều chất Oleocanthal. Muốn mua dầu ô liu có nhiều Oleocanthal thì phải chọn dầu Ô liu đầu mùa nguyên si ép lạnh. (Early Harvest extra virgin cold pressed Olive Oil )

Chọn dầu Ô liu:
Không phải mọi loại dầu Ô liu bán trên thị trường đều giống nhau. Chúng ta ta phải chọn loại tốt nhất cho sức khoẻ theo những tiêu chuẩn sau đây:

  1. Phải là dầu Ô liu nguyên thuỷ ép lạnh (Virgin or extra virgin cold pressed Olive oil)
  2. Phải chứa trong chai màu đậm.
  3. Chọn chai có ghi ngày sản xuất hoặc ít nhất có ghi hạn ngày tốt nhất (best before date)
  4. Tránh những chai dầu không có ghi rõ chính xác điểm sản xuất ( tên nhà máy cụ thể – specific mill)
    Nếu có bằng chứng nhận hoặc giải thưởng của những Hiệp hội/ Hội đoàn Dầu Ô liu thì có thể đảm bảo dầu sản xuất đúng tiêu chuẩn, chẳng hạn như Hiệp hội Ôliu Úc ( Australian Olive Association), Hội đồng Dầu Ô Liu California (the California Olive Oil Council),

Dùng dầu Ôliu nấu ăn được không?

Theo nghiên cứu thử nghiệm của nhóm Allouche năm 2007 và nhóm Casal et al năm 2010, dầu Ô liu không thay đổi bao nhiêu sau khi nấu nóng ở 180 độ C và cũng không biến chất khi dùng để chiên ngập lâu cả ngày. Tuy nhiên không nên dùng dầu Ô liu để chiên đi chiên lại vì nó sẽ mất chất bổ dưỡng mà có thể có hại cho sức khoẻ.

Dùng dầu Ô liu như thế nào để có lợi ích tối đa cho sức khoẻ

Dùng dầu Ô liu càng tươi càng tốt. Theo chuyên gia chế độ ăn uống Địa Trung Hải, nên ăn dầu thu hoạch sản xuất không quá 1 năm. Nhưng sau khi đã mở chai thì nên dùng hết trong vòng 3 tháng thôi. Vì vậy không nên mua chai quá lớn. Nếu ăn mỗi ngày thì sẽ không có vấn đề.
Dùng 2-3 muỗng canh dầu Ô liu mỗi ngày. Đây là mức tiêu thụ dầu Ô liu trung bình của mỗi người dân Địa Trung Hải. Dân Địa Trung Hải trưa ăn dầu ô liu trộn xà lách, tối ăn dầu ô liu rưới lên rau cải nướng, trên thịt cá nướng, và ăn dầu ô liu chiên xào rau cải. Dùng với rau cải và thịt cá như vậy, mỗi người họ ăn 2-3 muỗng canh (30-50 phân khối) dầu ô liu mỗi ngày.
Xin lưu ý là chế độ ăn uống dân Địa Trung Hải, ngoài dầu Ô liu là nguồn mỡ chính, họ ăn nhiều rau cải, đậu (legume), trái cây. Trái lại họ ăn vừa phải sản phẩm sửa bò và ít ăn thịt (kể cả gà vịt – trung bình 1-2 lần 1 tuần hoặc ít hơn)
• Nếu muốn tránh bệnh Alzheimer’s tri nhớ thì mỗi ngày nên tiêu thụ 1-2 muỗng canh dầu Ô liu ép lạnh đầu mùa (early harvest extra virgin olive oil) và tăng mức tiêu thụ thức ăn gốc thực vật.

Lưu ý: Bài này chỉ có mục tiêu thông tin chứ không thay thế ý kiến chỉ dẫn của y sĩ, bác sĩ.

Tham khảo:

Allouche, Y., Jimenez, A., Gaforio, J.J. Uceda, M. & Beltran, G. (2007) How heating affects extra virgin olive oil quality indexes and chemical composition. J Agric Food Chem. 2007 Nov 14;55(23):9646-54. Epub 2007 Oct 13. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/17935291
Casal, S., Malheiro, R, Senda, A.. Oliveira, B.P. & Pereira, J.A. (2010) Olive oil stability under deep-frying conditions. Food Chem Toxicol. 2010 Oct;48(10):2972-9. doi: 10.1016/j.fct.2010.07.036. Epub 2010 Aug 3. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/20678538
Gunnars, K. (2017) Why Extra Virgin Olive Oil is The Healthiest Fat on Earth. Nutrition. Healthline https://www.healthline.com/nutrition/extra-virgin-olive-oil
Paravantes, E. (2013) How to use olive oil to get the most benefits. OliveTomato. https://www.olivetomato.com/how-to-use-olive-oil-to-get-the-most-benefits/
Paravantes, E. (2014) 5 ways you are using olive oil wrong. OliveTomato. https://www.olivetomato.com/5-ways-you-are-using-olive-oil-wrong/Parkinson, L. & Keast, L. (2014) Oleocanthal, a Phenolic Derived from Virgin Olive Oil: A Review of the Beneficial Effects on Inflammatory Disease . Int J Mol Sci. 2014 Jul. doi: 10.3390/ijms150712323
Romagnolo, D.F. & Selmin, O.I. (2017) Mediterranean Diet and Prevention of Chronic Diseases. Nutrition Today. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5625964/pdf/nt-52-208.pdf
Ruggeri, C. (2018) Oleic Acid: Top 9 Uses & Benefits of This Healthy Fat. Dr Axe Food is Medicine. https://draxe.com/oleic-acid/


Nhịn ăn là cách giúp cơ thể tẩy độc và chữa bịnh mãn tính cách tuyệt vời mà không tốn tiền

Tóm lược: Nhịn ăn là biện pháp được các tôn giáo sử dụng từ thuở xa xưa để tịnh dưỡng cơ thể và bồi dưỡng tâm linh. Lợi ích của sự nhịn ăn đối với sức khoẻ được lưu ý hàng ngàn năm nhưng gần đây hầu như bị thất truyền. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học gần đây đã xác nhận là nhịn ăn rất có lợi cho sức khoẻ, không những giúp cơ thể tẩy độc hữu hiệu mà còn giúp hồi xuân, lấy lại nhạy ứng với insulin, cải thiện hệ miễn nhiễm, phòng chống bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, thoái hoá thần kinh, viêm khớp kinh niên, ung thư, mập mỡ, cao mỡ và cholesterol và những bệnh “miễn nhiễm tự tác” (auto immune disease). Dầu vậy các lợi ích đó chỉ được duy trì bằng chế độ ăn uống lành mạnh sau đó. Nhịn ăn là việc ai cũng làm được mặc dầu ngày đầu phải chống chọi cơn đói. Nhịn ăn đứt khoảng mỗi ngày 16-18 tiếng đồng hồ trong vài ba tuần cũng có hiệu quả như nhịn ăn liên tục 10 ngày. Xen kẻ cứ một ngày nhịn ăn với một ngày ăn bình thường trong 3-4 tuần cũng có hiệu quả như vậy. Dùng chế độ ăn uống bắt chước nhịn ăn trong 5 ngày cũng có hiệu quả làm chậm già và tăng tuổi thọ nếu không dám  nhịn ăn. Nhịn ăn không phải một lần là đủ nhưng cần lập lại hàng năm hoặc hằng tháng, hoặc hằng tuần tuỳ theo thời gian nhịn ăn dài hay ngắn. Nhịn ăn không an toàn cho phụ nữ mang thai, mẹ đang cho con bú, trẻ em và người gầy ốm. Những người bịnh (nhất là bịnh tiểu đường) nên hỏi ý kiến và nhờ bác sĩ theo dõi trong thời gian nhịn ăn. Quan trọng là sau khi nhịn ăn, chế độ ăn uống phải lành mạnh thì hiệu quả mới vững bền. Nghĩa là cần ăn rau quả nhiều, bớt ăn thịt, tránh đường và thức ăn chế biến, nhất là thức ăn làm bằng bột trắng.

Sơ lược lịch sử nhịn ăn

Nhịn ăn được sử dụng hàng ngàn năm nay để thân thể nghỉ ngơi tạo điều kiện thích hợp cho sự cầu nguyện và thăng tiến tâm linh. Lợi ích của việc nhịn ăn đối với sức khoẻ không được nói đến trong Kinh thánh và sách tôn giáo khác nhưng đã được lưu ý từ ngàn năm nay. Từ 400 trước công nguyên Hippocrates, cha đẻ y học tây phương, đã nói: ” Ăn khi bịnh là nuôi bịnh”. Plutarch, một triết gia và học giả Hy lạp đầu thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, cũng khuyên: “Thay vì uống thuốc thì nhịn ăn một ngày” (greekmedicine.net). Dầu vậy từ gần nữa thế kỹ nay nhịn ăn không được phổ biến như một biện pháp chữa bịnh. Trái lại chúng ta thường nghĩ rằng khi bịnh thì cơ thề cần nhiều chất dinh dưỡng hơn để chống bịnh và mau phục hồi. Vì vậy chúng ta thường cố ăn, và ép con cháu mình ăn khi bịnh mặc dầu cơ thể đã cảnh báo là không nên ăn khi bịnh bằng cách làm cho cơ thể mất cảm giác thèm ăn và có khi phải nôn ói sau khi ăn. Ngoài ra nhịn ăn trị bịnh đi ngược chiêu bài quảng cáo của các công ty thực phẩm và dược phẩm (Fung & Moore, 2016)

Kết quả nghiên cứu về nhịn ăn:

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học gần đây đã xác nhận nhịn ăn rất có lợi cho sức khoẻ. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhịn ăn tạo điều kiện cho tế bào cơ thể giảm thiệt hại của diễn trình oxy hoá và viêm, tối ưu hoá diễn trình chuyển hoá năng lượng, và tăng cường hệ đề kháng. Thử nghiệm cho thấy nhịn ăn giúp bảo vệ thú vật tránh bệnh tiểu đường, ung thư, tim mạch và thoái hoá thần kinh, sống lâu hơn. Trong khi đó nhịn ăn giúp người giảm mập phì, cao huyết áp, suyển, phong thấp / thấp khớp, làm chậm tiến trình lão hoá , những bịnh mãn tính (Longo & Mattson, 2014) và giảm cơ nguy ung thư (Varady & Hellerstein, 2011).

Nhịn ăn không chữa bịnh nhưng tạo điều kiện cho cơ thể dễ dàng thu gom và loại bỏ tất cả những chất thải từ qui trình chuyển hoá, là chất độc gây bịnh mà cơ thể chưa có dịp loại bỏ vì quá bận rộn chuyển hoá thức ăn mỗi ngày. Nói cách khác nhịn ăn là tạo cho cơ thể cơ hội loại bỏ ra ngoài chứng ngại vật cản trở sự chữa lành. Khi có cơ hội này cơ thể tự chữa lành rất nhanh. (Gustafson & Goldhamer, 2014).

 Những thay đổi trong cơ thể khi nhịn ăn:

Cách đáp ứng nhu cầu năng lượng.

Khi ăn chúng ta thu nhiều năng lượng hơn cần dùng ngay lúc đó. Cơ thể sản xuất hoc môn insulin để đưa năng lượng từ chất đạm (protein) và chất ngọt (carbohydates) vào tế bào và kho tồn trữ. Kho tồn trữ thứ nhất là kho đường glucogen trong gan. Kho này có khả năng giới hạn. Khi gan không còn chổ chứa glucogen nữa thì năng lượng dư thừa được gan biến thành mỡ (triglycerides), một phần chứa trong gan và còn lại thành lớp mỡ trên người.

Khi nhịn ăn, mức insulin giảm đi, báo hiệu cơ thể bắt đầu phải dùng năng lượng trong kho, trước hết là kho đường glucogen rồi đến kho mỡ. Kho glucogen trong gan thường đủ để dùng khoảng 24 tiếng đồng hồ. Sau khi dùng hết glucogen thì gan bắt đầu chế đường từ chất đạm. Giai đoạn này gọi là “chế đường mới” (Gluconeogenesis) diễn ra từ 24 đến 48 tiếng đồng hồ sau khi nhịn ăn. Từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3 sau khi nhịn ăn, mức insulin thấp thúc đẩy diển trình phân hoá chất mỡ (lipolysis) thành axít mỡ và glycerol. Glycerol được dùng để chế đường từ mỡ còn axit mỡ thì được hầu hết tế bào cơ thể dùng làm năng lượng. Cơ thể cũng dùng axit mỡ để sản xuất vật thể ketone cho não bộ sử dụng làm nguồn năng lượng. Sau 4 ngày nhịn ăn thì vât thể ketone cung cấp 75 % năng lượng cho não bộ. Nhịn ăn tăng hoc môn phát triển (Human growth hormone) nên cơ bắp và mô tế bào không có mỡ (lean tissues) được bảo toàn chứ không bị teo (Cahill, 2006 trích dẫn trong Fung & Moore, 2016).

 Cải thiện hệ miễn nhiễm

Nhịn ăn tăng khả năng cho hệ miễn nhiễm  kiểm soát  tín hiệu gây viêm (inflammatory cytokines) và dị ứng (Faris et al; Vasconcelos et al; Aksungar, Topkaya &Akyildiz ; Kohno, Kouda et al; trích dẫn trong Jockers, 2016).

 Kích thích diễn trình tự dọn sạch tế bào (cellular autophagy). Nhịn ăn tạo điều kiện kích thích cơ thể phân huỷ các tế bào già, hư hại và các tế bào phát triển bất thường để tái sử dụng sản xuất năng lượng. Nhịn ăn vì thế ngăn cản nhiễm khuẩn và sự lây lan ký sinh trùng nội bào. Nó giúp cơ thể loại trừ mầm gây bịnh từ bên trong tế bào cũng như sự phát triển bất thường của tế bào ung thư (Jockers, n.d.) Diễn trình này cũng giúp bảo vệ tế bào não và tế bào mô tránh phát triển bất thường, nhiễm độc và viêm mãn tính (Alirezaei at al, 2010).

 Cải thiện cơ chế chữa lành gen:

Kết quả các cuộc thử nghiệm chứng tỏ các tế bào sống lâu hơn khi thiếu thức ăn và đói. Nhịn ăn vì vậy làm tăng diễn trình hồi xuân tế bào qua một số cơ chế chữa lành gen vì sửa chữa tốn ít năng lượng hơn là tạo tế bào mới. Khi không có thức ăn nhiều, cơ thể bảo tồn năng lượng bằng cách giảm việc phân chia tế bào. Tình trạng này ngăn cản không cho tế bào ung thư lan rộng. Hoc môn chủ yếu kiểm soát công tác sữa chữa tế bào này là hoc môn phát triển nhân thể (HGH – Human growth Hormone) (Jockers, n.d.) Nhịn ăn kích thích cơ thể sản suất hoc môn HGH. Một nghiên cứu thử nghiệm năm 1992 cho thấy mức HGH hoc môn tăng gấp 5 lần sau 2 ngày nhịn ăn (Fung & Moore, 2016). Mức hoc môn phát triển này thấp thì cơ thể chóng già. Ngược lại nhịn ăn làm tăng nhiều HGH sẽ làm cơ thể chậm già. Tăng mức HGH hoc mon cũng kích thích cơ thể dùng mỡ làm năng lượng, do đó vừa giảm mỡ vừa ổn định mức đường trong máu (Fung & Moore, 2016).

 Giảm lượng hoc môn insulin và tăng nhạy ứng insulin

Trong giai đoạn đầu nhịn ăn, lượng đường và insulin trong máu giảm nhưng vẫn nằm trong tầm mức bình thường nhờ sử dụng kho đường glucogen và diễn biến “tạo đường mới”. Sau khi dùng hết kho đường glucogen thì cơ thể chuyển sang dùng mỡ làm nhiên liệu. Nhịn ăn càng lâu thì mức insulin càng giảm nhiều. Mức insulin thấp thường xuyên sẽ làm cho cơ thể nhạy ứng hơn với insulin. Khi cơ thể nhạy ứng với insulin thì sẽ không cần nhiều insulin khi chúng ta ăn. Giảm nhu cầu insulin giúp cho cơ thể giảm tình trạng viêm nhiệt và tăng lượng hoc môn phát triển HGH. Tình trạng đối nghich là khi cơ thể không còn nhạy ứng với insulin, gọi là tình trạng “đề kháng insulin”. Khi cơ thể ở trong tình trạng ” đề kháng insulin” cao thì sinh ra nhiều vấn đề, trước hết là chứng tiểu đường kế đến là bịnh tim mạch, tai biến mãch máu não, bịnh mất trí nhớ Alzheimers, cao cholesterol, cao huyết áp, mập phì vùng bụng (abdominal obesisty), gan mỡ (fatty liver), hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome), bịnh gút, xơ vữa động mạch (atherosclerosis), bịnh trào hơi lên thực quản (gastroesophageal reflux) và ung thư (Fung & Moore, 2016). Vì vậy nhịn ăn có thể giúp cải thiện sức khoẻ toàn diện bằng cách giúp cơ thể tăng tình trạng nhạy ứng insulin.

Nhịn ăn cải thiện triệu chứng bịnh “miễn nhiễm tự hại” (auto immune disease) như systemic lupus (ban đỏ khắp thân), viêm khớp kinh niên (rheumatoid arthritis), viêm đại tràng (colitis) va bịnh viêm đường ruột (Crohn’s disease) (Varady & Hellerstein, 2007).

Phòng chống hữu hiệu ung thư tiền liệt tuyến (prostrate cancer) và ung thư vú vì nhịn ăn làm cho các tế bào ung thư chết đói chỉ chờ huỷ diệt (Buschemeyer et al, 2010; Rogozina et al, 2013).

Giúp phòng và trị bịnh tiểu đường. Mặc dầu chưa có thử nghiệm lâm sàng lớn để xác định công hiệu của việc nhịn ăn đối với bịnh tiểu đường, một số nghiên cứu và bằng chứng lâm sàng cho thấy nhịn ăn giúp nhiều người bị tiểu đường giảm lượng đường trong máu xuống mức bình thường mà không cần thuốc nữa. Một cuộc nghiên cứu quan sát cho thấy bệnh nhân tiểu đường khi nhịn ăn nên được bác sĩ theo dõi điều chỉnh liều thuốc uống và chế độ ăn uống để tránh tình trạng mức đường trong máu xuống quá thấp (hypoglycaemia) hoặc lên quá cao (hyperglycaemia) (Noon et al, 2016).

Bác sĩ Jason Fung, chuyên khoa về thận, sau một thời gian hành nghề nhận thấy thuốc tây không chữa được bệnh thận vì bệnh thận chủ yếu phát sinh từ tiểu đường. Bệnh tiểu đường lại bắt nguồn từ chế độ ăn uống. Chuyển qua nghiên cứu chế độ ăn uống trị tiểu đường , BS Fung khám phá nhịn ăn là cách tốt nhất để chữa bịnh tiểu đường, bệnh mập phì (thường đi đôi với tiẻu đường) và bệnh thận. Qua chương trình Quản lý ăn uống cao độ (intensive dietary management) BD Fung đã giúp bệnh nhân tiểu đường không còn bị tiểu đường nữa sau vài tháng nhịn ăn đứt khoảng và điều chỉnh chế độ ăn uống. Những bịnh nhân suy thận cũng trở lại bình thường (Fung & Moore, 2016; IDM testimonials).

Nhịn ăn giảm huyết áp cho những người cao huyết áp.

Thực nghiệm lâm sàng tại một trung tâm y tế ở California cho thấy các bịnh nhân cao huyết áp (174 người) và tiền cao huyết áp (68 người) giảm huyết áp đến độ không còn cần uống thuốc huyết áp nữa sau khi được chữa trị bằng nhịn ăn chỉ uống nước. Thời gian chữa trị trung bình kéo 22-23 ngày, gồm 2-3 ngày chuẩn bị chỉ ăn uống rau quả, 10-13 ngày nhịn ăn và 6-7 ngày ăn lại chủ yếu rau quả, ít mỡ và ít muối. Huyết áp ban đầu càng cao thì càng giảm nhiều. Nhóm người có huyết áp trên 180/110 mmHg thì trung bình huyết áp giảm đi 60/17 mmHg và tiếp tục cải thiện sau khi chữa trị (Goldhamer et al, 2001; Goldhamer et al, 2002).

Nhịn ăn cải thiện trí nhớ, tăng khả năng chú tâm và làm tinh thần sáng suốt.

Chưa có cuộc nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng nào được thực hiện để đo lường lợi ích của việc nhịn ăn đối với những người bị suy sụp trí nhớ (Alzheimer’s). Tuy nhiên thử nghiệm trên động vật cho thấy nhịn ăn giúp chúng cải thiện trí nhớ, khả năng học hỏi, và điều hợp động tác. Nhịn ăn đứt khoảng cũng giảm tình trạng thoái hoá thần kinh và các triệu chứng bịnh Alzheimer’s, Parkinson’s và Huntington’s (bịnh chết tế bào não) cho những thú vật trong những cuộc nghiên cứu này (Longo & Mattson, 2014). Những người đã nhịn ăn cũng xác nhận đầu óc họ nhẹ nhàng hơn, tinh thần họ sáng suốt hơn, có thể chú tâm hơn và nhớ nhiều hơn (Fung & Moore, 2016).

Nhịn ăn giảm mỡ máu và cholesterol

Nhịn ăn sau vài ngày, cơ thể phải dùng mỡ làm nhiên liệu năng lượng. Kết quả là lượng mỡ và cholesterol trong máu sẽ giảm. Một cuộc thử nghiệm trên 10 người mập phì cho thấy sau khi nhịn ăn xen kẻ 8 tuần lễ, lượng cholestrol LDP (xấu) và mỡ (triglycerides) trong máu giảm 25% và 32% (Bhutani, Klempel, Berger & Varady, 2010).

 Nhịn ăn giảm đau viêm khớp mãn tính (rheumatoid arthritis)

Trong cuộc khảo sát kinh nghiệm của 742 người bị viêm khớp mãn tính do Haugen và đồng nghiệp thực hiện năm 1991, 15 phần trăm bệnh nhân trải qua một lần nhịn ăn. 2 phần 3 trong số người này báo cáo là họ bớt đau, bớt cứng khớp và 50 % báo cáo là khớp xương bớt sưng.

Sau khi đọc báo cáo đó, Cô Diana, một bệnh nhân bị viêm thấp khớp nhiều năm, nghiên cứu tác dụng của biện pháp nhịn ăn và áp dụng 11 ngày nhịn ăn chỉ uống nước rau quả. Cô giữ nhật ký và ghi lại rằng từ ngày thứ 3 cô thấy bàn chân trái bớt sưng, và lần đầu tiên sau nhiều năm cô có thể đi bộ xa hơn. Từ ngày thứ tư cô hết thèm ăn, nhưng thấy dồi dào sức hơn, bắt đầu muốn bỏ ra vài ngày rong chơi. Cảm giác đau, sưng, viêm đều giảm đi. Sau 11 ngày cô không còn thấy đau đớn như trước nữa. Trái lại cô cảm thấy thật là khoẻ khoắn với tinh thần minh mẫn, tự tin và có thể tập trung khi cần. (Nhật ký của Diana).

Nhịn ăn như thế nào

Nhịn ăn là tự nguyện không ăn gì cả. Ngày nào chúng ta cũng nhịn ăn khi ngủ. Tuy nhiên, nhịn ăn chỉ uống nước vì lý do sức khoẻ thường từ 16 giờ tới cả tháng trong khung cảnh ngơi nghỉ. Ba cách nhịn ăn thông thường nhất là nhịn ăn đứt khoảng (intermittent fasting), nhịn ăn xen kẻ (alternate-day fasting) và nhịn ăn liên tục (block fasting) từ 1 ngày đến 40 ngày hoặc dài hơn.

Nhịn ăn đứt khoảng là nhịn ăn chỉ uống nước lọc mỗi ngày 16-23 tiếng đồng hồ, rồi ăn lại bình thường nhưng đầy chất bổ dưỡng và lành mạnh trong 1-8 tiếng đồng hồ còn lại. Phương pháp nhịn ăn này dễ thực hiện, có thể tuần nào cũng nhịn ăn đứt khoảng 2-3 ngày hoặc ngày nào cũng nhịn ăn như vậy trong nhiều tuần. Phương pháp này cho cơ thể thì giờ thực hiện chức năng tẩy độc và chữa bịnh khoảng 4-11 tiếng đồng hồ 1 ngày.

Nhịn ăn xen kẻ là nhịn ăn một ngày 24 giờ rồi ăn lại một ngày 24 tiếng và có thể kéo dài theo ý muốn.

Nhịn ăn liên tục thường kéo dài ít nhất 3 ngày và có nhiều người kéo dài nhịn ăn đến 40 ngày hoặc hơn.

Thay vì chỉ uống nước khi nhịn ăn, nhiều người thay thế nước bằng nước rau quả hay nước xương (bone broth). Cũng có người dùng chế độ ăn uống bắt chước nhịn ăn (fasting mimicking diet) trong thời gian nhịn ăn. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống này cũng có hiệu quả giống như nhịn ăn thật sự, nhất là thích hợp cho người già và những người sợ cảm giác đói (Mercola, 2017). Chế độ ăn uống này dùng nhiều dầu mỡ tốt và giới hạn lượng đạm và đường và kéo dài 5 ngày. Ngày thứ nhất cho phép 1.090 calories gồm 10% đạm, 56% dầu mỡ, và 44% hy drat cac bon (carbohydrate). Ngày thứ 2 đến thứ 7 giới hạn 725 calories gồm 9% đạm, 44 % dầu mỡ và 47% carbohydrate (Knapton, 2017).

Thận trọng cần có:

Vì nhịn ăn có thể không an toàn trong nhiều trường hợp, lời khuyên của các chuyên gia về nhịn ăn là trước khi nhịn ăn, chúng ta cần hỏi ý kiến, hay báo cho bác sĩ để họ theo dõi và giúp chúng ta khi có vấn để được an toàn. Và nhịn ăn không an toàn cho phụ nữ có thai, những người mẹ đang cho con bú, người gầy ốm và trẻ em.

Cần lưu ý là nhịn ăn không phải chỉ giúp cơ thể chữa lành bịnh và hồi xuân mà còn cần thiết để phòng chống bịnh tật và duy trì sức khoẻ. Vì thế cần nhịn ăn đều đặn hằng năm, hoặc mỗi sáu tháng hoặc mỗi ba tháng, hoặc mỗi tháng hoặc mỗi tuần tùy theo thời gian nhịn ăn. Chẵng hạn, nếu chỉ nhịn ăn 1 ngày 24 tiếng thì có thể mỗi tuần nhịn ăn một ngày. Chu kỳ này rất hợp với lời dạy trong Kinh thánh là chỉ nên làm việc 6 ngày rồi nghỉ ngơi hoàn toàn 1 ngày để hướng về Thiên Chúa và cầu nguyện nhận linh lực từ Thiên Chúa.

Xin lưu ý: Bài viết này có mục đích duy nhất là cung cấp thông tin giúp quý bạn nắm vững thông tin để cân nhắc trước khi lấy những quyết định liên quan đến sức khoẻ mình và vì vậy không thay thế ý kiến và sự chĩ dẫn của những y sĩ chăm sóc quý bạn.

 

Tham khảo:

Alirezaei, M., Kemball. C.C. et al Short term fasting induces profound neuronal autophagy. Autophagy. 2010;6(6):702-710.

Bhutani, S., Klempel, M.C., Berger, R.A., & Varady, K.A. Improvements in coronary heart disease risk indicators by alternate-day fasting involve adipose tissue modulations. Obesity (Silver Spring). 2010 Nov;18(11):2152-9. doi: 10.1038/oby.2010.54. Epub 2010 Mar 18.

Buschemeyer, W. C., Klink, J. C., Mavropoulos, J.C., Poulton, S.H., Demark-Wahnefried, W., Hursting, S.D., Cohen, P., Hwang, D., Johnson, T.L., Freedland S.J. Effect of intermittent fasting with or without caloric restriction on prostate cancer growth and survival in SCID mice. Prostate. 2010 Jul 1;70(10):1037-43. PMID: 20166128

Cahill, G. F. Fuel Metabolism in Starvation. Annu. Rev. Nutr. 2006. 26:1–22 doi: 10.1146/annurev.nutr.26.061505.111258

Gustafson, G. & Goldhamer, A.: Water Fasting – The clinical Effectiveness of Rebooting Your Body. Integrative Moldhamertedicine. Vol. 13, No. 3- June 2014.

Goldhamer, A.C., Lisle, D.J., Sultana, O., Anderson, S.V., Parpia, B. Hughes, B. & Campbell, T.C. (2002). Medically Supervised Water-Only Fasting in the Treatment of Borderline Hypertension. The Journal of Alternative and Complementary Medicine. Volume 8, Number 5, 2002, pp. 643–650

Goldhamer, A., Lisle, D., Parpia, B., & Campbell, T.C. Medically supervised water-only fasting in the treatment of hypertension. J Manipulative Physiol Ther. 2001 Jun;24(5):335-9

Haugen M., Kjeldsen-Kragh, J.,  Nordvå, B.Y. Diet and disease symptoms in rheumatic diseases — Results of a questionnaire based survey. Clinical Rheumatology. December 1991, Volume 10, Issue 4, pp 401-407

Jockers, D. (n.d.) 5 Healing Benefits of Intermittent fasting. DrJockers.com URL: http://drjockers.com/5-healing-benefits-of-intermittent-fasting/

Knapton, S. Five day fasting diet slows down ageing and may add years to life. The Telegraph. 5 September 2017. http://www.telegraph.co.uk/news/science/science-news/11683736/Five-day-fasting-diet-slows-down-ageing-and-may-add-years-to-life.html

Longo, V.D. & Mattson, M.P. Fasting: Molecular Mechanisms and Clinical Applications. Cell Metab. 2014 February 4; 19(2): 181-192. doi:10.1016/j.cmet.2013.12.008

Mercola (2017). How a fasting mimicking diet can help you live longer. http://articles.mercola.com/sites/articles/archive/2017/07/23/fasting-mimicking-diet.aspx

Noon, M.J., Khawaja, H.A., et al. Fasting with diabetes: a prospective observational study. BMJ Global Health. DOI: 10.1136/bmjgh-2015-000009 Published 8 September 2016.

Omodei, D. & Fontana, L. Calorie restriction and prevention of age-associated chronic disease. FEBS Lett. 2011 Jun 6; 585(11): 1537–1542

Rogozina, O.P., Nkhata, K.J., Nagle, E.J., Grande, J.P., Cleary, M.P. The Protective Effect of Intermittent Calorie Restriction on Mammary Tumourgenesis is Not Compromised by Consumption of a High Fat Diet During Refeeding. Breast cancer research and treatment. 2013;138(2):395-406.

Varady, K. A. & Hellerstein, M. K. Alternate-day fasting and chronic disease prevention: a review of human and animal trials. Am J Clin Nutr 2007;86:7–13