Viêm khớp

Trị Bịnh Viêm khớp – Arthritis bằng Chế độ dinh dưỡng

Tóm tắt: Kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu kiểm nghiệm lâm sàng cho thấy có thể trị dứt bịnh viêm khớp bằng chế độ ăn uống thuần rau quả cùng với dầu mỡ tốt, thưc phẩm lên men và phụ trợ tăng khả năng hấp thụ calcium. Thời gian chữa trị có thể rút ngắn bằng cách nhịn ăn 1-2 tuần trước khi thay đổi chế độ ăn uống . Đồng thời có thể giảm đau nhức cấp thời bằng cách dùng phụ trợ chống viêm và ngừng tiêu thụ một số thức ăn như đường, sữa, dầu thực vật tinh chế, sản phẩm bột mì, thực phẩm chế biến và thực phẩm gốc động vật.

Sơ lược bệnh viêm khớp

Bệnh viêm khớp – gồm cả phong  thấp, thấp khớp, gút – thường làm cho khớp xương sưng, đau nhức, cứng nhắc và hạn chế phạm vi cử động. Những triệu chứng này có thể nay có mai không và có thể nhẹ, trung bình hoặc trầm trọng và có thể không thay đổi năm này qua năm khác nhưng cũng có thể ngày càng nặng. Viêm khớp nặng có thể gây đau dài hạn, làm người bịnh mất khả năng thực hiện sinh hoạt hằng ngày, khó khăn lên xuống cầu thang.

Viêm khớp cũng có thể làm khớp cong quẹo vĩnh viễn nếu chỉ trị bằng thuốc tây (xem hình)

Có hàng trăm thứ viêm khớp khác nhau, bệnh viêm khớp thường gặp nhất là

-Bịnh viêm khớp thoái hoá (degenerative arthritis – osteoarthritis) do xương sụn bọc khớp bị mòn hay thoái hoá vì cơ thể không hấp thụ đủ calcium. Loại viêm khớp này thường thấy ở người lớn tuổi.

-Bịnh viêm xung quanh khớp (Inflammatory Arthritis) xãy ra khi hệ miễn nhiễm tấn công các khớp vì lầm tưởng đó là ngoại sinh vật xâm lược cơ thể. Nơi nào bị hệ miễn nhiễm tấn công thì nơi đó bị viêm.

– Nhiễm trùng khớp (infectious arthritis) xãy ra khi khớp bị nhiễm vi trùng, vi khuẩn hay vi nấm (fungus). Phản ứng của hệ miễn nhiễm gây viêm và đau nhức ở khớp. Chữa trị kịp thời bằng kháng sinh thường dứt bịnh, nhưng có khi thành viêm khớp mãn tính.

– Viêm khớp do dưỡng chế (Metabolic Arthritis) thông thường gọi là bịnh gút, xãy ra khi cơ thể không kịp thải bỏ uric acid, một sản phẩm phụ của qui trình biến dưỡng chất purine thường có trong tế bào cơ thể và thức ăn. Acid uric tích tụ nhiều sẽ tạo thành tinh thể giống những cây kim xung quanh khớp gây đau nhức.

Chế độ dinh dưỡng trị bịnh viêm khớp:

Vì mỗi lọại viêm khớp có nguyên do riêng của nó, nên cách chữa trị cho loại này khác cách chữa trị cho khác. Thêm vào đó, cách chữa trị chỉ nhắm mục tiêu giảm đau cũng khác cách chữa trị tận gốc. Cách chữa trị tận gốc có thể cần thời gian lâu, từ vài tháng đến vài năm. Trong khi đó cũng cần gấp rút giảm đau nhức. Vì vậy thông thường nên phối hợp cả 2 cách chữa tri cho đến khi trị dứt.

A.  Cách trị tận gốc:

Viêm khớp là một trong những hậu quả của chế độ dinh dưỡng không lành mạnh vì chê độ ăn uống quyết định tình trạng đường ruột và hệ miễn nhiễm. Viêm khớp có thể là hậu quả của tình trạng miễn nhiễm tự tác (autoimmune) (Campbell, 2014) hoặc tình trạng viêm đường ruột (Mielands, Veys, Cuvelier & De Vos, 1996) liên quan sự mất thăng bằng trong quần thể vi sinh đường ruột hoặc vì màng đường ruột bị rò rĩ (Jacob, 2013; Campbell, 2014), tức là màng đường ruột có kẻ hở đủ lớn cho nhiều vật thể không thân thiện lẻn vào máu. Viêm khớp cũng có thể liên quan đến tình trạng xượng bị thoái hoá vì thiếu những vitamin và khoáng chất cần thiết để hấp thụ đủ calcium (Nutriceuticals world, 2013).

Cách trị tận gốc bịnh viêm khớp vì vậy gồm nhiều biện pháp. Kiễm nghiệm lâm sàng cho thấy mỗi biện pháp đều có kết quả hiệu lực cho đa số bịnh nhân tham gia trong cuộc thử nghiệm nhưng không hữu hiệu cho tất cả. Chẳng hạn như biện pháp nhịn ăn sẽ không hiệu lực cho những người bị viêm khớp do nhiễm trùng, hay do thoái hoá xương

  1. Nhịn ăn: (Nếu nhịn ăn không thích hợp thì chuyển sang ăn rau quả – mục kế tiếp) Nhịn ăn làm giảm tình trạng rò rĩ màng ruột, cho nên nhịn ăn 2 tuần lễ giúp cải thiện rất nhiều tình trạng viêm khớp theo kết quả của nhiều nghiên cứu kiểm nghiệm lâm sàng (Beri, Malaviya, Shandilya & Singh,1988; Longo, V.D. & Mattson, 2014; Sandqvist et al , 1999). Xin xem lại bài nhịn ăn trong đó có cô Diana kế lại cô hết đau viêm khớp sau 11 ngày nhịn ăn và chỉ uống nươc rau cải ( Nhật ký của Diana)
  2. Sau khi nhịn ăn (hoặc không cần thiết nhịn ăn), chỉ nên ăn rau quả và thực phẩm thực vật (vegan) vì thực thẩm gốc thực vật chống viêm, tạo môi trường kiềm cho cơ thể. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy chế độ dinh dưỡng bằng rau quả giúp tăng cường lượng vi sinh tốt trong bộ tiêu hoá, giảm rò rĩ màng ruột (Peltonen R. et al, 1997) và đẩy lùi triệu chứng viêm khớp (Kjeldsen-Kragh, 1999).
  3. Ăn dầu mỡ tốt sản xuất bằng phương ướp lạnh như dầu dừa, dầu hột flax, dầu ô liu, dầu hột não chó (walnut oil), dầu trái bơ (avocado oil) (Arthritis Foundation 1). (Chỉ dùng dầu dừa để xào nấu) Theo nghiên cứu lâm sàng gần đây, dầu dừa là mỡ tốt có thể giúp chữa lành rò rĩ màng ruột, có tác dụng giảm viêm khớp (Ratheesh et al., 2017; Paul Fassa, 2017) và kiềm chế nấm Candida (Kearney et al, 2015). Khi nấm men Candida chế ngự cơ thể thì cơ thể bị nhiều triệu chứng bịnh, trong đó có viêm khớp (Muedin, 2013). Dầu dừa còn có tác dụng trị bịnh miễn nhiễm tự tác (auto immune disease) kể cả viêm khớp (Myers, 2015).
  4. Ăn nhiều thức ăn lên men như kim chi, dưa cải chua, gia ua dừa sống (coconut yogurt), chao, đậu nành lên men (natto), gia ua sữa (nếu bị viêm khớp thoái hoá, nhiễm trùng hay gút) hoặc uống phụ trợ probiotics để tăng cường sức khoẻ và hệ miễn nhiễm đường ruột. (Helme, J., 2015).
  5. Tăng khả năng hấp thụ calcium của cơ thể bằng cách sử dụng khoáng chất bổ sung như boron, magnesium, Vitamin K và vitamin D (Christakos, 2011). Viêm khớp do thoái hoá xương liên hệ đến tình trạng cơ thể giảm khả năng hấp thụ calcium chứ không phải vì tiêu thụ không đủ calcium. Cơ thể cần có đủ boron (Walter Last) magnesium, vitamin K, vitamin D mới hấp thụ được đầy đủ calcium (Nutriceuticals world, 2013). Thiếu những chất này thì uống bao nhiêu sữa và bao nhiêu calcium bổ sung đi nữa, xương vẫn loãng và viêm khớp cứ tệ hơn. Chúng ta có thể mua phụ trợ tổng hợp đủ những khoáng chất trên để tăng hấp thụ calcium và dứt bệnh viêm khớp thoái hoá như Clinicians Bone Care Complete ở NZ, hoặc Bone Strength, Bone-Up, Bone Solid ở iherb.com

B. Cách giảm đau nhức gấp rút: Xin lưu ý là không phải cách nào trong những cách này cũng công hiệu cho tất cả mọi người bị viêm khớp. Bịnh viêm khớp thường liên hệ rất nhiều đến dị ứng thức ăn (food allergy) và tình trạng chuyển hoá dinh dưỡng của cơ thể. Có thể chọn lọc nhưng cũng có thể thử mỗi lần một vài cách vì  tất cả nếu không có công hiệu thì cũng không có hại gì cả.

  1. Ngừng tiêu thụ những thức ăn thức uống sau đây:
  • Ngừng sử dụng sữa bò và thực phẩm gốc sửa bò (nếu cơ thể có phản ứng với sữa bò). Nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy nhiều người (nhưng không phải tất cả) dùng lại sửa bò và thưc phẩm gốc sữa bò và động vật sau khi nhịn ăn thì bị đau nhức viêm khớp trở lại (Kjeldsen-Kragh, 1999). Tuy nhiên, nên ăn sữa chua gia ua sống (live yogurt – nghĩa là gia ua có thể dùng để gầy thêm gia ua mới) để giúp diệt vi sinh có hại trong ruột để gỉam rò rĩ đường ruột. (Dr Axe, 2017) Có thể thay thế sữa bò bằng sửa hạnh nhân, sửa gạo, sửa (kem) dừa….
  • Ngừng hay giảm thiểu ăn thịt vì thịt chứa nhiều nội độc tố (endotoxin) do vi sinh trong thịt tiết ra (khi thịt còn sống) và mỡ bảo hoà trong thịt tăng lượng độc tố chuyển vào máu. Kết quả là tăng chứng viêm trong người (Greger, 2012). Vi sinh độc hại thích thịt, nên ăn nhiều thịt sẽ giúp vi sinh độc sinh sôi và tăng trưởng trong bộ tiêu hoá, nâng cao mức lượng nội độc tố gây nhiều thứ bệnh kể cả viêm khớp (Minich D., 2017)
  • Ngừng hay giảm thiểu thức ăn nước uống chứa nhiều purine như bia rượu, sò điệp, cá cơm, cá thu, thịt, nhất là thịt nai, thịt bacon, bò non, nai, gan, thịt bò, gà, vịt, heo… Càng ăn nhiều thực phẩm chứa nhều purine thì càng tăng mức acid uric trong người, gây nên đau nhức viêm khớp gút (Roubenoff, n.d.)
  • Ngừng dùng dầu ăn thực vật (vegetable oils) tinh chế như dầu canola, dầu đậu nành, dầu bắp, dầu hột hướng dương (Kris Gunnars (2013). Vì những thứ dầu này chứa qua nhiều omega-6 so với omega-3 nên gây viêm và hại đường ruột (Arthritis Foundation 5; Hyman, 2015). Ăn nhiều mỡ động vật kể cả sữa bò nguyên kem (full cream dairy products) cũng gây nên viêm khớp (Arthritis Foundation 3).
  • Ngừng ăn thức ăn chế biến, nhất là những loại khoai tây chiên, rán (chips), vì thức ăn chế biến thường chứa nhiều dầu mỡ chiên đã biến chất (transfat) là những chất tạo viêm và kích hoạt triệu chứng viêm khớp (Arthritis Foundation 4)
  • Ngừng ăn đường (Arthritis Foundation ) và những thức ăn gốc tinh bột (refined carbohydrates) như bánh mì trắng, gạo trắng, bột khoai tây trắng vì những chất này gây viêm và những đau nhức mãn tính (Arthritis Foundation 6; Franziska Spritzler, 2017).
  • Ngừng ăn thức ăn có bột ngọt (MSG) tức là nên tránh tất cả thức ăn chế biến Á châu vì bột ngọt kích hoạt viêm và đau nhức mãn tính (Arthritis Foundation 7)
  • Ngừng tiêu thụ thức ăn gốc lúa mì (wheat), lúa mạch (barley) và lúa mạch đen (rye) vì có chứa gluten, là chất thường gây rò rĩ màng ruột và những bệnh miễn nhiễm tự tác kể cả viêm khớp (Rath, 2015; Punder & Pruimboom, 2013).
  1. Ăn mè sống  xay (hay giã nhỏ) mỗi ngày  40 gm (chia ra làm nhiều lần ) sẽ giảm đau nhức viêm khớp rất nhiều theo kết quả nghiên cứu lâm sàng ở Đại Học Tabriz Iran năm 2013 với 50 bệnh nhân tham gia (Sayer Ji, 2013).
  2. Phụ trợ cao củ nghệ (Turmeric supplement). Kết quả tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng của Daily, Yang và Park (2016) xác nhận dùng cao củ nghệ (turmeric extract) có hiệu lực giảm đau viêm khớp. Liều lượng tối thiểu để có hiệu lực giảm đau là 1000mg cao, tương đương khoảng 30 g củ nghệ khô. Công thức phụ trợ cao củ nghệ cần phải có tiêu đen (black pepper) để giúp cơ thể hấp thụ hữu hiệu chất thuốc của củ nghệ.
  3. Phụ trợ Bromelain. Bromelain là một nhóm enzyme từ trái dứa có tác dụng chống viêm và nhiễm trùng được chứng nghiệm đã giúp nhiều bệnh nhân viêm khớp thoái hoá giảm đau đáng kể (Pavan et al, 2012) . Có thể dùng liều 2000 mg 3 lần một ngày giữa 2 bửa ăn . (Arthritis Foundation 8).
  4. Dầu cá (fish oil). Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cho thấy dầu cá giúp nhiều bệnh nhân giảm đau khớp và giúp cử động dễ hơn. Cần dùng 2.6 gm 2 lần một ngày dầu cá loại tốt (Nordic fish oil) gồm ít nhất 30 phần trăm EPA/DHA (Arthritis Foundation 9 ).
  5. Dầu hạt đen (black seed oil) – có thể cũng gọi là dầu hạt mè đen hay dầu thì là Ai cập – có công dụng chữa được nhiều bịnh. Một cuộc thử nghiệm lâm sàng với 40 phụ nữ bị viêm khớp (RA), tất cả đều giảm đau rất nhièu sau khi dùng 500 mg dầu hạt đen 2 lần một ngày trong 1 tháng (Gheita & Kenawy, 2012).
  6. Phụ trợ gồm enzyme huỷ đạm (proteolytic enzyme). Khi chổ nào bị thương thì cơ thể đưa chất đạm fibrin đến đó để tạo một tấm lưới bảo vệ cho platelets và hồng cầu làm xong công tác chữa lành nơi đó. Chữa lành xong thì cơ thể lại gởi enzyme huỷ đạm đến đó để dọn sạch fibrin và phục hồi tình trạng nguyên si trước đó. Khi cơ thể không đủ enzyme để huỷ fibrin thì fibrin tích luỹ thành sẹo cứng, cản trở mạch máu, gây trở ngại hoạt động bắp thịt và gây viêm mãn tính. Lượng enzymes huỷ đạm trong cơ thể giảm đi sau 25 tuổi là 1 trong những nguyên do có thể gây  viêm khớp (Cannone, 2011). Enzyme huỷ đạm như bromelain, rutin, papain có tác dụng giảm đau viêm khớp như các thuốc tây giảm đau nhưng có lợi thế hơn  là bảo vệ sụn khớp (Bolten et al, 2015; Nouza, 1994). Có thể tìm mua phụ trợ enzyme huỷ đạm bán trên internet như

“Doctor’s Best, Proteolytic Enzymes, 90 Enteric Coated Veggie Caps” với giá $US20 trên iherb.com (Iherb.com tương đối khá rẽ so với các tiệm khác, tính bằng tiền địa phương của người mua và tuỳ trường hợp có khi miễn cước phí). Phụ trợ này gôm bromelain, papain, amylase, rutin, lipase, neutral protease, bacterial protease, fungal protease và Serratiopeptidase.

Trong 10 người sử dụng thì có 8 người thấy phụ trợ này có công hiệu tuyệt vời. Dĩ nhiên loại phụ trợ này có thể không công hiệu cho những người bị viêm khớp thoái hoá.

  1. Cao gừng (ginger extract) được kiểm nghiệm có tác dụng giảm đau viêm khớp không thua gì steroid. Liều dùng trong nghiên cứu tương đương 3 gam gừng khô 2 lần một ngày (Arthritis Foundation 10)
  2. Dầu hột flax (Flax seed oil) chứa rất nhiều omega 3 nên có công hiệu chống viêm hữu hiệu và được công nhận là có hiệu quả giảm đau cho nhiều người bị viêm khớp. ( Arthritis Foundation 11 )
  3. Chondroitin sulfate và glucosamine có công hiệu giảm đau cho một số người bị viêm khớp thoái hoá nhưng trung bình không có hiệu quả bao nhiêu (Arthritis Foundation 12)
  4. MSM Methylsulfonylmethane là một hợp chất sulphur tự nhiên trong rau quả, mễ cốc và động vật. MSM có tác dụng giúp giảm đau và viêm cho tất cả 50 người tham gia1 thử nghiệm lâm sàng. Liều dùng từ 1 g đến 3 g mỗi ngày. (Arthritis Foundation 13)

Phụ trơ tổng hợp tên Flexitrinol chứa vitamin C, dầu hột flax, dầu cá, vitamin E, boron, dầu Eneming Primrose, chondroitin sulfate, MSM và Glucosamine được đánh giá là phụ trợ trị đau viêm khớp hữu hiệu nhất. (Richard, dietsinreview 2016)

Xin lưu ý: Bài viết tóm tắt trên đây chỉ có mục đích thông tin để giúp quý bạn nắm vững hơn tình hình khi lấy quyết định liên quan đến sức khoẻ mình. Bài viết này không thay thế nhu cầu tham khảo ý kiến y sĩ chăm sóc sức khoẻ của quý bạn.

 

Tham khảo:

Beri, D., Malaviya, A.M., Shandilya, R. & Singh, R.R. (1988) Effect of dietary restrictions on disease activity in rheumatoid arthritis. Ann Rheum Dis. 1988 Jan; 47(1): 69–72

Bolten, W. W. et al (2015). The Safety and Efficacy of an Enzyme Combination in Managing Knee Osteoarthritis Pain in Adults: A Randomized, Double-Blind, Placebo-Controlled Trial. Arthritis. 2015; 2015: 251521.  doi:  10.1155/2015/251521

Campbell, A.W. (2014) Autoimmunity and the Gut . Autoimmune Dis. 2014; doi:  10.1155/2014/152428

Cannone, J. (2011) What Is Fibrin – And What to Do About It Now to Relieve Pain & Improve Health. The Healthy Back Institute. URL: https://www.losethebackpain.com/what-is-fibrin/

Christakos, S. et al. Vitamin D and Intestinal Calcium Absorption. Mol Cell Endocrinol. 2011 Dec 5: 347(1-2): 25-29.  doi:  10.1016/j.mce.2011.05.038

Daily, J.W., Yang, M. & Park, S. Efficacy of Turmeric Extracts and Curcumin for Alleviating the Symptoms of Joint Arthritis: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Clinical Trials. J Med Food. 2016 Aug 1; 19(8): 717–729. doi:  10.1089/jmf.2016.3705

Dr Axe (2017) Leaky Gut treatment. https://draxe.com/leaky-gut-diet-treatment/.

Fasano, A. Leaky gut and autoimmune diseases. Clin Rev Allergy Immunol. 2012 Feb;42(1):71-8. doi: 10.1007/s12016-011-8291-x.

Hyman, M. (2016) Why oil is bad for you. http://drhyman.com/blog/2016/01/29/why-oil-is-bad-for-you/

Fassa, P. (2017) Coconut Oil Proven Beneficial for Healing Rheumatoid Arthritis and Other Autoimmune Diseases. Health Impact News. November 3, 2017 URL: http://coconutoil.com/coconut-oil-proven-beneficial-for-healing-rheumatoid-arthritis-and-other-autoimmune-diseases/

Franziska Spritzler (2017) 6 foods that cause inflammation. https://www.healthline.com/nutrition/6-foods-that-cause-inflammation#section1

Gheita, T.A. & Kenawy, S.A. Effectiveness of Nigella sativa oil in the management of rheumatoid arthritis patients: a placebo controlled study. Phytother Res. 2012 Aug;26(8):1246-8. doi: 10.1002/ptr.3679.

Greger, M. (2012). Dead Meat Bacteria Endotoxemia. NutritionFacts.org

Helme, J. (2015). The Promise of Probiotics for Arthritis. Foods and supplements with these “good bacteria” may prove to help arthritis and overall health. Arthritis Foundation. URL: http://www.arthritis.org/living-with-arthritis/arthritis-diet/healthy-eating/guide-to-probiotics.php

Jacob, A. (2013) Gut Health and Autoimmune Disease — Research Suggests Digestive Abnormalities May Be the Underlying Cause. Today’s Dietitian Vol. 15 No 2 P. 38

Kearney, T.W. et al (2015) Manipulation of Host Diet To Reduce Gastrointestinal Colonization by the Opportunistic Pathogen Candida albicans. American Society for Microbiology. DOI: 10.1128/mSphere.00020-15

Kjeldsen-Kragh, J. Rheumatoid arthritis treated with vegetarian diets. Am J Clin Nutr . September 1999 vol. 70 no. 3 594s-600s. http://ajcn.nutrition.org/content/70/3/594s.full#fn-1

Kris Gunnars (2013) . 6 reasons why vegetable oils are toxic. https://www.healthline.com/nutrition/6-reasons-why-vegetable-oils-are-toxic#section1

Longo, V.D. & Mattson, M.P. Fasting: Molecular Mechanisms and Clinical Applications. Cell Metab. 2014 February 4; 19(2): 181-192. doi:10.1016/j.cmet.2013.12.008

Mielands, H. Veys, E.M., Cuvelier, C. & De Vos, M. Course of gut inflammation in spondylarthropathies and therapeutic consequences. Baillieres Clin Rheumatol. 1996 Feb;10(1):147-64.

Minich, D. (2017) What you need to know about a high-fat diet. Huffpost. https://www.huffingtonpost.com/entry/what-you-need-to-know-about-a-high-fat-diet_us_595f22c4e4b0cf3c8e8d57b0

Muedin, L. (2013). Candida. Intelligent Medicine. http://drhoffman.com/article/candida/

Myers, A. (2015). The Autoimmune Solution. New York, New York: HarperCollins Publications.

Nouza, K. (1994). Outlooks of systemic enzyme therapy in rheumatoid arthritis and other immunopathological diseases. Acta Univ Carol Med (Praha). 1994;40(1-4):101-4.

Pavan, R., Jain, S., Shraddha & Kumar, A. Properties and Therapeutic Application of Bromelain: A Review. Biotechnol Res Int. 2012; 2012: 976203. doi:  10.1155/2012/976203

Nutraceutical World (2013). Association: Magnesium Essential to Absorption of Vitamin D & Calcium. URL: https://www.nutraceuticalsworld.com/contents/view_breaking-news/2013-03-07/association-magnesium-essential-to-absorption-of-vitamin-d-calcium

Peltonen, R. et al (1997). Faecal microbial flora and disease activity in rheumatoid arthritis during a vegan diet. Br J Rheumatol. 1997 Jan;36(1):64-8. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/9117178

Punder, K. D. & Pruimboom, L. (2013) The Dietary Intake of Wheat and other Cereal Grains and Their Role in Inflammation. Nutrients. 2013 Mar; 5(3): 771–787. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3705319/ doi:  10.3390/nu5030771

Rath, L. (2015). The Connection Between Gluten And Arthritis. Arthritis Foundation. http://www.arthritis.org/living-with-arthritis/arthritis-diet/anti-inflammatory/gluten-free-diet.php

Ratheesh, M. et al (2017). Anti-inflammatory and antioxidant effect of Kerabala: a value-added ayurvedic formulation from virgin coconut oil inhibits pathogenesis in adjuvant-induced arthritis. Inflammopharmacology. 2017 Feb;25(1):41-53. doi: 10.1007/s10787-016-0298-8

Roubenoff, R. (n.d.). Safe food for gout. Arthritis Foundation.

Sayer Ji (2013) Eating Sesame Seeds Superior To Tylenol for Knee Arthritis. http://www.greenmedinfo.com/blog/eating-sesame-seeds-superior-tylenol-knee-arthritis

Sundqvist, T. et al (1982) Influence of fasting on intestinal permeability and disease activity in patients with rheumatoid arthritis. Scand J Rheumatol; 11(1):33-8. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/7063809

Walter Last (1). ARTHRITIS AND RHEUMATISM. A Holistic Therapy. http://www.health-science-spirit.com/arthritis.html

Walter Last (2). The Borax Conspiracy. How the Arthritis Cure has been stopped. http://www.health-science-spirit.com/borax.htm

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhịn ăn là cách giúp cơ thể tẩy độc và chữa bịnh mãn tính cách tuyệt vời mà không tốn tiền

Tóm lược: Nhịn ăn là biện pháp được các tôn giáo sử dụng từ thuở xa xưa để tịnh dưỡng cơ thể và bồi dưỡng tâm linh. Lợi ích của sự nhịn ăn đối với sức khoẻ được lưu ý hàng ngàn năm nhưng gần đây hầu như bị thất truyền. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học gần đây đã xác nhận là nhịn ăn rất có lợi cho sức khoẻ, không những giúp cơ thể tẩy độc hữu hiệu mà còn giúp hồi xuân, lấy lại nhạy ứng với insulin, cải thiện hệ miễn nhiễm, phòng chống bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, thoái hoá thần kinh, viêm khớp kinh niên, ung thư, mập mỡ, cao mỡ và cholesterol và những bệnh “miễn nhiễm tự tác” (auto immune disease). Dầu vậy các lợi ích đó chỉ được duy trì bằng chế độ ăn uống lành mạnh sau đó. Nhịn ăn là việc ai cũng làm được mặc dầu ngày đầu phải chống chọi cơn đói. Nhịn ăn đứt khoảng mỗi ngày 16-18 tiếng đồng hồ trong vài ba tuần cũng có hiệu quả như nhịn ăn liên tục 10 ngày. Xen kẻ cứ một ngày nhịn ăn với một ngày ăn bình thường trong 3-4 tuần cũng có hiệu quả như vậy. Dùng chế độ ăn uống bắt chước nhịn ăn trong 5 ngày cũng có hiệu quả làm chậm già và tăng tuổi thọ nếu không dám  nhịn ăn. Nhịn ăn không phải một lần là đủ nhưng cần lập lại hàng năm hoặc hằng tháng, hoặc hằng tuần tuỳ theo thời gian nhịn ăn dài hay ngắn. Nhịn ăn không an toàn cho phụ nữ mang thai, mẹ đang cho con bú, trẻ em và người gầy ốm. Những người bịnh (nhất là bịnh tiểu đường) nên hỏi ý kiến và nhờ bác sĩ theo dõi trong thời gian nhịn ăn. Quan trọng là sau khi nhịn ăn, chế độ ăn uống phải lành mạnh thì hiệu quả mới vững bền. Nghĩa là cần ăn rau quả nhiều, bớt ăn thịt, tránh đường và thức ăn chế biến, nhất là thức ăn làm bằng bột trắng.

Sơ lược lịch sử nhịn ăn

Nhịn ăn được sử dụng hàng ngàn năm nay để thân thể nghỉ ngơi tạo điều kiện thích hợp cho sự cầu nguyện và thăng tiến tâm linh. Lợi ích của việc nhịn ăn đối với sức khoẻ không được nói đến trong Kinh thánh và sách tôn giáo khác nhưng đã được lưu ý từ ngàn năm nay. Từ 400 trước công nguyên Hippocrates, cha đẻ y học tây phương, đã nói: ” Ăn khi bịnh là nuôi bịnh”. Plutarch, một triết gia và học giả Hy lạp đầu thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, cũng khuyên: “Thay vì uống thuốc thì nhịn ăn một ngày” (greekmedicine.net). Dầu vậy từ gần nữa thế kỹ nay nhịn ăn không được phổ biến như một biện pháp chữa bịnh. Trái lại chúng ta thường nghĩ rằng khi bịnh thì cơ thề cần nhiều chất dinh dưỡng hơn để chống bịnh và mau phục hồi. Vì vậy chúng ta thường cố ăn, và ép con cháu mình ăn khi bịnh mặc dầu cơ thể đã cảnh báo là không nên ăn khi bịnh bằng cách làm cho cơ thể mất cảm giác thèm ăn và có khi phải nôn ói sau khi ăn. Ngoài ra nhịn ăn trị bịnh đi ngược chiêu bài quảng cáo của các công ty thực phẩm và dược phẩm (Fung & Moore, 2016)

Kết quả nghiên cứu về nhịn ăn:

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học gần đây đã xác nhận nhịn ăn rất có lợi cho sức khoẻ. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhịn ăn tạo điều kiện cho tế bào cơ thể giảm thiệt hại của diễn trình oxy hoá và viêm, tối ưu hoá diễn trình chuyển hoá năng lượng, và tăng cường hệ đề kháng. Thử nghiệm cho thấy nhịn ăn giúp bảo vệ thú vật tránh bệnh tiểu đường, ung thư, tim mạch và thoái hoá thần kinh, sống lâu hơn. Trong khi đó nhịn ăn giúp người giảm mập phì, cao huyết áp, suyển, phong thấp / thấp khớp, làm chậm tiến trình lão hoá , những bịnh mãn tính (Longo & Mattson, 2014) và giảm cơ nguy ung thư (Varady & Hellerstein, 2011).

Nhịn ăn không chữa bịnh nhưng tạo điều kiện cho cơ thể dễ dàng thu gom và loại bỏ tất cả những chất thải từ qui trình chuyển hoá, là chất độc gây bịnh mà cơ thể chưa có dịp loại bỏ vì quá bận rộn chuyển hoá thức ăn mỗi ngày. Nói cách khác nhịn ăn là tạo cho cơ thể cơ hội loại bỏ ra ngoài chứng ngại vật cản trở sự chữa lành. Khi có cơ hội này cơ thể tự chữa lành rất nhanh. (Gustafson & Goldhamer, 2014).

 Những thay đổi trong cơ thể khi nhịn ăn:

Cách đáp ứng nhu cầu năng lượng.

Khi ăn chúng ta thu nhiều năng lượng hơn cần dùng ngay lúc đó. Cơ thể sản xuất hoc môn insulin để đưa năng lượng từ chất đạm (protein) và chất ngọt (carbohydates) vào tế bào và kho tồn trữ. Kho tồn trữ thứ nhất là kho đường glucogen trong gan. Kho này có khả năng giới hạn. Khi gan không còn chổ chứa glucogen nữa thì năng lượng dư thừa được gan biến thành mỡ (triglycerides), một phần chứa trong gan và còn lại thành lớp mỡ trên người.

Khi nhịn ăn, mức insulin giảm đi, báo hiệu cơ thể bắt đầu phải dùng năng lượng trong kho, trước hết là kho đường glucogen rồi đến kho mỡ. Kho glucogen trong gan thường đủ để dùng khoảng 24 tiếng đồng hồ. Sau khi dùng hết glucogen thì gan bắt đầu chế đường từ chất đạm. Giai đoạn này gọi là “chế đường mới” (Gluconeogenesis) diễn ra từ 24 đến 48 tiếng đồng hồ sau khi nhịn ăn. Từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3 sau khi nhịn ăn, mức insulin thấp thúc đẩy diển trình phân hoá chất mỡ (lipolysis) thành axít mỡ và glycerol. Glycerol được dùng để chế đường từ mỡ còn axit mỡ thì được hầu hết tế bào cơ thể dùng làm năng lượng. Cơ thể cũng dùng axit mỡ để sản xuất vật thể ketone cho não bộ sử dụng làm nguồn năng lượng. Sau 4 ngày nhịn ăn thì vât thể ketone cung cấp 75 % năng lượng cho não bộ. Nhịn ăn tăng hoc môn phát triển (Human growth hormone) nên cơ bắp và mô tế bào không có mỡ (lean tissues) được bảo toàn chứ không bị teo (Cahill, 2006 trích dẫn trong Fung & Moore, 2016).

 Cải thiện hệ miễn nhiễm

Nhịn ăn tăng khả năng cho hệ miễn nhiễm  kiểm soát  tín hiệu gây viêm (inflammatory cytokines) và dị ứng (Faris et al; Vasconcelos et al; Aksungar, Topkaya &Akyildiz ; Kohno, Kouda et al; trích dẫn trong Jockers, 2016).

 Kích thích diễn trình tự dọn sạch tế bào (cellular autophagy). Nhịn ăn tạo điều kiện kích thích cơ thể phân huỷ các tế bào già, hư hại và các tế bào phát triển bất thường để tái sử dụng sản xuất năng lượng. Nhịn ăn vì thế ngăn cản nhiễm khuẩn và sự lây lan ký sinh trùng nội bào. Nó giúp cơ thể loại trừ mầm gây bịnh từ bên trong tế bào cũng như sự phát triển bất thường của tế bào ung thư (Jockers, n.d.) Diễn trình này cũng giúp bảo vệ tế bào não và tế bào mô tránh phát triển bất thường, nhiễm độc và viêm mãn tính (Alirezaei at al, 2010).

 Cải thiện cơ chế chữa lành gen:

Kết quả các cuộc thử nghiệm chứng tỏ các tế bào sống lâu hơn khi thiếu thức ăn và đói. Nhịn ăn vì vậy làm tăng diễn trình hồi xuân tế bào qua một số cơ chế chữa lành gen vì sửa chữa tốn ít năng lượng hơn là tạo tế bào mới. Khi không có thức ăn nhiều, cơ thể bảo tồn năng lượng bằng cách giảm việc phân chia tế bào. Tình trạng này ngăn cản không cho tế bào ung thư lan rộng. Hoc môn chủ yếu kiểm soát công tác sữa chữa tế bào này là hoc môn phát triển nhân thể (HGH – Human growth Hormone) (Jockers, n.d.) Nhịn ăn kích thích cơ thể sản suất hoc môn HGH. Một nghiên cứu thử nghiệm năm 1992 cho thấy mức HGH hoc môn tăng gấp 5 lần sau 2 ngày nhịn ăn (Fung & Moore, 2016). Mức hoc môn phát triển này thấp thì cơ thể chóng già. Ngược lại nhịn ăn làm tăng nhiều HGH sẽ làm cơ thể chậm già. Tăng mức HGH hoc mon cũng kích thích cơ thể dùng mỡ làm năng lượng, do đó vừa giảm mỡ vừa ổn định mức đường trong máu (Fung & Moore, 2016).

 Giảm lượng hoc môn insulin và tăng nhạy ứng insulin

Trong giai đoạn đầu nhịn ăn, lượng đường và insulin trong máu giảm nhưng vẫn nằm trong tầm mức bình thường nhờ sử dụng kho đường glucogen và diễn biến “tạo đường mới”. Sau khi dùng hết kho đường glucogen thì cơ thể chuyển sang dùng mỡ làm nhiên liệu. Nhịn ăn càng lâu thì mức insulin càng giảm nhiều. Mức insulin thấp thường xuyên sẽ làm cho cơ thể nhạy ứng hơn với insulin. Khi cơ thể nhạy ứng với insulin thì sẽ không cần nhiều insulin khi chúng ta ăn. Giảm nhu cầu insulin giúp cho cơ thể giảm tình trạng viêm nhiệt và tăng lượng hoc môn phát triển HGH. Tình trạng đối nghich là khi cơ thể không còn nhạy ứng với insulin, gọi là tình trạng “đề kháng insulin”. Khi cơ thể ở trong tình trạng ” đề kháng insulin” cao thì sinh ra nhiều vấn đề, trước hết là chứng tiểu đường kế đến là bịnh tim mạch, tai biến mãch máu não, bịnh mất trí nhớ Alzheimers, cao cholesterol, cao huyết áp, mập phì vùng bụng (abdominal obesisty), gan mỡ (fatty liver), hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome), bịnh gút, xơ vữa động mạch (atherosclerosis), bịnh trào hơi lên thực quản (gastroesophageal reflux) và ung thư (Fung & Moore, 2016). Vì vậy nhịn ăn có thể giúp cải thiện sức khoẻ toàn diện bằng cách giúp cơ thể tăng tình trạng nhạy ứng insulin.

Nhịn ăn cải thiện triệu chứng bịnh “miễn nhiễm tự hại” (auto immune disease) như systemic lupus (ban đỏ khắp thân), viêm khớp kinh niên (rheumatoid arthritis), viêm đại tràng (colitis) va bịnh viêm đường ruột (Crohn’s disease) (Varady & Hellerstein, 2007).

Phòng chống hữu hiệu ung thư tiền liệt tuyến (prostrate cancer) và ung thư vú vì nhịn ăn làm cho các tế bào ung thư chết đói chỉ chờ huỷ diệt (Buschemeyer et al, 2010; Rogozina et al, 2013).

Giúp phòng và trị bịnh tiểu đường. Mặc dầu chưa có thử nghiệm lâm sàng lớn để xác định công hiệu của việc nhịn ăn đối với bịnh tiểu đường, một số nghiên cứu và bằng chứng lâm sàng cho thấy nhịn ăn giúp nhiều người bị tiểu đường giảm lượng đường trong máu xuống mức bình thường mà không cần thuốc nữa. Một cuộc nghiên cứu quan sát cho thấy bệnh nhân tiểu đường khi nhịn ăn nên được bác sĩ theo dõi điều chỉnh liều thuốc uống và chế độ ăn uống để tránh tình trạng mức đường trong máu xuống quá thấp (hypoglycaemia) hoặc lên quá cao (hyperglycaemia) (Noon et al, 2016).

Bác sĩ Jason Fung, chuyên khoa về thận, sau một thời gian hành nghề nhận thấy thuốc tây không chữa được bệnh thận vì bệnh thận chủ yếu phát sinh từ tiểu đường. Bệnh tiểu đường lại bắt nguồn từ chế độ ăn uống. Chuyển qua nghiên cứu chế độ ăn uống trị tiểu đường , BS Fung khám phá nhịn ăn là cách tốt nhất để chữa bịnh tiểu đường, bệnh mập phì (thường đi đôi với tiẻu đường) và bệnh thận. Qua chương trình Quản lý ăn uống cao độ (intensive dietary management) BD Fung đã giúp bệnh nhân tiểu đường không còn bị tiểu đường nữa sau vài tháng nhịn ăn đứt khoảng và điều chỉnh chế độ ăn uống. Những bịnh nhân suy thận cũng trở lại bình thường (Fung & Moore, 2016; IDM testimonials).

Nhịn ăn giảm huyết áp cho những người cao huyết áp.

Thực nghiệm lâm sàng tại một trung tâm y tế ở California cho thấy các bịnh nhân cao huyết áp (174 người) và tiền cao huyết áp (68 người) giảm huyết áp đến độ không còn cần uống thuốc huyết áp nữa sau khi được chữa trị bằng nhịn ăn chỉ uống nước. Thời gian chữa trị trung bình kéo 22-23 ngày, gồm 2-3 ngày chuẩn bị chỉ ăn uống rau quả, 10-13 ngày nhịn ăn và 6-7 ngày ăn lại chủ yếu rau quả, ít mỡ và ít muối. Huyết áp ban đầu càng cao thì càng giảm nhiều. Nhóm người có huyết áp trên 180/110 mmHg thì trung bình huyết áp giảm đi 60/17 mmHg và tiếp tục cải thiện sau khi chữa trị (Goldhamer et al, 2001; Goldhamer et al, 2002).

Nhịn ăn cải thiện trí nhớ, tăng khả năng chú tâm và làm tinh thần sáng suốt.

Chưa có cuộc nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng nào được thực hiện để đo lường lợi ích của việc nhịn ăn đối với những người bị suy sụp trí nhớ (Alzheimer’s). Tuy nhiên thử nghiệm trên động vật cho thấy nhịn ăn giúp chúng cải thiện trí nhớ, khả năng học hỏi, và điều hợp động tác. Nhịn ăn đứt khoảng cũng giảm tình trạng thoái hoá thần kinh và các triệu chứng bịnh Alzheimer’s, Parkinson’s và Huntington’s (bịnh chết tế bào não) cho những thú vật trong những cuộc nghiên cứu này (Longo & Mattson, 2014). Những người đã nhịn ăn cũng xác nhận đầu óc họ nhẹ nhàng hơn, tinh thần họ sáng suốt hơn, có thể chú tâm hơn và nhớ nhiều hơn (Fung & Moore, 2016).

Nhịn ăn giảm mỡ máu và cholesterol

Nhịn ăn sau vài ngày, cơ thể phải dùng mỡ làm nhiên liệu năng lượng. Kết quả là lượng mỡ và cholesterol trong máu sẽ giảm. Một cuộc thử nghiệm trên 10 người mập phì cho thấy sau khi nhịn ăn xen kẻ 8 tuần lễ, lượng cholestrol LDP (xấu) và mỡ (triglycerides) trong máu giảm 25% và 32% (Bhutani, Klempel, Berger & Varady, 2010).

 Nhịn ăn giảm đau viêm khớp mãn tính (rheumatoid arthritis)

Trong cuộc khảo sát kinh nghiệm của 742 người bị viêm khớp mãn tính do Haugen và đồng nghiệp thực hiện năm 1991, 15 phần trăm bệnh nhân trải qua một lần nhịn ăn. 2 phần 3 trong số người này báo cáo là họ bớt đau, bớt cứng khớp và 50 % báo cáo là khớp xương bớt sưng.

Sau khi đọc báo cáo đó, Cô Diana, một bệnh nhân bị viêm thấp khớp nhiều năm, nghiên cứu tác dụng của biện pháp nhịn ăn và áp dụng 11 ngày nhịn ăn chỉ uống nước rau quả. Cô giữ nhật ký và ghi lại rằng từ ngày thứ 3 cô thấy bàn chân trái bớt sưng, và lần đầu tiên sau nhiều năm cô có thể đi bộ xa hơn. Từ ngày thứ tư cô hết thèm ăn, nhưng thấy dồi dào sức hơn, bắt đầu muốn bỏ ra vài ngày rong chơi. Cảm giác đau, sưng, viêm đều giảm đi. Sau 11 ngày cô không còn thấy đau đớn như trước nữa. Trái lại cô cảm thấy thật là khoẻ khoắn với tinh thần minh mẫn, tự tin và có thể tập trung khi cần. (Nhật ký của Diana).

Nhịn ăn như thế nào

Nhịn ăn là tự nguyện không ăn gì cả. Ngày nào chúng ta cũng nhịn ăn khi ngủ. Tuy nhiên, nhịn ăn chỉ uống nước vì lý do sức khoẻ thường từ 16 giờ tới cả tháng trong khung cảnh ngơi nghỉ. Ba cách nhịn ăn thông thường nhất là nhịn ăn đứt khoảng (intermittent fasting), nhịn ăn xen kẻ (alternate-day fasting) và nhịn ăn liên tục (block fasting) từ 1 ngày đến 40 ngày hoặc dài hơn.

Nhịn ăn đứt khoảng là nhịn ăn chỉ uống nước lọc mỗi ngày 16-23 tiếng đồng hồ, rồi ăn lại bình thường nhưng đầy chất bổ dưỡng và lành mạnh trong 1-8 tiếng đồng hồ còn lại. Phương pháp nhịn ăn này dễ thực hiện, có thể tuần nào cũng nhịn ăn đứt khoảng 2-3 ngày hoặc ngày nào cũng nhịn ăn như vậy trong nhiều tuần. Phương pháp này cho cơ thể thì giờ thực hiện chức năng tẩy độc và chữa bịnh khoảng 4-11 tiếng đồng hồ 1 ngày.

Nhịn ăn xen kẻ là nhịn ăn một ngày 24 giờ rồi ăn lại một ngày 24 tiếng và có thể kéo dài theo ý muốn.

Nhịn ăn liên tục thường kéo dài ít nhất 3 ngày và có nhiều người kéo dài nhịn ăn đến 40 ngày hoặc hơn.

Thay vì chỉ uống nước khi nhịn ăn, nhiều người thay thế nước bằng nước rau quả hay nước xương (bone broth). Cũng có người dùng chế độ ăn uống bắt chước nhịn ăn (fasting mimicking diet) trong thời gian nhịn ăn. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống này cũng có hiệu quả giống như nhịn ăn thật sự, nhất là thích hợp cho người già và những người sợ cảm giác đói (Mercola, 2017). Chế độ ăn uống này dùng nhiều dầu mỡ tốt và giới hạn lượng đạm và đường và kéo dài 5 ngày. Ngày thứ nhất cho phép 1.090 calories gồm 10% đạm, 56% dầu mỡ, và 44% hy drat cac bon (carbohydrate). Ngày thứ 2 đến thứ 7 giới hạn 725 calories gồm 9% đạm, 44 % dầu mỡ và 47% carbohydrate (Knapton, 2017).

Thận trọng cần có:

Vì nhịn ăn có thể không an toàn trong nhiều trường hợp, lời khuyên của các chuyên gia về nhịn ăn là trước khi nhịn ăn, chúng ta cần hỏi ý kiến, hay báo cho bác sĩ để họ theo dõi và giúp chúng ta khi có vấn để được an toàn. Và nhịn ăn không an toàn cho phụ nữ có thai, những người mẹ đang cho con bú, người gầy ốm và trẻ em.

Cần lưu ý là nhịn ăn không phải chỉ giúp cơ thể chữa lành bịnh và hồi xuân mà còn cần thiết để phòng chống bịnh tật và duy trì sức khoẻ. Vì thế cần nhịn ăn đều đặn hằng năm, hoặc mỗi sáu tháng hoặc mỗi ba tháng, hoặc mỗi tháng hoặc mỗi tuần tùy theo thời gian nhịn ăn. Chẵng hạn, nếu chỉ nhịn ăn 1 ngày 24 tiếng thì có thể mỗi tuần nhịn ăn một ngày. Chu kỳ này rất hợp với lời dạy trong Kinh thánh là chỉ nên làm việc 6 ngày rồi nghỉ ngơi hoàn toàn 1 ngày để hướng về Thiên Chúa và cầu nguyện nhận linh lực từ Thiên Chúa.

Xin lưu ý: Bài viết này có mục đích duy nhất là cung cấp thông tin giúp quý bạn nắm vững thông tin để cân nhắc trước khi lấy những quyết định liên quan đến sức khoẻ mình và vì vậy không thay thế ý kiến và sự chĩ dẫn của những y sĩ chăm sóc quý bạn.

 

Tham khảo:

Alirezaei, M., Kemball. C.C. et al Short term fasting induces profound neuronal autophagy. Autophagy. 2010;6(6):702-710.

Bhutani, S., Klempel, M.C., Berger, R.A., & Varady, K.A. Improvements in coronary heart disease risk indicators by alternate-day fasting involve adipose tissue modulations. Obesity (Silver Spring). 2010 Nov;18(11):2152-9. doi: 10.1038/oby.2010.54. Epub 2010 Mar 18.

Buschemeyer, W. C., Klink, J. C., Mavropoulos, J.C., Poulton, S.H., Demark-Wahnefried, W., Hursting, S.D., Cohen, P., Hwang, D., Johnson, T.L., Freedland S.J. Effect of intermittent fasting with or without caloric restriction on prostate cancer growth and survival in SCID mice. Prostate. 2010 Jul 1;70(10):1037-43. PMID: 20166128

Cahill, G. F. Fuel Metabolism in Starvation. Annu. Rev. Nutr. 2006. 26:1–22 doi: 10.1146/annurev.nutr.26.061505.111258

Gustafson, G. & Goldhamer, A.: Water Fasting – The clinical Effectiveness of Rebooting Your Body. Integrative Moldhamertedicine. Vol. 13, No. 3- June 2014.

Goldhamer, A.C., Lisle, D.J., Sultana, O., Anderson, S.V., Parpia, B. Hughes, B. & Campbell, T.C. (2002). Medically Supervised Water-Only Fasting in the Treatment of Borderline Hypertension. The Journal of Alternative and Complementary Medicine. Volume 8, Number 5, 2002, pp. 643–650

Goldhamer, A., Lisle, D., Parpia, B., & Campbell, T.C. Medically supervised water-only fasting in the treatment of hypertension. J Manipulative Physiol Ther. 2001 Jun;24(5):335-9

Haugen M., Kjeldsen-Kragh, J.,  Nordvå, B.Y. Diet and disease symptoms in rheumatic diseases — Results of a questionnaire based survey. Clinical Rheumatology. December 1991, Volume 10, Issue 4, pp 401-407

Jockers, D. (n.d.) 5 Healing Benefits of Intermittent fasting. DrJockers.com URL: http://drjockers.com/5-healing-benefits-of-intermittent-fasting/

Knapton, S. Five day fasting diet slows down ageing and may add years to life. The Telegraph. 5 September 2017. http://www.telegraph.co.uk/news/science/science-news/11683736/Five-day-fasting-diet-slows-down-ageing-and-may-add-years-to-life.html

Longo, V.D. & Mattson, M.P. Fasting: Molecular Mechanisms and Clinical Applications. Cell Metab. 2014 February 4; 19(2): 181-192. doi:10.1016/j.cmet.2013.12.008

Mercola (2017). How a fasting mimicking diet can help you live longer. http://articles.mercola.com/sites/articles/archive/2017/07/23/fasting-mimicking-diet.aspx

Noon, M.J., Khawaja, H.A., et al. Fasting with diabetes: a prospective observational study. BMJ Global Health. DOI: 10.1136/bmjgh-2015-000009 Published 8 September 2016.

Omodei, D. & Fontana, L. Calorie restriction and prevention of age-associated chronic disease. FEBS Lett. 2011 Jun 6; 585(11): 1537–1542

Rogozina, O.P., Nkhata, K.J., Nagle, E.J., Grande, J.P., Cleary, M.P. The Protective Effect of Intermittent Calorie Restriction on Mammary Tumourgenesis is Not Compromised by Consumption of a High Fat Diet During Refeeding. Breast cancer research and treatment. 2013;138(2):395-406.

Varady, K. A. & Hellerstein, M. K. Alternate-day fasting and chronic disease prevention: a review of human and animal trials. Am J Clin Nutr 2007;86:7–13

 

 

 

 

 

 

Chế độ ăn uống chống cao huyết áp

 

Tóm lược: Bịnh cao huyết áp làm cho hàng ngàn người chết mỗi ngày ở Mỹ. Xin đừng coi thường bệnh này và đừng hoàn toàn dựa vào thuốc trị huyết áp nhưng nên bổ sung bằng thức ăn và sinh hoạt lành mạnh. Có thể chống bệnh cao huyết áp bằng cách thay đổi chế độ ăn uống và sinh hoạt như  1. Giảm thiểu tiêu thụ muối, đường, cà phê, rượu bia; 2. Tạo nhiều thời gian không căng thẳng; 3. Tăng tiêu thụ rau quả tươi đủ loại, hành, tỏi, hạt flax seed, hạt có dầu, nước dừa,  yến mạch, dầu mè, sô cô la đen; và 4. Bồi dưỡng CoQ10, magnesium và dầu cá.

Cao huyết áp làm chết rất nhiều người:

Y khoa ngày càng tiến bộ nhưng càng ngày càng nhiều người bị bệnh cao huyết áp và chết vì cao huyết áp. Theo trung tâm Kiểm soát và phòng bệnh của Hoa kỳ (Centres for Disease Control and Prevention – CDC), cứ 3 người lớn ở Mỹ thì có 1 người – tức là có tất cả 75 triệu dân Mỹ trên 18 tuổi – bị bệnh cao huyết áp. Trong năm 2013 có 360 ngàn người chết ở Mỹ vì cao huyết áp – tức là 1000 người chết chủ yếu vì cao huyết áp mỗi ngày. Cao huyết áp là nguyên nhân chính gây tử vong  qua triệu chứng nhồi máu cơ tim (heart attack), đột quỵ (stroke),  suy tim mãn tính (chronic heart failure) và suy thận (kidney disease). Hơn 70 % những người cao huyết áp dùng thuốc tây y chữa cao huyết áp, nhưng hơn có tới 54 % người không kiểm soát được huyết áp của mình. Các con số nói lên thực trạng là thuốc tây không trị được bịnh huyết áp cao. Hơn nữa, tuỳ theo loại thuốc sử dụng, người bịnh có thể bị nhức đầu, chóng mặt, sưng mắt cá chân, bón, triệu chứng cảm cúm, xây xẩm khi đúng dậy, đi tiểu thường hơn, mệt, lạnh tay chân (Cơ quan y tế quốc gia Anh – NHS)

Khi chúng ta có huyết áp tâm thu (systolic) nằm trong khoảng 120 – 139 mmHg hay huyết áp tâm trương (diastolic) trong khoảng 80-89 mmHg thì chúng ta ở trong tình trạng tiền cao huyết áp.

Khi huyết áp tâm thu cao hơn 139 hoặc huyết áp tâm trương cao hơn 89, chúng ta ở trong tình trạng cao huyết áp. Hai con số này cao hơn 159/99 là tình trạng đáng lo.

Biện pháp chống cao huyết áp.

Nghiên cứu lâm sàng cho thấy có thể giúp người bịnh cao huyết áp giảm huyết áp xuống mức an toàn bằng cách giảm tình trạnh căng thằng, tránh môi trường đôc hại, thay đổi chế độ ăn uống và dùng một số chất bổ sung dinh dưỡng cần thiết.

Tránh môi trường và thức ăn gây cao huyết áp

  1. Môi trường. Những ai sinh hoạt trong môi trường có nhiều chất chì có thể bị cao huyết áp. Sự kiện này được nêu lên trong chương trình nghiên cứu của Gutfield (1992) liên hệ đến nước sử dụng ở 130 thành phố ở Hoa kỳ. Những người ăn đồ ăn hộp nhiều hoặc làm việc trong ngành ráp ống nước, sản xuất kính, plastic, xây dựng có thể bị ảnh hưởng của chì.

Cadmium trong nước uống cũng có thể làm tăng huyết áp. Môt trường làm việc trong hãng sản xuất plastic, pin, dệt vải , và phân bón cũng có nhiều cadmium làm tăng huyết áp. Những người cao huyết áp ở trong môi trường như vậy nếu được y sĩ giúp tẩy độc chì và cadmium thì có thể giảm huyết áp.

  1. Căng thẳng tinh thần, tình cảm… không trực tiếp gây bịnh cao huyết áp nhưng tình trạng căng thẳng làm tăng huyết áp. Nếu kéo dài hoặc xãy ra thường xuyên, sự căng thẳng sẽ gây nên bịnh cao huyết áp (KulkarniO’FarrellErasiKochar, 1998). 

Những thức ăn cần giảm:

Những thức ăn có thể gây cao huyết áp nên tránh hay giảm tiêu thụ gồm muối, đường, cà phê, rượu bia và thức ăn gây dị ứng.

Muối. Ăn nhiều muối có nguy cơ làm cao huyết áp. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Laragh & Pecker (1983) thì chỉ 30-50 % bệnh nhân cao huyết áp nhạy cảm với lượng muối tiêu thụ. Đối với số người còn lại thì giảm tiêu thụ muối cũng không giảm huyết áp. Ngược lại giới hạn ăn muối quá khe khắt có thể có ảnh hưởng tai hại như làm mất sức và tình trạng đề kháng insulin gây tiểu đường.

Đường : Ăn nhiều đường thường tăng huyết áp. Nhiều nghiên cứu cho thấy một khi số calori của lượng đường (sucrose) tiêu thụ cao hơn 10% tổng lượng calori hấp thụ, huyết áp tâm trương (diastolic) lên cao đáng kể (Gaby, 2017). Giảm mức tiêu thụ đường, sản phẩm chế biến kể cả chất bột, và trái cây ngọt như chuối, xoài, dứa có thể giúp chúng ta giảm huyết áp.

Cà phê thường có ảnh hưởng không đáng kể trên huyết áp. Nhưng uống nhiều quá (hơn tách 1 ngày) có thể gây bịnh cao huyết áp. Bác sĩ Gaby ghi lại trường hợp 1 bệnh nhân bị cao huyết áp hơn 10 năm mặc dầu đã dùng 2 loại thuốc giảm huyết áp. Khi khám phá ra là anh ta uống 10-20 tách cà phê 1 ngày. Bác sĩ Gaby , tác giả sách “Y học dinh dưỡng” (Nutritional Medicine) yêu cầu anh ta ngưng uống cà phê. Sau 3 tuần huyết áp anh ta không cần uống thuốc nữa mà huyết áp trở lại bình thường.

Rượu bia: Nghiên cứu cho thấy những người cao huyết áp mà uống nhiều rượu nếu ngừng hoặc giảm lượng rượu tiêu thụ một cách đáng kể thì huyết áp giảm đáng kể.

Thức ăn gây dị ứng: một vài nghiên cứu cho thấy thức ăn gây dị ứng là một trong những yếu tố gây cao huyết áp cho một số người. Trong các cuộc nghiên cứu đó, nhiều người có huyết áp trở lại bình thường mà không cần thuốc huyết áp sau nhiều năm bị cao huyết áp nhờ tìm ra và ngưng tiêu thụ thức ăn gây dị ứng (Gay được đề cập trong sách của Dr Gaby)

– Dầu thực vật nấu ăn: Theo tài liệu nghiên cứu ở Spain, sử dụng dầu thực vật có nhiều polyunsaturated fat như dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu bắp ngô.. thường bị cao huyết áp hơn không dùng. Nếu phải chiên xào thì dầu dừa là an toàn nhất.

Những thức ăn và chế độ ăn uống giúp giảm huyết áp cách tự nhiên:

Chế độ ăn uống DASH (Biện pháp ăn uống ngưng chận cao huyết áp- Dietary Approach to Stop Hypertension) qua nhiều thử nghiệm lâm sàng chứng tỏ có công hiệu giảm huyết áp. Trong cuộc thử nghiệm với 459 bệnh nhân cao huyết áp , chế độ DASH giảm 11 mmHg huyết áp tâm thu và 5.5 mmHg huyết áp tâm trương sau 8 tuần. Chế độ ăn uống DASH gồm thật nhiều rau quả, một lượng hạt có dầu, hạt và đậu vừa phải, ít thực phẩm từ sữa bò, ít mỡ bảo hoà và ít tổng lượng dầu mỡ.

Chế độ ăn uống Địa Trung Hải: chủ yếu gồm rau quả, đậu, ngũ cốc, cá, dầu ô liu, ít thịt, ít sản phẩm từ sữa bò. Kết quả nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống này không giảm huyết áp nhiều bằng chế độ DASH nhưng có nhiều ích lợi khác cho bệnh tim mạch như giảm đường, giảm cholesterol trong máu.

Chỉ ăn rau quả. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy ai chỉ ăn rau quả thì ít bị cao huyết áp hơn là có ăn thịt. Ăn rau quả làm giảm huyết áp cho mọi người: người cao huyết áp lẫn người có huyết áp bình thường. (Tôi không dùng từ ăn chay vì thức ăn chay không có sản phẩm từ đông vật nhưng có thể có nhiều hoá chất làm cho thức ăn chay có vị giống thức ăn có thịt, rất độc hại)

Rau quả tươi sống: Kết quả nghiên cứu thử nghiệm cho thấy bệnh nhân cao huyết áp và nặng lý hơn trung bình (overweight) khi ăn ít nhất 40% thức ăn là rau quả sống thì huyết áp tâm trương giảm 17.5 mmHg sau 6-7 tháng. Huyết áp lên lại như cũ khi họ ăn trở lại thức ăn chín như trước (Douglass, Rasgon et al, 1985).

  •  Hành củ: 20 người cao huyết áp thử nghiệm dùng 15 phân khối nước cốt hành 2 hay 3 lần một ngày sau 2 tháng giảm trung bình 25 mmHg tâm thu và 15 mmHg tâm trương (Louira, McNally, Lasser et al, 1985). Vì vậy ăn nhiều hành, nhất là hành sống trong sà lách hay uống rượu đỏ ngâm hành đỏ có thể giúp giảm huyết áp rất công hiệu .

Tỏi cũng chứng tỏ giúp giảm huyết áp cho những người cao huyết áp trong 20 cuộc thử nghiệm tiêu chuẩn. Trung bình nó giúp giảm huyết áp tâm thu được 8.7 mmHg và huyết áp tâm trương được 6.1 mmHg (Riek, 2016).

Cháo yến mạch ( whole oats porridge) thêm vào thức ăn hằng ngày cho người cao huyết áp có tác dụng giảm huyết áp tâm thu rất đáng kể. Hơn 70 phần trăm số người ăn yến mạch có thể ngừng hoặc giảm 1/2 thuốc huyết áp (Pins, Geleva, Keeman et al, 2002).

Đậu nành: Nhiều cuộc thử nghiệm cho thấy chất đạm đậu nành hay sữa đậu nành – tiêu thụ vài lần 1 ngày – giúp giảm huyết áp những người cao huyết áp (Gaby, 2017).

Hạt flax (flaxseed): Tiêu thụ 30 gam flaxseed mỗi ngày đã giúp nhóm người cao huyết áp trong 1 cuộc nghiên cứu giảm 6-9 mmHg huyết áp (Rodriguez et al, 2013).

Dầu mè: Một cuộc thử nghiệm cho thấy ăn dầu mè (sống) sau 45 ngày giảm trung bình 10 mmHg huyết áp tâm thu và tâm trương (Gaby, 2017).

Sô cô la đen đậm: Mỗi ngày ăn chừng 6g sô cô la đen đậm có tác dụng hạ huyết áp đáng kể cho trường hợp cao huyết áp theo kết quả nghiên cứu thử nghiệm (Gaby, 2017).

– Nước dừa: Nước dừa chứa nhiều Potassium là chất có tác dụng giảm huyết áp (Alleyne et al, 2005). Nhưng nhiều potassium quá sẽ gây thiệt hại cho tim mạch, hạ huyết áp xuống dưới mức an toàn và có thể làm chết người. Trường hợp này xãy cho một người đàn ông 42 tuổi đang chơi tennis. Anh ta bị ngất, phải dùng xe cấp cứu vào vệnh viện vì anh ta uống 8 ly nước dừa trong ngày. Sau ba ngày nằm bệnh viện và nhờ máy điều hoà nhịp tim anh ta mới trở lại bình thường (UHN, 2017) . Chính vì vậy mà chỉ nên uống nước dừa chừng mực, vừa đủ ngay cả đối với người bị cao huyết áp – có thể 1-2 trái hay 1 lít một ngày uống làm nhiều lần. Nếu muốn cho chắc thì uống từ từ và theo dõi đo huyết áp khoảng 1 tiếng đồng hồ sau khi uống. Những ai có huyết áp thấp cần phải cẩn thận nhiều hơn. Theo kinh nghiệm của tôi là người có huyết áp thấp thì nên thêm 1 tí muối và nước dừa trước khi uống cho an toàn.

Chuối chứa nhiều potassium nên cũng giúp giảm huyết áp.

Cà chua chứa nhiều calcium, potassium, vitamin A, C và E và lycopene, là những chất có tác dụng giảm huyết áp.

Vitamin và chất dinh dưỡng phụ trợ:

Co-En-zim CoQ10: Kết quả nghiên cứu cho thấy những người cao huyết có mức CoQ10 trong máu thấp hơn người bình thường và khoảng một phần ba số người cao huyết áp thiếu CoQ10. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy huyết áp tâm thu của những người cao huyết áp ( trung bình 165 mmHg) chỉ còn 145 mmHg trung bình sau 12 tuần uống 60 mg CoQ10 hai lần một ngày (Burke, Nuenschwander & Olson 1999 trích dẩn trong Gaby, 2017).

Magnesium

Thiếu magnesium là một yếu tố gây nên bịnh cao huyết áp theo nghiên cứu của Resnick, Gupta và Laragh (1984). Thử nghiệm cho thấy phụ trợ magnesium có tác dụng giảm huyết áp cho nhiều người cao huyết áp. Magnesium cũng cần thiết cho sức khoẻ tim mà không có ảnh hưởng tai hại nào nên bác sĩ Gaby khuyên nên sử dụng khoảng 500 mg phụ trợ magnesium mỗi ngày. Thực phẩm có nhiều magnesium nhất gồm rau nhiều lá xanh đậm, trái bơ, hạt bì đỏ, cải spinach, rau biển, muối có màu hồng (pink salt), hạt có dầu (nuts), sô cô la đen, cá sống trong môi trường thiên nhiên (wild caught fish), cà phê.

Vitamin C là một chất chống oxy hoá rất mạnh nên có thể giảm cao huyết áp do các gốc tự do (free radicals) gây nên. Kết quả từ nhiều thử nghiệm cho thấy uống 500mg – 1000mg vitamin C trong 30 ngày có công hiệu giảm đáng kể huyết áp tâm thu (trung bình khoảng 13 mmHg) cho những nhóm người cao huyết áp (Gaby, 2017).

Dầu cá và dầu Omega 6 có tác dụng giảm độ nhớt trong máu nên có thể giúp giảm huyết áp chút ít theo kết quả thử nghiêm tác dụng của dầu cá và Omega 6 trên huyết áp.

 

Xin Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin để giúp quý bạn nắm vững tình hình hơn khi lấy quyết định liên quan đến sức khoẻ mình chứ không thay thế sự chỉ dẫn của y sĩ chăm sóc sức khoẻ của quý bạn. 

Tham khảo:

  1.  Alleyne ,T., Roache, S., Thomas, C. & Shirley, A. The control of hypertension by use of coconut water and mauby: two tropical food drinks [Abstract]. West Indian Med J.2005 Jan;54(1):3-8.
  2. Douglas, J.M, Rasgon, I.M. et al. Effects of a raw food diet on hypertension and obesity. South Med J 1985;78:841-844
  3. Gaby, A., R. Nutritional Medicine, 2nd Ed. 2017. Fritz Pelberg Publising Concord, NH
  4. Gutfield, R. Excessive lead found in water in many cities. Wall Street Journal 1992 (October 21):B7.
  5. Gay, L.P. Nonreaginic food allergy in the management of essential hypertension. J app Nutr 1959; 12(2):71-74
  6. Gay, L.P. Food allergy in internal medicine with special reference to paroxysmal tachycardia and essential hypertension. J App Nutr 1959;12(2)82-92
  7. Laragh, J.H. & Pecker, M.S. Dietary Sodium and Essential Hypertension: some myths, hopes, and truths. Ann Intern Med 1983;98:735-743
  8. Louira, D.B., McAnally, J.F., Lasser, N. et al. Onion extract in treatment of hypertension and hyperlipidemia: a preliminary communication. Curr Ther Res 1985;37:127-131
  9. Price, A.S. The role of allergy in hypertension: an experimental study. Rev Gastroenterol 1943;10:233-245
  10. Pins, J.J. Geleva, D., Keeman, J.M. et al. Do whole grain oats cereals reduce the need for hypertensive medications and improve blood pressure control? J Fam Pract 2002;51:353-359.
  11. Riek, K. Garlic lowers blood pressure in hyperintensive individuals, regulates serum cholesterol, and stimulates immunity: an updated meta-analysis and review. J Nutr Biochem 1998;9:415-419.
  12. Rodriguez-Leyva, D. et al. Potent antihypertensive action of dietary flaxseed in hypertensive patients. Hypertension 2013;62:1081-1089.
  13. UHN (2017). Coconut water disadvantages. University Health News May 2017.