Chỉ ăn thức ăn gốc thực vật không chế biến – có thể ngừa và trị được mọi thứ bệnh mãn tính.

Hiện nay hầu hết chuyên gia sức khoẻ thừa nhận tình trạng viêm lâu dài là nguyên nhân chính gây nên các bệnh mãn tính – từ cao huyết áp, ung thư, tiểu đường, suy tim đến suy trí nhớ. Ngày nào cũng ăn thịt, đường và thực phẩm chế biến hoăc ngày nào đầu óc, tình cảm cũng căng thẳng túi bụi thì tạo ra nhiều độc tố đưa đến chứng viêm trong cơ thể. Ăn nhiều quá – một tình trạng phổ biến nhất ở các xứ giàu có – càng làm tê hại hơn.
Các bác sĩ và chuyên gia y tế được phỏng vấn trong loạt video “Bí quyết y học tự nhiên” (Natural Health Secrets ) đồng ý rằng chế độ ăn uống thực phẩm gốc thực vật, ngủ nghỉ đủ và thể dục thích hợp là liệu pháp cơ bản chữa trị các bệnh mãn tính rất hữu hiệu.
Liệu pháp này tuy đơn giản nhưng không dễ thực hiện cho những ai đã quen với chế độ ăn uống nhiều thịt, nhiều đường, bánh ngọt, nước ngọt, nhiều dầu và đầu óc bận rộn cả ngày…

Nếu không thực hiện được đầy đủ từ đầu thì thay đổi từ từ sẽ dễ dàng hơn. Chúng ta có thể bắt đầu 1 ngày 1 tuần không ăn thịt cá, sữa bò… rồi từ từ tăng lên 2 ngày, 3 ngày , 4 ngày , 5 ngày 1 tuần. Cắt giảm được thịt cá, đường muối, bánh mì, bánh ngọt, nước ngọt mà tăng rau cải ngày nào thì giảm viêm trong người ngày đó, có thể làm khoẻ hơn, hoặc ít nhất không tệ hơn. Ăn càng thức ăn chống viêm nhiều hơn thức ăn gây viêm thì sức khoẻ tốt hơn và bịnh nếu có sẽ giảm nhanh hơn.
Sự hổ trợ trong gia đình cũng đóng vai trò then chốt giúp người bệnh. Nếu được mọi người cùng theo đuổi liệu pháp này để hổ trợ người thân trị bịnh và giúp mình ngừa bịnh thì kết quả sẽ đạt được nhanh chóng.

Sơ lược nguyên nhân gây viêm dài hạn.

Thực phẩm gốc động vật:
Thịt cá và sản phẩm gốc động vật nào cũng chứa nhiều vi sinh tiết ra nhiều độc tố (endotoxin). Ăn thịt sống hay chin đếu có nghĩa là ăn những độc tố đó. Mỡ bảo hoà trong thịt lại tăng lượng độc tố chuyển vào máu. Kết quả là tăng chứng viêm trong người (Greger, 2012). Vi sinh độc hại có sẵn trong cơ thể lại thích mội trường axit do thịt ăn vào tạo ra, nên ăn nhiều thịt mỡ sẽ làm vi sinh độc hại sinh sôi và tăng trưởng trong đường tiêu hoá, nâng cao mức lượng nội độc tố, gây thêm viêm đưa đến nhiều thứ bệnh (Minich D., 2017)

Thực phẩm chế biến:
Có nhiều người không ăn thịt hoặc ăn ít thịt nhưng ăn thực phầm chế biến nhiều đường và dầu thưc vật tinh chế (chứa quá nhiều omega 6) cũng bị nhiều chứng bịnh mãn tính kể cả tiểu đường, suy tim mạch, suy trí nhớ vì thực phẩm chế biến, đường, tinh bột và dầu thực vật tinh chế đều gây nên viêm.

Tình trạng căng thẳng
Sự căng thẳng tinh thần tình cảm lâu dài tăng mức hoc môn cortisol tới mức cơ thể không còn khả năng kiểm soát tình trạng viêm. Tình trạng viêm trong cơ thể cứ gia tăng, làm suy yêu hệ miễn nhiểm và gây ra nhiều bịnh mãn tính. (Carnegie Mellon University, 2012)

Thức ăn gốc thực vật không chế biến chống viêm:

Ngược lại thức ăn rau quả và hạt nguyên thô (whole), cùng với lối sống thư thái và khoan dung có ảnh hưởng chống viêm nên có thể chữa lành và ngăn ngừa các bịnh mãn tính.

Đúng vậy, không có cách nào giảm huyết áp hữu hiệu và nhanh bằng cách ngưng ăn thịt, thức ăn uống có sữa, trứng, đường, bột tinh chế và dầu tinh chế để chỉ ăn rau quả (đủ thứ màu) và các loại hạt chưa biến chế cùng với lối sống khoan dung thư thái.

Cách đó cũng là cách nhanh và hữu hiệu nhất để trị ung thư, tiểu đường, viêm khớp, loạn tiêu hoá, suy tim mạch, suy thận, suy gan, suy sụp trí nhớ theo kinh nghiệm của các bác sĩ và chuyên gia y tế trong loạt phỏng vấn trên.

Một số bằng chứng

Sau đây là một số trường hợp cụ thể do những bác sĩ và chuyên gia y tế trình bày trong loạt phỏng vấn “Natural health Secrets” (Jonathan Otto and Natural Health Secrets, 2019).

Bác sĩ Michael Klaper: (Tim mạch, tiểu đường, đau khớp, phì, lỡ da)
“ Tôi nhớ tới một bệnh nhân đàn ông gần 60 tuổi, chuyên viên vật lý trị liệu Động mạch ông ta nghẹt đến nỗi ông ta không thể đi bộ ngang qua sân 20 mét mà không ngừng nghỉ vì cơn đau ngực. Ngực ông đau đến nỗi ông tái xám cả người, và phải uống nitroglycerin. Thân thể ông ta không những thấy khổ sở, đáng lo, mà tạo cảm giác như ông ta sắp chết và chờ chết. Vậy mà sau khi giúp ông ta chỉ ăn uống thuần rau quả, một chế độ ăn uống nhẹ nhàng cho động mạch, mãng mỡ bám thành động mạch của ông ta bắt đầu rớt đi. Động mạch mở ra. Máu chảy mạnh. Sau 10 ngày ông ta đi bộ qua lại sân đó dể dàng không bị đau ngực nữa. Sau ba tuần, ông ta đi bộ khắp cả y viện, rồi leo lên đồi sau y viện. Ông ta sống lại. Bước đi mạnh mẽ và sắc mặt hồng hào trở lại. Thật là một chuyển biến ngoạn mục.”

“ Tôi nhớ một bệnh nhân khác tên Ken. Anh ta cao huyết áp, tiểu đường, đau khớp và da bị lở. Chúng tôi cho anh ta ăn thuần thức ăn thực vật (rau,quả, hạt, củ) không chế biến. Anh ta tiêu biểu tất cả các bệnh nhân khác và chúng tôi có thể bảo đảm bất cứ ai nghiêm túc theo chế độ ăn uống này cũng hết bịnh như anh Ken.
Chỉ trong 5-6 ngày và vài tuần, quý vị sẽ thấy thay đổi như anh Ken. Đúng vậy, chỉ sau ít ngày ăn thuần rau quả hạt không chế biến, họ bắt đầu bớt phì, động mạch mở ra, huyết áp giảm đi, khớp giảm đau, vãy nến trên da biến đi, phổi suyễn bớt khò khè và chứng nhức đầu cũng không còn. Họ trở nên rắn chắc, bình thường, khoẻ mạnh, mắt sáng ra, và không cần gói thuốc họ mang theo khi vào y viện nữa. Không cần thuốc huyết áp nữa, không cần thuốc tiểu đường nữa. Vì họ không còn bị tiểu đường , không còn cao huyết áp nữa.

“Tôi sung sướng thấy hàng trăm trường hợp vậy. Hiện giờ tôi là một trong những bác sĩ hạnh phúc nhất vì bệnh nhân của tôi khoè mạnh trở lại.
Khi nói về những thứ bệnh mãn tính liên quan đến viêm , rau xanh đậm màu phải là món đứng đầu bảng trong chế độ ăn uống của quý vị.
Tôi nói với bệnh nhân của tôi rằng màu xanh và màu vàng phải là màu ưa thích nhất của quý vị. Bữa ăn trưa, bữa ăn tối, ăn rau nào đó có màu xanh và màu vàng. Nên ăn nhiều rau xanh đậm như hoa cải xanh, cải xanh, bok choy, cải làng, dền xanh, măng tây. Đồng thời hãy ăn khá khá rau màu vàng như cà rốt, khoai lang, bí đỏ, khoai mở vàng…. Vì những thứ này chứa nhiều chất chống oxy hoá (antioxidant)”

(Bác sĩ Klaper tốt nghiệp Bás sĩ Y khoa năm 1972 tại Đại học Y khoa Illinois, học thêm chuyên khoa giải phầu, gây mê và chỉnh hình tại Đai học Bệnh viện British Columbia ở Vancouver và Nhi Khoa tại Đại học Bệnh viện California. Qua kinh nghiệp nghề nghiệp, BS Kapler nhận ra rằng nhiều bịnh tật trên các bịnh nhân của mình – như nghẹt động mạch, Cao huyết áp, mập phì, tiểu đường của người lớn , ngay cả một số loại viêm khớp, suyễn và nhiều bịnh quan trọng khác trở nên tệ hơn hoặc là hậu quả của chế độ ăn uống gồm nhiều dường, nhiều mỡ, nhiều muối, thực phẩm chế biến, thực phẩm gốc động vật thịnh hành ở Mỹ.

BS Klaper là Giám đốc Viện Giáo dục và Nghiên cứu Dinh dưỡng (Institute of Nutrition Education and Research) từ 1992 đến 2015 trong vai trò chỉ đạo nghiên cứu chú trọng về những người chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật. BS Kapler có làm việc tại NZ 3 năm và từ 2009 đến 2018 làm việc tại Trung Tâm Y tế “TrueNorth Health Centre” ở Santa Rosa, là trung tâm y tế chuyên sử dụng biện pháp nhịn ăn và chế độ thức ăn gốc thực vật toàn phần để cải thiện sức khoẻ, CA. Hiện nay BS Klaper thuộc Hội đồng Cố vấn cho Dự án “Plantrician” và “International Journal or Disease Reversal and Prevention”

BS Kim Williams (BS trưởng Tim mạch, Huyết áp, tiểu đường)
“ Khi theo dõi huyết áp những bệnh nhân bất đầu chế độ chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật, tôi thấy một phần ba giảm huyết áp rất nhiều, một phần 3 giảm trung bình còn một phần ba giảm nhẹ. Những người giãm huyết áp nhiều phải rất cẩn thận, vì sẽ tới lúc họ cần giảm liều lượng thuốc huyết áp. Nếu không theo dõi mỗi ngày để giảm thuốc họ sẽ bị nguy hiểm vì huyết áp của họ có thể đùng một cái giảm xuống còn 80/50 và bị choáng váng.
Tôi cũng đã thấy một số bệnh nhân sau khi chuyển sang chế độ ăn uống thuần gốc thực vật gặp rắc rối với thuốc insulin vì tình trạng tiểu đường đã cải thiện nhiều.
Vì vậy nếu quý vị đang cố gắng cải thiện sức khoẻ, xin hãy cộng tác với bác sĩ của mình để theo dõi tình hình kịp thời giảm thuốc uống.”
(BS Kim Williams là bác sĩ tại y viện tim mạch Rush Cardiology thuộc Đai Hoc Y khoa Rush, Oak Park, Chicago)

BS Klaper về bộ óc và trí nhớ:
“ Hiện nay ai cũng lo sợ – lo sợ rất đúng- là về già mình sẽ mất khả năng suy nghĩ và nhớ. Trước đây chúng ta không biết lý do tại sao nên nghĩ đó là diễn trình tuổi già. Nhưng càng nghiên cứu thì các khoa học gia càng thấy rõ không phải vì già mà mất trí nhớ. Có nhiều người trên 100 tuổi mà vẫn sáng suốt, nhạy bén và rõ ràng không suy giảm trí nhớ. Khi chúng ta xem kỹ những bịnh còn lại trong cơ thể, một tình trạng cơ bản cứ hiện lên. Đó là tình trạng viêm xãy ra trong các mô tế bào và tình trạng tuần hoàn máu chắc chắn ảnh hưởng đến sức khoẻ của cơ quan trong cơ thể. Khi nhìn tới não bộ, chúng ta bây giờ thấy tình trạng viêm có một vai trò quan trọng trong chứng trầm cảm và suy sụp trí nhớ, và sự tuần hoàn của máu nữa.”
“Không có gì có thể thay thế những động mạch trơn tru rộng đường cho máu chảy mang khí oxy và dưỡng chất đến mô não, và mọi tế bào cơ thể. Khi gặp người bị mất khả năng tinh thần, bác sĩ khám óc sẽ thấy rõ ràng là động mạch dẫn máu lên não bị nghẹt, và các mô tế bào bị viêm. Họ sẽ hỏi: Tạo sao vậy? Các bạn biết, có lẽ không phải vì vi khuẩn, cũng phải là vì các tia sang lạ từ vũ trụ. Mà chắc chắn là do thức ăn những người này tiêu thụ trong 60 năm, 70, năm, 80 năm ở xứ văn minh như Âu Mỹ – gồm toàn chất đạm động vật và sữa bò, dầu ăn và đường và hoá chất thực phẩm. Đây là hổn hợp độc tố chảy qua tế bào não ngày này qua ngày kia và qua những động mạch trong não. Và càng ngày càng nhiều bác sĩ và chuyên gia y tế đều đồng ý rằng đó là cách mà chủ nhân bộ não đó đã đối xử với não đó bao nhiêu năm qua. Và rốt cuộc nguyên nhân chủ chốt của bịnh mất trí nhớ là thức ăn không lành mạnh”.

“Khi nói chuyện với các sinh viên y khoa trẻ, tôi nói ‘Bạn không thể thực hành y khoa mà không để ý đến sự kiện này. Chính là thức ăn của bịnh nhân quý bạn đang thay đổi họ. Đây là sào huyệt của chứng viêm. Đây là chổ nằm của hệ miễn nhiễm. Đây là chỗ ung thư bắt đầu. Đây là chổ chứng tự miễn nhiễm khởi đầu, ở cấp độ DNA, và thức ăn chính là lực bật lên và tắt gen. Chúng ta không thể giả vờ là sự kiện này không xãy ra. Nó áp dụng cho toàn bộ dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của chúng ta.’
Vì thế, sức khoẻ khởi đầu bằng lối sống lành mạnh, bắt đầu với thức ăn lành mạnh, tức là thực phẩm gốc thực vật dạng thô. Không có thuốc tây nào, thuốc bổ sung nào, dược thảo nào có thể thay thế món xà lách, món xúp, rau cải, qui noa, trái cây, thực phẩm thực vật dạng thô. Đó là nền tảng sức khoẻ thứ nhất.”

Dr. Ayesha Sherzai:
“Hãy xem kết quả nghiên cứu trong thập niên 1990 khi BS Paul Giam ở Loma Linda so sánh sức khoẻ của những người chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật so với những người khác trong chương trình nghiên cứu của nhóm Seventh Day Adventist. Rõ ràng là những người không theo chế độ ăn thuẩn thực phẩm gốc thực vật mà ăn nhiều thức ăn gốc động vật kể cả thịt gà và cá có nguy cơ bị mất trí nhớ (Alzheimer’s) cao gấp đôi những người chuyên ăn thực phẩm gốc thực vật”.
( BS Ayesha Sherzai là 1 giám đốc chương trình phòng ngừa bịnh Alzheimer’s tại Trung Tâm y tế Đại học Loma Linda)

Dr. Peter Breggin (Bạch cầu lymphô mãn tính)
“Tôi xin kể một chuyện xãy ra trong nghề nghiệp bác sĩ tâm lý của tôi. Tôi không tin loại chuyện này. Tôi không tin mốt nhất thời. Tôi không tin phép lạ chữa bịnh. Tôi chống tất cả những thứ đó. Vấn đề là trở lại cách ăn uống lúc cơ thể chúng ta lớn lên.
Tôi có một người bạn, một giao sư Đại học. Chúng tôi có cùng quan diểm chính trị. Anh ta không cho ai biết, ngoại trừ bà xã anh ta, là anh ta bị bạch cầu lymphô bào mãn tính (chronic lymphocytic leukemia). Có lẽ anh ta phải sống với bịnh này suốt đời. Tôi thúc anh chuyển sang ăn thực phẩm thuần thực vật và giới thiệu anh với BS. Pam. Anh ta bắt đầu ăn thực phẩm toàn gốc thực vật không chế biến. Rồi anh ta hết bịnh bạch cầu lym phô bào mãn tính. Tôi không phải là người nhẹ dạ dễ tin đâu. Chế độ ăn uống chỉ gồm thực phẩm gốc thực vật có lý vì hầu như nó chỉ là thực vật. Tất cả xã hội có sức khoẻ tốt nhất là xã hội mà dân chúng ăn nhiều thực vật nhất. Pam không khuyên bạn chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật, nhưng tôi nghĩ bà ấy nói đúng là càng ăn nhiều thực vật; và càng tránh sản phẩm sữa bò và thực phẩm chế biến thì càng có cơ hội thoát hậu quả bịnh tim, bịnh cao huyết áp, bịnh suyễn và càng có cơ hội phục hồi sức khoẻ.”

BS Pam Popper : (Huyết áp, suyễn, loét ruột già)
“Một trong những cộng tác viên kinh doanh của tôi là BS Peter Breggin, một bác sĩ tâm lý nỗi tiếng. Ông ta là người không bao giờ cho bệnh nhân mình uống thuốc tây trong 55 năm hành nghề. Ông ta tuyệt vời trong lãnh vực bịnh tâm thần nhưng lại không bao giờ để ý đến sức khoẻ sinh học. Ông ta bị suyễn, lúc nào cũng bị cảm lạnh và nhiễm trùng. Ông ta uống thuốc huyết áp dài dài và vợ ông ta bị lỡ loét ruột già (ulcerative colitis). Ông ta chú tâm vào bịnh tâm thần đến nỗi không có thì giờ chăm sóc sức khoẻ mình. Vì vậy khi Peter được 82 tuổi, ông ta quyết định thay đổi chế độ ăn uống. Ông ta sút 12 kí lô và nhìn trẻ hơn 20 năm trước. Ông ta không cón phải uống thuốc huyết áp, thuốc suyễn nữa. Bà vợ ông ta cũng thay đổi chế độ ăn uống và dứt binh lỡ loét ruột già đã hành hạ bà bao nhiêu năm.”
(BS Pam Popper là bác sĩ y học tự nhiên -naturopathic doctor- PhD và là tác giả sách- Food over medicine va sách : Solving America’s healthcare crisis)

BS. Peter Breggin:
“Sau 2 tuần ăn toàn thức ăn gốc thực vật không chế biến, tôi thấy yếu người. Tôi tự bảo mình: Ăn như vậy là tào lao. Nhưng vợ tôi (Ginger) bảo: Sao anh không thử đo huyết áp mình. Tôi nghe lời và thấy huyết áp tâm trương (systolic) xuống còn 100.
Vậy là tôi không còn bị cao huyết áp nữa. Mà chỉ cần có 2 tuần lễ với chế độ ăn uống chủ yếu là thực phẩm gốc thực vật không chế biến. Thật thú vị, Vì vậy tôi tiếp tục và sụt gần 30 cân (14 kg).
Vợ tôi bắt đầu chế độ ăn uống mới và sau 2 tuần lễ, bà ấy lần đầu tiên hết đau kể từ khi tôi quen biết bà ấy (tôi nhớ trước đó phải đưa bà ấy đi cấp cứu ít nhất 12 lần). “

Liana Werner-Gray: (Ung thư)
“Tôi lớn lên ở vùng Alice Springs ở giữa Úc châu. Được nuôi dưỡng cần thận nên tôi lớn lên khá khoẻ mạnh. Tuy nhiên khi lên Brisbane học Đại học, tôi bất đầu lao vào lối sống ăn nhanh ăn lẹ với đủ thứ thức ăn chế biến ở McDonald, Pizza, KFC, Doritos. Sáng trưa chiều tối lúc nào cũng ăn thức ăn tạp nhạp. Năm năm như vậy cho tới một ngày tôi cảm thấy có gì lạ lạ nổi lên ở cổ. Tôi đi bệnh viện khám mới biết là mình bị một khối ung thư bằng trái bóng bàn trong tuyến bạch cầu. Mới có 21 tuổi.
Tôi nhớ lại những gì học được từ thổ dân bản xứ. Tôi phải trở lại thiên nhiên, ăn thức ăn thật sự có dinh dưỡng và chữa lành thân mình. Tôi tự nhủ trong 365 ngày tôi sẽ chỉ ăn thức ăn trực tiếp ra từ đất.
Trong vòng 3 tháng, khối ung thư đường kính 3.7 cm tan mất, hoàn toàn biến mất. Vâng chỉ sau 3 tháng thay đổi chế độ ăn uống, và ngừng ăn 4 thứ có hại nhất là gluten (trong bột mì) đường trắng, sản phẩm sữa và thứ gì thay gen, không tự nhiên và tất cả chất bảo trì thực phẩm, bổ sung thực phẩm…. Đúng vây, tôi dẹp hết 4 thứ đó và thay thể những thứ tôi thèm ăn trước đó bằng thực phẩm tự nhiên gốc thực vật. Rồi tôi cũng bắt đầu ép nước rau quả (đặc biệt lúc nào cũng có giá hoa cải xanh – Broccoli sprouts và củ nghệ) để uống 6 lần 1 ngày, tôi cũng uống hổn hợp đất sét bentonite.
Chế độ ăn uống của tôi chỉ có vậy thôi. Sau 3 tháng khối ung thư biến mất và từ đó đế nay, sau 10 năm tôi vẫn khoẻ mạnh, không bị ung thư nữa. “

Steve V. (Bịnh đa xơ Multiple sclerosis)
“Tháng 9 năm 2014, mắt tôi có vấn đề. Sau một loạt khám nghiệm, bác sĩ cho tôi biết tôi bị bịnh đa xơ (MS – Multiple Scleroris). Một bác sĩ bạn tôi giới thiệu tôi tới BS Kahn. Bác sĩ Kahn nói rằng, Đây là một chứng bịnh thông thường mà người ta gọi là bịnh đa xơ hay MS nhưng thật ra nó là một vấn đề đường ruột. Mình phải sửa chữa đường ruột. Phải giảm hệ miễn nhiễm từ trạng thái quá cảnh gíac -thấy cái gì cũng là ngoại thể xâm lăng-xuống tình trạng binh thường.

Trước hết là phải thay đổi chế độ ăn uống, thứ hai cung ứng một ít thứ thuốc bổ sung dinh dưỡng mà thức ăn không cung cấp được cho để hạ hệ miễn nhiễm xuống tình trạng phòng vệ thấp hơn.

Sau sáu tháng, tôi hết bịnh. Tôi từng phải uống thuốc cholesterol, bây giờ không cần nữa. Tôi giãm 9 kí lô nhờ chế độ ăn uống này. Tôi có thể chơi dã cầu với các con tôi, là chuyện tôi không làm được trước đó.”

Dr. Alan Goldhamer: “ Chế độ ăn uống, ngủ, và thể dục là những gì chúng ta có thể làm để sống cho khoẻ mạnh. Phần lớn nhiệm vụ của chúng tôi là hướng dẫn, dạy người ta sống sao cho lành mạnh. Ăn thế nào, thể dục làm sao và cách đảm bảo nghỉ ngơi / ngủ đầy đủ. “
“ Chúng tôi cũng xuất bản một số tài liệu trên báo chí y học. Trường hợp mới nhất được đăng trên Tập san Y học Anh quốc (British Medical Journal) về một phụ nữ ung thư hạch lymphô trong 2 năm tới gia đoạn 3. Bà thực hiện 21 ngày nhịn ăn và khối ung thư của bà biến đi trong lúc nhịn ăn. 10 ngay ăn trờ lại, theo dõi trong 3 năm cho thấy bà ta qua khỏi ung thư lym phô bằng cách ăn thức ăn thuần gốc thực vật.

“ Phương pháp trị bịnh của chúng tôi không phải dễ dàng mà có vẻ nguy hiểm và cực đoan đôi với nhiều người vì nó đòi hỏi họ phải bỏ lối sống quen thuộc cố hữu trãi qua hàng bao nhiêu chục năm trong đời họ. Ăn uống lành mạnh, đi ngủ đúng giờ, tập thể dục thích hợp mỗi ngày là lối sống quá mức tưởng tượng của nhiều người”.
(BS Alan Goldhamer là sáng lập viên của trung tâm y tế TrueNorth Health Centre, tốt nghiệp Western States Chiropractic College in Portland, Oregon.)

Xin lưu ý: Bài viết này chỉ có mục tiêu phổ biến thong tin chứ không thay thế ý kiến của bác sĩ chăm sóc quý bạn.

Tham khảo:

  1. Carnegie Mellon University (2012) How stress influences disease: Study reveals inflammation as the culprit. ScienceDaily. https://www.sciencedaily.com/releases/2012/04/120402162546.htm
  2. Greger, M. (2012). Dead Meat Bacteria Endotoxemia. NutritionFacts.org
  3. Jonathan Otto and Health Secret, LLC (2019). Natural Health Secrets. Episode Transcripts. Hosted by Jonathan Otto.
  4. Minich, D. (2017) What you need to know about a high-fat diet. Huffpost. https://www.huffingtonpost.com/entry/what-you-need-to-know-about-a-high-fat-diet_us_595f22c4e4b0cf3c8e8d57b0
  5. Kapler, M. About Dr. Kapler. https://www.doctorklaper.com/about

Triệu chứng thiếu Vitamin B

It ai trong chúng ta được biết thiếu vitamin B là một trong những nguyên nhân gây nên nhiều chứng bịnh đáng ngại như suy trí nhớ (Alzheimer’s), mệt mỏi mãn tính, yếu sinh lực, lo âu, trầm cảm, dễ cáu, tâm tính tiêu cực, ngứa da, lỡ môi miệng… Ít có bác sĩ Tây y nào chỉ ra nguyên nhân này và giúp chúng ta trị tận gốc bằng cách bồi dưỡng vitamin B. Ngược lại nhiều thứ thuốc họ cho lại làm tình trạng thiếu vitmanib B tệ hơn. Bác sĩ Tây y đầu tiên giỏi dùng vitamon B chữa bịnh tôi biết là em vợ tôi BS Lê T Nguyệt – đã dùng Executive B Stress Formula (chủ yếu gồm vitamin B) để trị bịnh trầm cảm rất hữu hiệu cho một chị bạn và tình trạng yếu sức trong gia đình. Bác sĩ Tây y thứ hai là Bác sĩ Alan R. Gaby, tác giả sách Nutritional Medicine dạy môn dùng vitamin và khoáng chất để trị bịnh. Tôi mong thông tin dưới đây sẽ giúp cho quý bạn và người thân đang bị những triệu chứng thiếu vitamin B nhất là bịnh trầm cảm lâu dài, mỏi mệt, yếu sức và Alzheimer’s.

Vitamin B là một nhóm chất bổ thiết yếu cần có cho cơ thể hoạt động lành mạnh  phải được cung cấp từ bên ngoài vào vì cơ thể chúng ta không tự tạo ra chúng được.

Vitamin B đóng vai trò rất quan trọng cho sức khoẻ vì chúng có khả năng giúp biến đổi chất dinh dưỡng khác thành năng lượng hay sinh lực, bảo trì tình trạng chuyển hoá lành mạnh, yểm trợ chức năng thần kinh, chức năng của gan, sức khoẻ da, sức khoẻ mắt và sự phát triển thai nhi trong bụng mẹ.

Chúng ta cần có đủ vitamin B để phòng ngừa những triệu chứn mệt mỏi mãn tính, thiếu máu, suy yếu thần kinh (nhất là tình trạng tâm tính bất thường, lo âu, trầm cảm), yếu sức, suy sụp trí nhớ (kể cả Alzheimers’), da bịnh hoạn, suy tim..

Hổn hợp vitamin B (B Complex) có 8 loại vitamin B sau đây

  • vitamin B1 (còn gọi là thiamine)
  • vitamin B2 (còn gọi là riboflavin)
  • vitamin B3 (còn gọi là niacin)
  • vitamin B5 (còn gọi là a xit pantothenic )
  • vitamin B6
  • vitamin B7 (còn gọi là biotin)
  • vitamin B12
  • and folate (còn gọi là vitamin B9 hay là axit folic acid nếu dưới dạng phối chất nhân tạo -Synthetic)

Tám loại vitamin B này có vai trò và hoá tính tương tự nhưng mỗi thứ có chức năng độc đáo riêng.

Thiếu vitamin B có thể đưa đến biến chứng (complications)  giáp trạng (thyroid) và thượng thận (adrenal) tạo nên những triệu chứng tiêu cực như mệt mỏi, lên cân, sụt  ký, ngủ khó, cáu gắt, trầm cảm, lo âu, bất an…

Thông thường khi có triệu chứng thiếu vitamin B, các y sĩ chuyên vể dinh dưỡng thường cho bệnh nhân uống hổn hợp vitamin B (B complex) cùng với loại vitamin B có dấu hiệu thiếu hụt nghiêm trọng. Chẳng hạn như B complex 1 viên 1 ngày và 500 mg vitamin B3 một ngày trong trường hợp bệnh nhân lo âu và trầm cảm nghiêm trọng.

1. Vitamin B1

Vitamin B1 nằm trong 1 enzim giúp chuyển thức ăn thành năng lượng và đóng vai trò quan trọng cho thần kinh. Thiếu B1 sẽ gây ra triệu chứng:

  • Tê phù (Beriberi)  chủ yếu là yếu và teo cơ bắp với 3 trường hợp
    • Tê phù khô: (Dry beri beri) : yếu và teo bắp thịt cùng thần kinh điều khiển  tay  chân và có thể đau bắp chân
    • Tê phù ướt (wet beriberi):  tim lớn (cardiomegaly), tim đâp nhanh (tachycardia) đau tim bên mặt, khó thở và phù tay chân.
    • Tê phù cấp tính (acute beriberi) chủ yếu xãy ra cho trẻ em gây chứng biếng ăn, nôn mửa, nhiễm a-xit lac tic (từ sửa)

Những trường hợp sau đây thường đưa đến thiếu hụt B1:

  • Nghiện rượu
  • Những người bị suy tim ứ huyết (congestive heart failure) hoặc uống thuốc lợi tiểu (diuretic). Trong trường hơp này, liều chữa trị là uống 100 mg B1 hay nhiều hơn mỗi ngày.
  • Những người lớn tuổi
  • Và những người có hệ tiêu hoá yếu vì gan yếu, bịnh viêm đường tiêu hoá, ung thư . Chữa trị triệu chứng thiếu B1 trong trường hợp này cần 5-30 mg mỗi ngày trong 1 tháng hay lâu hơn tuỳ theo mức nghiêm trọng.

Vitamin B1 được phân phối rộng rãi trong thức ăn. Thức ăn giàu nhất B1 gồm thịt heo thịt bò, gan bò, cá hồi. Rau quả giàu B1 nhất là ngũ cốc nguyên cám (whole grains) và đậu hạt (legumes) như đậu đen.  Môi trường kiềm (alkaline) và sức nóng sẽ huỷ vitamin B1. Vì vậy nấu thức ăn chứa vitamin B1 trong nước sẽ làm mất đi vitamin B1. Nhiều thức ăn chế biến như ngũ cốc chế biến thường được độn vitamin B1, B2, B3 và chất sắt.

Phụ trợ B1 thường được cung cấp dưới dạng thiamine hydrochroride hay muối thiamine mononitrate.

Theo cơ quan y tế Mỹ thì mỗi ngày đàn ông nên tiêu thụ  1.2 mg và phụ nữ 1.1 mg . Phụ nữ có thai và cho con bú thì cần nhiều hơn: 1.4 mg vitamin B1 mỗi ngày .

Vitamin B1 không gây độc nếu tiêu thụ qua đường tiêu hoá. B1 dư thừa sẽ được thải ra qua đường tiểu. Không có  phản ứng có hại nào được ghi nhận, ngay cả trong trường hợp uống 500 mg một ngày.

2. Vitamin B2 (Riboflavin)

Vitamin B2 là thuộc một enzim  chuyển hoá thức ăn thành năng lượng. Nhưng B2 đặc biệt ảnh hưởng đến sức khoẻ thị giác và da,

Nếu không được cung cấp đủ B2 trong 3-4 tháng sẽ ó những triệu chứng:

  • lỡ hoăc nứt môi ngoài (cheilosisi) và khoé miệng (anguar stomatitis),
  • viêm đỏ lưỡi (glossitis- nhìn lưỡi láng và  đỏ sậm);
  • sưng (edema) và đỏ như máu (hyperemia) trong miệng
  • Da bị viêm đỏ
  • Viêm da bã nhờn (seborrheic dermatitis) xung quanh mũi.
  • Thiếu máu (amenia) và
  • Loạn thần kinh tay chân (peripheral nerve dysfunction -neuropathy)

Thiếu B2 trầm trọng sẽ làm giảm khà năng tổng hợp tạo ra vitamin B6 và B3 (niacin) từ tryptophan đồng thời cũng làm hư hại DNA và chu kỳ tế bào.

Những người uống quá nhiều rượu thường thiếu vitamin B2 cùng như những ai bị bệnh tiểu đường, yếu giáp trạng, bị chấn thương (thể chất, tinh thần cũng như tình cảm) và sống trong môi trường căng thẳng làm thay đổi sự chuyển hoá B2 (B2 metabolism).

Thông thường chì cần cung cấp 10 tới 20 mg mỗi ngày cho đến khi hết triệu chứng là giải quyết được tình trạng thiếu hụt B2.

Vitamin B2 có trong nhiều loại thực phẩm nhưng nhiều nhất là trong thức ăn gốc động vật, nhất là sữa và sản phẩm sữa. Gan súc vật rất giàu vitamin B2.

3.  Vitamin B3 (còn gọi Niacin)

Vitamin B3  thuộc một enzim chuyển hoá thức ăn thành năng lượng. Nó quan trọng cho sức khoẻ thần kinh, tiêu hoá và da.

Thiếu vitamin B3 sẽ sinh ra bịnh Pellagra (tiếng Ý có nghĩa là Da sần sùi) với triệu chứng  

  • Viêm da (dermatitis): lúc đầu giống như cháy nắng trên những vùng da phô ra nắng, như mặt, cổ, bàn tay bàn chân, khuỷ tay, đầu gối…
  • Thần kinh suy yếu kể cả nhức đầu, lãnh đạm, mất trí nhớ, viêm dây thần kinh, tay chân, tê liệt tay chân, rối trí, mất định hướng. ( Tạo nên chứng lo lắng, hoảng sợ, trầm cảm..)
  • Đường tiêu hoá bị biến chứng như
    • lỡ hoăc nứt môi ngoài (cheilosis) và khoé miệng (angular stomatitis),
    • viêm đỏ lưỡi (glossitis- nhìn lưỡi láng và  đỏ sậm)
    • Buồn nôn
    • Nôn mữa và tiêu chảy

Nếu không chữa trị có thể chết.

Thông thường chỉ cần uống 500 mg nicotinamide hay niacin mỗi ngày trong vài tuần lễ là đủ.

Xin lưu ý là tình huống thiếu vitamin B3 có thể xãy ra sau khi uống một số thuốc tây và khi khả năng hấp thụ B3 của cơ thể bị suy yếu. Những loại thuốc gây nên thiếu B3 gồm cả thuốc trị lao phổi isoniazid, thuốc trị ung thư mercaptopurine. Nên uống phụ trợ B3 sau hay trước khi uống những thứ thuốc này 2-3 giờ.

Uống nhiều rượu quá, tiêu chảy mãn tính, viêm đường ruột, ung thư đường ruột làm giảm khả năng hấp thụ B3 vì vậy cũng gây tình trạng thiếu Vitamin B3.

Thức ăn chứa nhiều nhất Vitamin B3 là hầu hết mọi thứ thịt và cá, đặc biệt là gan bò. Đâu hạt, ngũ cốc không tinh chế, hạt rau quả cũng chứa khá nhiều B3. Cà phê và trà cũng có B3. Rau cải xanh và sửa cũng có B3 nhưng ít hơn.

Dùng B3 như thuốc chữa bịnh có thể có một số phản ứng phụ không tốt,  nhất là với liều hơn 1 g một ngày, như ngứa da, tê tê, đau đầu, ợ nóng, buồn nôn, nôn mữa, hại gan,  đau gút, tăng đường trong máu.  Có dạng Vitamin B3 như Solgar no flush niacin, mới sản xuất có thể ít bị phản ứng xấu hơn nhưng vẫn có thể làm độc gan, đau đầu và gây rối tiêu hoá nếu dùng lâu.

4. Vitamin B5 (Pantothenic Acid)

Vitamin B5 là nằm trong 1 enzim giúp chuyển hoá thức ăn thành năng lượng

Thiếu B5 có thể gây ra những triệu chứng sau đây:

  • Hội chứng bàn chân thấy nóng như đốt (Burning feet syndrome). Hội chứng này gia tăng trong mùa nóng và giảm bớt trong mùa lạnh. Theo Groper & Smith (2013) uống calcium pantothenate sẽ chỉnh được  tình trạng này.
  • Nôn mửa
  • Mệt mỏi (fatigue),
  • Yếu sức
  • Bồn chồn không yên (restlessness)
  • Dễ cáu (irritability)

Suy dinh dưỡng có thể làm thiếu B5. Uống rượu nhiều, tiểu đường, viêm đường tiêu hoá tăng nhu cầu B5 nên cũng làm thiếu B5.

Bình thường, mỗi ngày chúng ta chỉ cần 5 mg B5 là đủ. Nhưng phụ nữ có thai và cho con bú cần trung bình 7 mg.

Mọi thứ thức ăn gốc thực vật cũng như động vật đều chứa vitamin B5. Tuy nhiên trong những thức ăn  chứa nhiều nhất vitamin B5 phải kể đến thịt, nhất là gan, long đỏ trứng gà, sửa chua, đậu hạt, khoai tây, nấm, bông cải xanh (broccoli).

Chưa có trường hợp ngộ độc vitamin B5 nào được ghi lại.  B5 an toàn ngay cả khi uống 10 g mội ngày trong 6 tuần. Tuy nhiên uống từ 15 đến 20 g một ngày có thể gây rối đường ruột, kề cả tiêu chảy.

5. Vitamin B7 (Biotin)

Vitamin B7 có chức năng quan trọng giúp biến chế đường glucose, chuyển hoá chất đạm, mỡ và chất bột (carbs). Nó cũng giúp chuyển vận khí carbon dioxide (CO2) . Theo Cơ quan An toàn thực phẩm Âu châu, B7 có vai trò đóng góp trong việc chuyển hoá dinh dưỡng, sản xuất năng lượng, chức năng thần kinh, chức năng tâm lý và bảo trì da, tóc cùng các màng nhờn. (Nordqvist, 2017,1).

Vitamin B7 được các vi sinh trong đường ruột tổng hợp thành và được hấp thụ từ đó. Vì thế, rất hiếm có trường hợp thiếu B7. Tuy nhiên nó có thể xãy ra cho những người có gen bị biến đổi (gene mutation)

Triêu chứng thiếu B7 gồm: (Gropper & Smith, 2013)

  • Trạng thái lờ phờ, hôn mê (lethargy)
  • Tê tay chân như bị kim chích (paresthesia)
  • Cơ bắp giảm trương lực (yếu xìu)
  • Trầm cảm
  • Bị ảo giác (hallucination)
  • Viêm da đỏ và có vãy xung quanh mắt, mũi và miệng
  • Biếng ăn
  • Buồn nôn
  • Rụng tóc và
  • Đau cơ bắp Nếu không trị chứng thiếu Vitamin B7 thì có thể đưa đến tử vong.

Theo Groper & Smith thì cứ uống không quá 10 mg B7 mỗi ngày là có thể dứt những triệu chứng trên.

Những người ăn nhiều trứng sống quá rất dễ bị thiếu B7 vì khả năng hấp thụ B7 bị suy giảm.

Những người bị viêm đường ruột hoặc uống rượu nhiều cũng suy giảm khả năng hấp thụ B7.

Thức ăn chứa nhiều nhất vitamin B7 gồm gan bò, đâu nành, lòng đỏ trứng gà, đâu hạt (legumes), hạt có dầu như đậu phụng, hạt hạnh nhân.  Nhu cầu B7 hàng ngày trung bình là 30 micro gram. Lưu ý là lòng trắng trứng gà nếu ăn sống sẽ cản không cho cơ thể hấp thụ B12 trong lòng đỏ. Ăn trứng luột chín lòng trắng thì không sao.

Vitamin B7 (biotin) an toàn. Chưa có trường hợp nào có người bị ngộ độc vì B7 ngay cả khi liểu lượng trên 100 mg một ngày.

 6. Vitamin B9 (Folate)

Vitamin B9 đóng vai trò then chốt trong quy trình sản xuất hồng cầu cũng như trong việc:

  • Tổng hợp và sửa chữa DNA và RNA.
  • Giúp phân bào và phát triển tế bào.
  • Tăng sức khoẻ trí óc  
  • Bảo trì thính giác của người lớn tuổi (Nordqvist, 2017,2)

Thiếu Vitamin B9 có thể đưa đến trình trạng

  • Thiếu máu vì hồng cầu quá lớn (megaloblastic macrocytic anemia)
  • Mệt mỏi (fatigue)
  • Yếu đuối (weakness)
  • Đau đầu (headaches)
  • Dễ cáu (irratibility)
  • Khó chú tâm
  • Hụt hơi thở
  • Và tim hồi hộp (heart palpitations)
  • Phụ nữ mang thai thiếu Folic acid có nguy cơ sanh con bị dị tật bẩm sinh (birth defects) và cũng có thể là nguyên nhân trẻ em bị chứng autism và Down syndrome.

Triếu chứng thiếu vitamin B9 thường làm lưỡi đỏ rực và làm mỏng màng ruột nên giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng và gây tiêu chảy.

Uống nhiều rượu quá,  viêm đường ruột và dùng một số thuốc tây như thuốc lợi tiểu furosemide, phenytoin, thuốc chống kinh phong, methotrexate (chữa phong thấp), cholestyramine (chữa mỡ máu cao) và sulfasalazine (trị viêm đường ruột) có thể gây nên tinh trạng thiếu B9. Nên uống B9 2-3 giờ trước hay sau khi uống các loại thuốc trên để tránh bởi ảnh hưỡng của thuốc.

Theo Groper & Smith thì cần 1-5 mg folate mỗi ngày để trị chứng thiếu B9. Tuy nhiên, 1mg axit folic nhân tạo là mức tối đa an toàn đối cho người lớn. Uống từ 0.8 – 5 mg axit folic mỗi ngày sẽ tăng nguy cơ ung thư và tử vong ung thư . Lượng B9 tương ương folate trong thức ăn trung bình được đề nghị ở mức 400 mcg  một ngày.

Theo bộ Y tế New Zealand, phụ nữ có nguy cơ thấp sinh con bị khiếm khuyết ống thần kinh NTD (Neural Tube Defects) – tức là tình trạng não và thần kinh thai nhi không phát triển bình thường, như Down syndrome) nên uống 800 mcg Folic Acid mỗi ngày ít nhất 4 tuần trước khi thụ thai và 12 tuần sau khi thụ thai để bảo đảm an toàn cho thai nhi khỏi bị dị tật bẩm sinh liên hệ đế cột sống và não bộ. Phụ nữ có nguy cơ sinh con NTD cao có thể cần phải uống đến 5 mg một ngày. (Ministry of Health)

1 mcg axit folic nhân tạo tương đương với 2 mcg B9 trong thưc ăn vì phụ trợ axit folic được hấp thụ gấp đôi so với B9 (folate) trong thức ăn.

Thức ăn chứa nhiều nhất Vitamin B9 là nấm, rau bi na  (spinach) mầm Brussels (Brussels sprout), hoa cải xanh (broccoli), tu níp, đâu bắp (okra), đâu phụng, đậu hạt (kể cả đâu đen, đậu đỏ, dâu tây, cam, chuối và gan. Thức ăn tươi có nhiều folate hơn là thức ăn chin vì sức nóng khi nấu ăn huỷ 50-60% vitamin B9. Nếu phải nấu thì nên làm nguội ngay thức ăn sau khi nấu với một ít nước nguội để giử lại B9.

7. Vitamin  B12

Vitamin B-12  đóng vai trò chủ yếu đối với chức năng não bộ và hệ thần kinh.  Nó cũng liên quan đến qui trình sản xuất hồng cầu và giúp tạo / điều tiết DNA. Công tác chuyển hoá trong mọi tế bào phải dựa vào B12 để tổng hợp axit mỡ và sản xuất năng lượng. Nó giúp cơ thể phóng thích năng lượng bằng cách giúp cơ thể hấp thụ vitamin B9.

Ở Mỹ, Viện Y tế quốc gia (NIH) khuyến khích thiếu niên và người lới tiêu thụ 2.4 mcg mỗi ngày. Phụ nữa có thai cần 2.6 mg mỗi ngày và phụ nữ cho con bú cần 2.8 mg một ngày. Uống Vitamin B12 nhiều hơn mức khuyến nghị không gây độc hại, Tuy nhiên lúc nào cũng nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi uống phụ trợ dinh dưỡng.

Một số thuốc tây có thể giảm khả năng hấp thụ vitamin B12 như metformin dùng cho bệnh tiểu đường, và thuốc trị lỡ bao tử. Một số thuốc kháng sinh như  chloramphenicol,  hay chloromycetin, cũng có thể ảnh hưởng đến việc hấp thụ vitamin B12. Vì vậy nên uống phụ trợ B12 và thuốc này xa nhau 2-3 tiếng đồng hồ.

Triệu chứng thiếu Vitamin B12 (Cobalamin) (Healthline, n.d,2)

  • Da lợt lạt (pale) hay vàng vọt (jaundice) vì thiếu máu do hồng cầu quá lớn (megaloblastic macrocytic anemia), giống như thiếu B9. Lý do là vì không có B12 thì quy trình chuyển hoá bình thường của coenzim folate không thực hiện được.
    • Mệt và yếu do không đủ hồng cầu đem oxy đến các tế bào cơ thể
    • Có cảm giác bị kim gai đâm chích ở tay chân. Vì thiếu B12 thì màng bọc dây thần kinh (myelin) không hoàn chỉnh.
    • Đi đứng dễ mất thăng bằng, nên cách đi đứng thiếu vững vàng . Đây là triệu chứng phần lớn người già gặp phải vì thiếu B12 mà không biết.
    • Viêm lưỡi (glossitis – lưỡi sung/ đỏ) và lỡ miệng (mouth ulcers)
    • Hụt hơi và thấy choáng váng do không đủ hồng cầu đem oxy đến các tế bào cơ thể. Nhưng  triệu chứng này có thể do nhiều nguyên nhân khác. Vì vậy nên hỏi ý kiến bác sĩ.
    • Thị giác khó chịu hoặc mờ vì dây thần kinh đến mắt bị hư do thiếu B12. Triệu chứng này biến mất khi dùng phụ trợ B12.
    • Thay đổi tâm tính (Mood changes) : Thiếu B12 có thể làm thiệt hại mô tế bào não và gây rối tín hiệu thần kinh nên làm tâm tính trở nên bất thường và suy giảm trí nhớ.

Nguyên do thiếu Vitamin B12 có thể là:

  • Không tiêu thụ đủ thức ăn chứa nhiều B12. Những người chỉ ăn rau quả dễ bị thiếu B12 vì rau qủa ít khi có B12.
  • Lá lách bị hư chức năng ngoại tiết. (impaired pancreatic exocrine function)
  • Chức năng bao tử bị hư hỏng – làm giảm hiệu năng qui trình hấp thụ vitamin B12 từ thức ăn. Tình trạng này thường xãy ra khi cơ thể bị chứng tự miễn nhiễm: cơ quan miễn nhiễm tấn công các tế bào màng bao tử như ngoại thể xâm lược.
  • Chức năng tiêu hoá ở ruột non, nhất là khúc cuối ruột non (ileum) bị hư hỏng làm suy giảm khả năng hấp thụ B12.
  • Đường ruột bị nhiễm ký sinh.  Giun sán có thể tranh giành B12 cho chúng và làm giảm B12 còn lại cho cơ thể. Thuốc tây dùng cho bịnh lỡ loét bao tử và bịnh hơi trào ngược lên thực quản (gastroesophageal reflux) thuộc loại chắn H2 và ức chế bơm proton (proton pump inhibitors) thường giảm khả năng hấp thụ B12 vì chúng tạo nên tình trạng vi sinh quá nhiều (bacterial overgrowth) trong ruột non. Những vi sinh dành ưu tiên sử dụng B12 cho chúng.

Thức ăn chứa nhiều vitamin B12 là thức ăn gốc động vật gồm thịt cá, phó-mat và nhất là sò hến, hào biển. Hấp thụ nhiều Vitamin B12 chưa có trường hợp nào được ghi là có hại, nhưng cũng không có lợi gì.

8. Vitamin B6 (Pyridoxine)

Hơn 150 phản ứng enzim trong cơ thể cần vitamin B6 để chế biến chất đạm, carbs và mỡ chúng ta ăn vào. Hệ thống miễn nhiễm và thần kinh cũng cần vitamin B6 để thực hiện chức năng của mình. (Healthline, n.d, 1). Gần đây B6 được khám phá là có tính chống viêm và chống oxit hoá. Vì vậy nó có thể giúp phòng ngừa những bịnh mãn tính như ung thư và bịnh tim mạch (Bird, 2017).

Hầu như ít ai thiếu vitamin B6, nhưng nếu thiếu những vitamin khác như B9 và B12 thì có thể thiếu B6 nữa.

Thiếu Vitamin B6 có thể gây những triệu chứng như sau: (Healthline, n.d., 1; NIH, n.d; Gropper & Smith, 2016)

  • Da nỗi đỏ từng vạt (Skin rashes) ngứa, có vãy và nhờn (seborrheic dermatitis) trên đầu, cổ, mặt, ngực trên. Tiêu thụ đủ vitamin B6 thường phục hồi da lại bình thường.
  • Môi bị nứt và đau ở khoé môi . Tiêu thụ đủ B6 bằng dinh dưỡng hay phụ trợ B6 có thể làm lành triệu chứng này.
  • Lưỡi đau và láng. Tiêu thụ thức ăn chứa nhiều vitamin B6 hoặc uống phụ trợ B6 có thể giúp hết triệu chứng này . Thiếu B9 và B12 cũng gây triệu chứng này.
  • Tâm tính thay đổi . Cần có B6 để tạo nên tín hiệu thần kinh điều khiển tâm tính. Vì thế thiếu B6 sẽ làm tâm tính bớt  tính tích cực, gây nên lo âu, trầm cảm , tiêu cực và thờ ơ.
  • Hệ miễn nhiễm yếu đi.. Thiếu B6 sẽ làm giảm số lượng kháng thể (antibodies), bạch cầu và những chất khác  tạo ra trong cơ thể để chống nhiễm trùng  làm cho cơ thể dễ bị bịnh.
  • Mệt mỏi và thiếu sinh lực. Cần cóVitamin B6  để tạo nên huyết cầu tố hemoglobin trong hồng cầu. Thiếu B6 đưa đến thiếu huyết cầu tố để đem oxy tới các tế bào. Vì thế thiếu B6 sẽ làm cơ thể thiếu máu, mệt mỏi và thiếu sinh lực. Triêu chứng thiếu máu này sẽ hết khi uống phụ trợ B6 dưới dạng “ pyridoxal 5’-phosphate (PLP hoặc P-5-P). Đây là dạng B6  năng động nhất (most active), so với B6 không năng động là pyridoxine hydrochloride (HCl).
  • Cảm giác đau như bị kim chích trên tay và chân. Vitamin B6 cũng cần cho hệ thống đưa tin thần kinh. Thiếu B6 có thể gây thiệt hại thần kinh gây cảm giác nóng bừng ở chân hoặc đau như kim chích ở tay chân và cũng có thể làm mất thăng bằng, đi đứng khó khăn. Uống đủ B6 PLP sẽ giúp thoát khỏi triệu chứng này. Tuy nhiên nếu cứ uống B6 dạng HCL liên tục có thể gây rốí thần kinh vì peridoxine HCl sẽ tranh giành và cản trở PLP trong cơ thể.  Sức khoẻ thần kinh sẽ phục hồi khi uống phụ trợ PLP nếu thần kinh bị hư hại vì thiếu B6.Ngược lại nếu thần kinh bị hư hại vì uống quá nhiều Pyridoxine HCl thì không thể phục hồi được. (Gropper & Smith, 2013)
  • Động kinh (seizure). Thiếu B6 có thể là một trong những nguyên nhân gây nên động kinh vì thiếu B6 thì cơ thể không sản xuất đủ chất phát tín hiệu làm dịu thần kinh Gabapentin. Hậu quả là cơ thể bị kích động quá mức.  Tình trạng này thường xãy ra cho trẻ sơ sinh dùng công thức dinh dưỡng thiếu B6, nhưng cũng có thể xãy ra cho người lớn.
  • Tăng nguy cơ tai biến mạch máu não (stroke), suy tim và bịnh mất trí nhớ Alzheimer’s vì chất homocysteine, một phụ chất phụ sinh ra trong quy trình chuyền hoá chất đạm, bị lên cao gây thiệt hại cho mạch máu và thần kinh. Cần có Vitamin B như B6, B9 và B12 để biến chế homocysteine thành những chất không độc. (Pietrzik  & Brönstrup ,1998)

Thức ăn chứa nhiều B6 nhất gồm

  • Thịt ức không da của gà tây rô ti
  • Thịt lưng heo rô ti
  • Thịt ức (bỏ da) gà luộc
  • Cá Hồi (salmon)
  • Trứng gà
  • Ớt ngọt (sweet red pepper) tươi
  • Chuối, khoai tây nướng luôn vỏ, avocado, mận khô (prune), hạt hoa hướng dương rang.
  • Trái cây (ngoại trừ chanh cam)

Nếu ăn đủ thịt, rau quả và hạt có dầu thì không sợ thiếu B6. Nếu ăn chay thì có thể cần uống them B6 vì, B6 trong rau quả hấp thụ ít hơn là trong thịt cá.

Xin lưu ý là tiêu thụ B6 quá nhiều có thể gây rối loạn thần kinh (neuropathy) nhất là B6 dạng Pyridoxine Hydrochloride . Liều B6 tối đa an toàn là 100 mg /ngày cho người lớn và nếu chọn được B6 dưới dạng PLP (pyridoxal 5’-phosphate) thì tốt hơn.

Lưu ý:

Bài này được trình bày với mục đích thông tin thôi chứ không thay thế ý kiến của y sĩ của người đọc.

Tham Khảo

Bird RP (2017). The Emerging Role of Vitamin B6 in Inflammation and Carcinogenesis [Abstract].

Adv Food Nutr Res. 2018;83:151-194. doi: 10.1016/bs.afnr.2017.11.004.

Gropper S.S. & Smith, J.L. (2013)  Advanced Nutrition and Human Metabolism. International Edition (6th edition). WADSWORTH CENGAGE Learning. Canada

Healthline (n.d. ,1) 9 Signs and Symptoms of Vitamin B6 Deficiency. Healthline.com

https://www.healthline.com/nutrition/vitamin-b6-deficiency-symptoms

Healthline  (n.d., 2) 9 Signs and Symptoms of Vitamin B12 Deficiency. Healthline.com

https://www.healthline.com/nutrition/vitamin-b12-deficiency-symptoms#section8

Minisry of Health. Folate/ Folic Acid . https://www.health.govt.nz/our-work/preventative-health-wellness/nutrition/folate-folic-acid#what_is_NTD

NIH (n.d.) Vitamin B6. Fact Sheet for Health Professional. National Institutes of Health. https://ods.od.nih.gov/factsheets/VitaminB6-HealthProfessional/

Nordqvist, C. (2017,1) Why do we need biotin, or Vitamin B7? MedicalNewsToday.  https://www.medicalnewstoday.com/articles/219718.php

Nordqvist, C. (2017, 2) What to know about folic acid. MedicalNewsToday.   https://www.medicalnewstoday.com/articles/219853.php

Pietrzik K, Brönstrup A . (1998) Vitamins B12, B6 and folate as determinants of homocysteine concentration in the healthy population. Eur J Pediatr. 1998 Apr.

Lợi ích tuyệt vời của dầu dừa

Lợi ích sức khoẻ của dầu dừa

Dầu dừa có thể giúp cơ thể khoẻ mạnh, tăng năng lực, ngăn ngừa và giảm triệu chứng nhiều bệnh mãn tính như bệnh tim mạch, bệnh ung thư, mất trí nhớ, lỡ loét đường ruột, tiểu đường, viêm khớp, bệnh viêm da, hư tóc, viêm nướu, mập phì, khô da, viêm lá lách, loãng xương và bịnh già. Kinh nghiệm dân gian ở nhiều quốc gia Á châu và Thái bình Dương và kết quả nghiên cứu khoa học đã xác nhận như vậy. Ngoài ra dầu dừa là món dầu mỡ tốt nhất dùng để nấu thức ăn vì nó có tính bảo hoà, không biến chất ở nhiệt độ cao.

Sơ lược

Với khoảng 1500 nghiên cứu khoa học về đặc tính và lợi ích sức khoẻ của dầu dừa, dầu dừa được công nhận là thực phẩm tự nhiên siêu hạng. Mặc dầu trong năm 2018, TS Karin Michels, một giáo sư ở Đại học Harvard tuyên bố dầu dừa là độc hại, bà ta và không ai đưa ra được bằng chứng cụ thể cho thấy có một người nào vì tiêu thụ dừa mà hại đến sức khoẻ. Ngược lại bằng chứng về lợi ích của dầu dừa cho sức khoẻ thì hằng hà sa số.

Bằng chứng hùng hồn nhất là rất hiếm người bị bịnh tim mạch, ung thư, mất trí nhớ và tiểu đường ở những vùng khi cơm dừa và dầu dừa  trước năm 1960 là nguồn chất béo dinh dưỡng chủ yếu, như Việt nam,  Tích lan, Thái Lan, Mã lai, Ấn đô, Nam dương, và các đảoThái bình Dương. Theo kết quả nghiên cứu về lien hệ giữa mức tiêu thụ dừa và sức khoẻ của cư dân đảo Tích Lan, Pakapuka và Tolekau, khi dừa là nguồn mỡ chính trong dinh dưỡng hàng ngày, cư dân những đảo này không hề biết các triệu chứng bịnh tim mạch, ung thư ruột, xơ vữa động mạch,  trĩ, lỡ loét đường ruột, ruột dư… (Prior, Davidson, Salmond & Czochanska, 1981 trích trong sách của  Bruce Fife, 1999).

Ngoài cách dùng dầu dừa để nấu ăn, chúng ta còn có thể ăn mỗi ngày 3 muỗng canh dầu dừa để bảo vệ sức khoẻ bằng cách hoà 1-2 muỗng canh (tablespoon – muỗng lớn) dầu dừa vào cốc cà phê hoặc vào chén canh rau, hoặc chén cháo hoặc rưới vào sà lách trộn.

Xin thận trọng: Dầu dừa có nhiều lợi ích cho sức khoẻ, nhưng chỉ là một phần trong chế độ ăn uống lành mạnh. Ăn dầu dừa nhiều mà thiếu rau quả có chất xơ sẽ tạo nên tình trạng mất thăng bằng có thể có hại cho sức khoẻ. 

Tốt nhất là dùng dầu dừa ép lạnh nguyên chất. Tuy nhiên dầu dừa sản xuát bằng phương pháp thủ công, theo qui trình nạo cơm dừa, vắt nước cơm dừa, nấu cho bay hơi chỉ còn dầu như cách của cư dân Bến tre (https://www.youtube.com/watch?v=PZgBLePUVhE&t=553s) hoặc cách làm mới nhanh hơn ( https://www.youtube.com/watch?v=LYTrQqn3FCc ) , cũng không làm mất các hoạt chất bổ dưỡng của dầu dừa. Nên tránh dầu dừa khử mùi vì có thể có thêm hoá chất độc hại dùng trong qui trình khử mùi.

Thành phần axit béo chủ yếu dầu dừa gồm:

– Axit béo bảo hoà: 88% gồm

                                                      Axit caprylic (8 car bon): 8%

Axit capric (10 car bon): 7%

                                                    Axit lauric (12  car bon): 48%

                                                      Axit Myristic: (14 car bon): 16%

                                                      Axit palmitic ( 16 car bon): 10%

Axit béo  không bảo hoà: 12%

                                                      Axit oleic: 18 carbon :  6.5%

                                                      Axit khác:                               5%

(Nguồn:  https://en.wikipedia.org/wiki/Coconut_oil)

Axit béo bảo hoà trong dầu dừa không giống axit béo bảo hoà trong mỡ động vật và các nguồn khác ở chổ hầu hết axit bảo hoà của dầu dừa là axit tầm trung, có phân tử nhỏ, có thể đi thẳng vào máu và gan, thành nhiên liệu cho cơ thể – nhất là cho não bộ- có hoạt tính sát trùng, tăng khả năng hấp thụ vitamin và khoáng chất của cơ thể, và không trở thành mỡ trong cơ thể. Dầu dừa chủ yếu là axit béo bảo hoà, rất ổn định, không bị oxy hoá, và không biến chất trong quá trình nấu ăn vì vậy là loại dầu mỡ tốt nhất để nấu ăn.

Lợi ích sức khoẻ: Theo kinh nghiệm dân gian và kết quả nghiên cứu khoa học, dầu dừa được công nhận có những lợi ích sức khoẻ sau đây:

  1. Ngăn ngừa bịnh tim mạch và cao huyết áp. Theo các nghiên cứu lâm sàng sử dụng dầu dừa tự nhiên  với hơn 60 % axit béo chuỗi cac bon dài hạng trung, dầu dừa có tác dụng tăng mức mỡ máu tốt (HDL cholesterol) và  giảm vòng bụng (Cardioso, de Oliverira , Luiz & Rosa, 2015; Dayrit, 2014, trang 162-3). Vì vậy tiêu thụ dầu dừa (thay vì dầu tinh chế) sẽ giúp ngăn ngừa bịnh tim mạch và cao huyết áp. Trước năm 1978, Tích Lan là nơi cư dân ít bị bịnh tim mạch nhất khi mỗi người tiêu thụ trung bình 130 trái dừa 1 năm. Đến năm 2003 thì bịnh tim mạch gia tăng nhanh khi mức tiêu thụ dừa giảm còn 100-110 trái dừa/đầu người /năm. (Amarasiri & Dissanayake, 2006).
  2. Cải thiện trí nhớ và chức năng não bộ cho bệnh nhân Alzheimer’s và người già.  Khi ăn vào, axit béo chuổi cac bon tầm trung (MCFA) trong dầu dừa sẽ vào thẳng gan. Gan sẽ chuyển nó thành ketones. Ketones có thể vượt qua hang rào máu-não bộ (blood-brain barrier) trở thành năng lượng cho não. Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy não bộ tạo ra insulin riêng để chuyển biến glucose và cung cấp năng lượng cho não. Vì não bộ của người bệnh Alheimer’s mất khả năng tạo insulin này, ketones trong máu tạo ra ở gan từ dầu dừa được não bộ sử dụng như một nguồn năng lượng thay thế để chữa lành chức năng não bộ – và trí nhớ (Nafar & Mearow , 2014; Newport et al, 2015). Đã có nhiều kết quả nghiên cứu lâm sàng (Ota et al, 2019; Croteau et al, 2018) chứng tỏ sử dụng dầu dừa giúp những người bị bịnh Alzheimers phục hồi trí nhớ và chức năng trí não rất đáng kể ngay sau khoảng 6 tuần lễ. Bác sĩ Mary Newport là một trong những người đầu tiên dung dầu dừa để phục hồi trí nhớ của chồng mình một cách đáng kể chỉ sau 35 ngày (Newport, 2008).

3. Trị nhiễm trùng đường tiểu,  nhiễm trùng thận và bảo vệ gan. Dầu dừa chứa axit béo tầm trung, nhất là axit caprylic và axit capric có tính diệt vi sinh trùng rất mạnh. Hầu hết nhiễm trùng đường tiểu là do vi trùng E. Coli gây ra. Kết quả nghiên cứu của Nair et al (2005) đang trên tạp chí khoa học Sửa bò (J. Dairy Science) khám phá  axit caprylic có tác dụng diệt E. Coli , vi trùng dòng Staphylococcus  và Streptococcus  rất công hiệu. Vì vậy dầu dừa có thể dùng để trị nhiễm trùng đường tiểu, bảo vệ thận, gan và đường ruột khỏi tai hại của vi trùng E. Coli.

4. Giảm viêm cơ thể và viêm khớp. Kết quả một công trình nghiên cứu  tại Ấn độ xác định dầu dừa giảm viêm và chữa trị thấp khớp hữu hiệu hơn thuốc tây thịnh hành. (Vysakh et al , 2014).

5. Phòng ngừa và trị ung thư.  Kết quả nghiên cứu đang trên tạp chí Cell Death Discov cho thấy axit lo-ric trong dầu dừa có tác dụng ngăn cản sự phát triển của tế bào ung thư ruột già và kích động cơ chế tự diệt trong những tế bào ung thư vú và tử cung (Lappano et al, 2017). Xin xem kinh nghiệm dùng dầu dừa chữa ung thư của Julie Figaro

6. Tăng cường hệ miễn nhiễm và tăng sức đề kháng của cơ thể. Vì 50 % dầu dừa là axit lauric có tác dụng diệt vi trùng, vi khuẩn và nấm vi sinh thuộc nhóm vi-sinh gram-positive (Kabara, Swieczkowski, Lonley, & Truant, 1972) nên khi dầu dừa là nguồn dinh dưỡng axit béo chính, cơ thể có thể có hệ miễn nhiễm và đề kháng rất lớn nhất là đối với những bịnh do vi trùng gram-positive gây nên như

  • nhiễm trùng gây viêm gồm cả nhiễm trùng da, viêm phổi, viêm màng tim, viêm khớp, viêm xương tuỷ, ung nhọt (pneumonia, endocarditis, septic arthritis, osteomyelitis, and abscesses),
  • viêm xoang, viêm màng não (sinusitis, meningitis),
  • nhiễm trùng sinh mủ như viêm họng, viêm dưới da, bệnh chốc lỡ, viêm quầng (pharyngitis, cellulitis, impetigo, erysipelas)
  • viêm thận (glomerulonephritis) sốt thấp khớp (rheumatic fever), viêm ống túi mật, nhiễm trùng đường tiểu,
  • viêm màng họng , viêm cơ tim, và chứng loạn nhịp tim (arrhythmias)
  • viêm dạ dày và ruột (gastroenteritis), viêm màng não trẻ sơ sinh (neonatal meningitis) và
  • nhiễm trùng máu.

(Sizar & Unakal, 2019)

7. Tăng sinh lực và sức chịu đựng. Dầu dừa dễ tiêu hoá , cung cấp năng lượng lâu dài hơn thức ăn khác và tăng nhịp độ chuyển hoá. Khi tiêu thụ dầu dừa ép lạnh cơ thể nhanh chóng được cung cấp năng lượng vì axit lauric, axit crapylic và capric trong dầu dừa đi thẳng tới gan để được biến thành năng lương.  Dầu dừa được các vận động viên điền kinh dùng khi tập luyện cung như khi tranh tài. Theo bác sĩ Axe,  dầu dừa, mật ong và hạt chia (chia seeds) một thứ 1 muỗng canh trộn với nhau rồi dùng 30 phút trước khi tập luyện hay bắt đầu công việc lao lực.

8. Cải thiện tiêu hoá, trị lỡ loét bao tử (stomach ulcers) và ruột già (ulcerative colitis). Dầu dừa giúp cơ thể hấp thụ vitamin D, A, K và E cũng như calcium và magnesium nên giúp cãi thiện tiêu hoá.  Nếu dùng dầu dừa cùng một lúc với dầu chứa ô mê ga 3 như dầu cá và dầu hạt lanh (flaxseed oil), công hiệu của nó tăng gấp đôi (Axe, 2018). Dầu dừa cũng giúp diệt những vi sinh độc hại trong đường ruột nên giảm viêm đường ruột và gíup ngăn ngừa cũng như chữa trị bịnh lỡ loét bao tử và đường ruột (Whiteman, 2017)

9. Giảm triệu chứng bịnh túi mật  (gallbladder disease) và viêm lá lách (pancreatitis). Lá lach không cần sản xuất enzyme để phân hoá axit béo chuổi tầm trung trong dầu dừa. Vì vậy lá lách sẽ không bị quá tải (và viêm) khi chúng ta tiêu thụ dầu dừa thay vì những chất béo khác. Thêm vào đó dầu dừa rất dễ tiêu hoá nên giúp cải thiện những bịnh liên quan đến túi mật khi chúng ta thay thế những chất béo khác bằng dầu dừa (Axe, n.d.; Fife, 1999).

10. Cải thiện tình trạng da  như khô da, mụn trứng cá (acne) (Nakatsuji et al, 2009), gầu (dandruff), viêm da (dermatitis) ( Elmore, Nance, Singleton & Lorenz, 2014).

11. Ngừa và trị bịnh sưng nướu (gum disease) và hư răng (tooth decay). Axit lauric chiếm 50% axit béo trong dầu dừa có hoạt tính chống viêm và diệt vi sinh độc hại. Súc miệng bằng dầu dừa để giữ vệ sinh răng miệng, chữa trị chứng sưng nướu, ngừa hư răng đã được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới từ ngàn năm qua. Công dụng của truyền thống này đã được xác nhận qua một cuộc nghiên cứu lâm sàng năm 2015 (Peedikayil,  Sreenivasan and Narayanan, 2015) Nếu muốn chữa lành chứng sưng nướu và bảo vệ răng, chúng ta cần súc miệng bằng dầu dừa 15- 20 phút ( giữ trong miệng) mỗi ngày (hoặc ít nhất 3 lần một tuần).  Nhớ nhổ dầu dừa ra và súc miệng kỹ càng sau đó.  Bịnh viêm nướu nếu không trị sớm để dây dưa có thể gây nhiễm trùng các nội tạng, nhất là tim vì vi sinh độc nhiễm vào nướu sẽ vào máu và xâm lăng nội tạng.

12. Ngừa và trị bịnh loãng xương (osteoporosis).  Kết quả nghiên cứu của Hayatullina et al năm 2016 chứng tỏ dầu dừa có tác dụng giúp ngừa và trị bịnh loãng xương rất tốt. Thứ nhất nhờ dầu dừa có hoạt tính chống oxit hoá và giảm áp lực ôxit hoá (oxidative stress). Thứ hai nhờ dầu dừa tăng (hay phục hồi) khả năng hấp thụ calcium và cân bằng hoc môn (Feranil, Duazo,  Kuzawa & Adair, 2011). 

13. Ngăn ngừa và cải thiện bịnh tiểu đường (Diabetes type 2 ). Học viện nghiên cứu y khoa Garvan tại Úc khám phá là chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa bảo  vệ tính nhạy ứng insulin bình thường của các tế bào trong cơ thể và làm giảm mỡ (giảm cân) cho những người có nhiều mỡ. Nói cách khác, chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa giúp cơ thể chữa lành bịnh tiểu đường (Turner, 2009). Theo TS Turner, sỡ dĩ dầu dừa có tác dụng này vì dầu dừa là một loại mỡ có chuổi a-xit mỡ tầm trung (medium chain fatty acids), có kích cở nhỏ đủ để vào thẳng tiểu thể (mitochondria)  nhà máy năng lượng – của các tế bào. Sự kiện này không khác gì trường hợp các tế bào phải dùng mỡ làm nhiên liệu trong lúc nhịn ăn theo nghiên cứu của Cahill ( 2006), nghĩa là làm các tế bào tăng nhạy ứng hay giảm tính đề kháng insulin – dẫn đến tác dụng chấm dứt bệnh tiểu đường. TS Turner còn giải thích: Khi ăn nhiều mỡ, cơ thể cố gắng bù chỉnh (compensate) bằng cách tăng khả năng oxit hoá mỡ. Chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa có tác dụng gia tăng khả năng oxit hoá ở bắp thịt hơn là các loại dầu mỡ khác, làm giảm mỡ chứa trong bắp thịt và cải thiện tác dụng của insulin. 

Nhiều người đã làm chứng là nhờ theo chế độ ăn uống nhiều dầu dừa (ít nhất 3 muỗng canh hay 50 – 60 phân khối chia ra làm 3 lần một ngày) họ đã hết bịnh tiểu đường trong vòng 1-2 tháng (Shilharvy, 2012)

14. Phòng ngừa và trị bịnh mập phì (nhất là ở vùng bụng). Nhiều kết quả nghiên cứu xác định axit béo chuổi tầm trung  trong dầu dừa có tác dụng đốt mỡ trắng, tăng tiêu thụ năng lựợng và làm giảm vòng bụng, ngược với tác dụng tăng vòng bụng của dầu đậu nành (Dayrit, 2014, trang 162-3)

15. Dầu dừa làm đẹp tóc, trị gầu, kích thích mọc tóc nhiều (thickening hair) nhờ có hoạt tính chống vi trùng (anti-microbial) mạnh, có axit lo rit và axit béo chuổi dài tầm trung  (medium chain fatty acids). Axit lo-rit  có phân tử lượng thấp và có thể thấm vào chân tóc, ngăn cản thất thoát chất đạm ( nên tóc không bị dòn và gãy) và  bồi dưỡng tóc với  vitamins, khoáng chất (Rele & Mohile , 2003). Vì vậy dầu dừa bổ dưỡng tóc, da đầu và giúp tóc mọc lại.

Muốn trị gầu và kích thích tóc mọc dày  thì xoa bóp 1 muỗng canh (muỗng lớn 15 phân khối) trộn với 10 giọt tinh dầu hương thảo (rosemary essential oil)  lên da đầu chừng 3 phút rồi chờ 30 phút sau gội đầu. Dầu dừa có thể dùng để chải gở tóc rối, bồi dưỡng tóc (hair conditioner) tuyệt vời. Nên biết rằng gầu không phải chỉ là do da đầu khô mà do loại nấm tên gọi là Malassezia globosa (Dr Axe, ) gây nên vì vậy dầu dừa với hoạt tính kháng sinh – kể cả nấm vi sinh-  có công hiệu trị gầu tốt nhất.

16. Giết chí tóc (head lice). Theo thử nghiệm lâm sàng đăng trong Tạp chí Nhi KHoa Âu châu, dầu dừa giết chí tóc hữu hiệu gấp đôi thuốc tây trị chí thông dụng Permetrin (Burgess, Brunton & Burgess, 2010) mà tránh được hoá chất độc hại trong thuốc tây.

 17. Trị bịnh ngứa miệng và bộ phận sinh dục do nhiễm trùng nấm Candida albican và nấm vi sinh (yeast infections) (Bergsson, Arnfinnsson & Thormar, 2001). Muốn hữu hiệu diệt trừ nấm Candida và các chứng nhiễm trùng nấm vi sinh khác phải 1. ngừng tiêu thụ đường chế biến (ngoại trừ đường trong trái cây rau quả) và ngũ cốc tinh chế (refined grains) 2.  ăn nhiều chất béo lành mạnh như dầu dừa, dầu ô liu. 3. Uống 1 muỗng canh dầu dừa  ba lần một ngày như chất dinh dưỡng phụ trợ.

18. Làm chậm già. Theo kết quả nghiên cứu đăng trên tạp chí  Food and Function, dầu dừa cải thiện mức chống ôc xít hoá và có thể làm chậm diễn trình lão hoá vì nó giảm gánh nặng làm việc cho gan và hạ áp lực ôc xy hoá (oxidative stress) (Arunima  & Rajamohan , 2013) . Dầu dừa cũng hổ trợ chức năng tẩy độc của gan. Để làm chậm già một cách tự nhiên, chúng ta nên ăn điểm tâm với 1 muỗng canh (tablespoon) dầu dừa chung với một ít quả mọng (berries). Đồng thời mỗi ngày có thể xoa dầu dừa trưc tiếp lên da.

19. Cân bằng hoc môn. Kết quả  nghiên cứu tình trạng sức khoẻ của phụ nữ Phi luât Tân cho thấy tiêu thụ nhiều dầu dừa tăng mức mỡ máu tốt (HDL cholesterol) giúp cân bằng hoc môn estrogen qua giai đoạn mãn kinh (Feranil, Duazo,  Kuzawa & Adair, 2011).  Những người thiếu estrogen thường bị loãng xương, vì vậy dầu dừa giúp ngăn ngừa bệnh loãng xương cho phụ nữ mãn kinh.

Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến và hướng dẫn của bác sĩ.

Xin xem kinh nghiệm của một số người dùng dầu dừa trị bịnh:

– của 1 chuyên gia y tế

Tham khảo:

Amarasiri, W.A.D.L. & Dissanayake A.S. (2006).  Coconut fats. THE CEYLON MEDICAL JOURNAL. Sri Lanka Medical Association. Volume 51, No. 2, December 2006 https://cmj.sljol.info/articles/10.4038/cmj.v51i2.1351/galley/1200/download/

Arunima S. & Rajamohan T. (2013). Effect of virgin coconut oil enriched diet on the antioxidant status and paraoxonase 1 activity in ameliorating the oxidative stress in rats – a comparative study. Food Funct. 2013 Sep;4(9):1402-9. doi: 10.1039/c3fo60085h https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23892389

 Burgess, I.F, Brunton, E.R. & Burgess, N.A. (2010) Clinical trial showing superiority of a coconut and anise spray over permethrin 0.43% lotion for head louse infestation, ISRCTN96469780. Eur J Pediatr. 2010 Jan;169(1):55-62. doi: 10.1007/s00431-009-0978-0. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19343362

Axe, J. (2018) 20 Coconut Oil Benefits for Your Brain, Heart, Joints + More! https://draxe.com/coconut-oil-benefits/

Bergsson, G., Arnfinnsson, J. & Thormar, H. (2001) In Vitro Killing of Candida albicans by Fatty Acids and Monoglycerides. Antimicrob Agents Chemother. 2001 Nov; 45(11): 3209–3212. doi: 10.1128/AAC.45.11.3209-3212.2001. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC90807/

Cardioso, A.A, de Oliverira , G. M.M., Luiz, R.R. & Rosa, G. (2015). A coconut extra virgin oil-rich diet increases HDL cholesterol and decreases waist circumference and body mass in coronary artery disease patients. Nutricion Hospitalaria. Nutr Hosp. 2015;32(5):2144-2152 http://www.nutricionhospitalaria.com/pdf/9642.pdf

Croteau E., Castellano C.A., Richard M.A., Fortier M., Nugent S., Lepage M., Duchesne S., Whittingstall K., Turcotte É.E., Bocti C., Fülöp T., Cunnane S.C. (2018). Ketogenic Medium Chain Triglycerides Increase Brain Energy Metabolism in Alzheimer’s Disease [Abstract] . J Alzheimers Dis. 2018;64(2):551-561. doi: 10.3233/JAD-180202.

Dayrit, F.M. (2014). Lauric Acid is a Medium-Chain Fatty Acid, Coconut Oil is a Medium-Chain Triglyceride -Review Article. Philippine Journal of Science 143 (2): 157-166, December 2014 ISSN 0031 – 7683. https://pdfs.semanticscholar.org/34bc/db43c84b418b4b309c1c6babe1c873dc900a.pdf

Elmore, L.K., Nance, G., Singleton, G., Lorenz, L. (2014) .Treatment of Dermal Infections With Topical Coconut Oil. A review of efficacy and safety of Cocos nucifera L. in treating skin infections. Natural Medicine Journal. May 2014 Vol. 6 Issue. https://www.naturalmedicinejournal.com/journal/2014-05/treatment-dermal-infections-topical-coconut-oil

Faizal C., Peedikayil, F.C., Prat Sreenivasan, P., & Narayanan, A. (2015). Effect of coconut oil in plaque related gingivitis — A preliminary report. Niger Med J. 2015 Mar-Apr; 56(2): 143–147. doi: 10.4103/0300-1652.153406

Feranil, A.B., Duazo, P.L., Kuzawa, C.W. & Adair, L.S. (2011). Coconut oil predicts a beneficial lipid profile in pre-menopausal women in the Philippines. Asia Pac J Clin Nutr. 2011; 20(2): 190–195. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3146349/

Fife, B. (1999). The coconut oil miracle. Penguin Group (USA) ISBN 1-58333-204-9

Hayatullina Z., Muhammad N., Mohamed N, Soelaiman I.N. (2016) Virgin coconut oil supplementation prevents bone loss in osteoporosis rat model [Abstract]. Evid Based Complement Alternat Med. 2012;2012:237236. Epub 2012 Sep 16. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23024690

Healthline (n.d.) 7 science-based benefits of MCT oil. https://www.healthline.com/nutrition/mct-oil-benefits#section2

Jockers (2017) Is coconut oil bad for your heart. https://drjockers.com/coconut-oil-bad/

Kabara, J.J, Swieczkowski, D.M. Lonley, A.J. & Truant, J.P. (1972) Fatty Acids and Derivatives as Antimicrobial Agents. ANTIMICROBIAL AGENTS AND CHEMOTHERAPY, July 1972, p. 23-28. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC444260/pdf/aac00361-0029.pdf

Kaur, C.D. & Saraf, S.(2010).In vitro sun protection factor determination of herbal oils used in cosmetics Pharmacognosy Res. 2010 Jan-Feb; 2(1): 22–25. doi: 10.4103/0974-8490.60586

Lappano, R., Sebastiani, A., Cirillo,F., Rigiracciolo,D.C., 1 Galli, G.R., Curcio, R. … Maggiolini, M. (2017) The lauric acid-activated signaling prompts apoptosis in cancer cells. Cell Death Discov. 2017; 3: 17063 doi: 10.1038/cddiscovery.2017.63. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5601385/

Nafar,  F. & Mearow K.M. (2014). Coconut oil attenuates the effects of amyloid-β on cortical neurons in vitro. J Alzheimers Dis. 2014;39(2):233-7. doi: 10.3233/JAD-131436.

Nair, M.K., Joy J., Vasudevan P., Hinckley L., Hoagland T.A., Venkitanarayanan K.S. (2005) Antibacterial effect of caprylic acid and monocaprylin on major bacterial mastitis pathogens. J Dairy Sci. 2005 Oct;88(10):3488-95. https://www.journalofdairyscience.org/article/S0022-0302(05)73033-2/fulltext#Results

Nakatsuji T., Kao M.C., Fang J.Y., Zouboulis C.C., Zhang L., Gallo R.L., Huang C.M. (2009) Antimicrobial property of lauric acid against Propionibacterium acnes: its therapeutic potential for inflammatory acne vulgaris. J Invest Dermatol. 2009 Oct;129(10):2480-8. doi: 10.1038/jid.2009.93

Newport, M. (2008) What if there is a cure for Alzheimer’s disease and no one knew? http://coconutketones.com/wp-content/uploads/2016/09/whatifcure.pdf

Newport M.T., VanItallie T.B., Kashiwaya Y., King M.T., Veech R.L. (2015). A new way to produce hyperketonemia: use of ketone ester in a case of Alzheimer’s disease. Alzheimers Dement. 2015 Jan;11(1):99-103. doi: 10.1016/j.jalz.2014.01.006.

Ota M., Matsuo J., Ishida I., Takano H., Yokoi Y., Hori H., Yoshida S., Ashida K., Nakamura K., Takahashi T., Kunugi H. (2019). Effects of a medium-chain triglyceride-based ketogenic formula on cognitive function in patients with mild-to-moderate Alzheimer’s disease. Neurosci Lett. 2019 Jan 18;690:232-236. doi: 10.1016/j.neulet.2018.10.048.

Prior, I.A., Davidson, F., Salmond, C.E., Czochanska, Z., 1981. Cholestertol, coconuts, and diet on Polynesian atolls: A natural experiment: The Pukapuka and Tolkelau Island studies. American Journal of Clinical Nutrients 34(8).

Rele, A.S. & Mohile, R.B. (2003)  Effect of mineral oil, sunflower oil, and coconut oil on prevention of hair damage. J Cosmet Sci. 2003 Mar-Apr;54(2):175-92 https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/12715094

Shilhavy, B. (2019) Virgin coconut oil effective in treating diabetes. Health Impact News. https://healthimpactnews.com/2012/virgin-coconut-oil-effective-in-treating-diabetes/

Sizar, O. & Unakal, C.G. (2019) Gram Positive Bacteria. StatsPearl. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK470553/

Turner, N. (2009). How coconut oili could help reduce symptoms of type 2 diabetes. Media release. Garvan Institute of Medical Research. Media release 08 September 2009.

Vysakh A., Ratheesh M., Rajmohanan T.P., Pramod C., Premlal S., Girish kumar B., Sibi P. (2014). Polyphenolics isolated from virgin coconut oil inhibits adjuvant induced arthritis in rats through antioxidant and anti-inflammatory action. Int Immunopharmacol. 2014 May;20(1):124-30. doi: 10.1016/j.intimp.2014.02.026

Whiteman, H. (2017) Plant fats alter gut bacteria to ease Crohn’s symptoms. Medical news today 23 June 2017. https://www.medicalnewstoday.com/articles/318097.php

Tại sao không nên ăn dầu thực vật tinh chế

Dầu thực vật tinh chế (khác với dầu thực vật ép lạnh) có hại cho sức khoẻ vì 1. chúng có quá nhiều axit béo ômega 6 so với ômega 3 nên gây viêm cho cơ thể đưa đến những bịnh của thời đại như là tiểu đường, cao huyết áp, ung thư, mất trí nhớ, phong thấp… 2. Chứa nhiều hoá chất dùng trong qui trình sản xuất có hại cho cơ thể và 3. Các dầu này thoá hoá sinh ra chất độc có hai cho cơ thể dùng để nấu ăn (từ 70 độ C hay 158 độ F) gây ra nhiều bịnh mãn tính như ung thư, tim mạch và bịnh tâm thần.

Dầu ăn tốt nhất là dầu ôliu nguyên chất ép lạnh và dầu trái bơ ép lạnh.

Dầu ăn tốt nhất cho việc chiên  xào nấu nướng là dầu dừa ép lạnh, vì 90% dầu dừa là axit béo bảo hoà không thay đổi khi bị nóng. Nhưng dầu ô liu cũng tốt cho việc chiên xào vì có nhiều mỡ đơn kết nên ít bị biến chất ở nhiệt độ cao.

Cho tới thời gian gần đây tôi nghe bác sĩ và nhiều nguồn thông tin bảo rằng ăn mỡ động vật có thể gây bịnh tim mạch. Còn dầu thực vật là tốt cho sức khoẻ, nhất là tim mạch. Nhưng bây giờ tôi mới biết đó là lời khuyên sai, dựa trên cơ bản khoa học què quặt. Nghiên cứu y học đã làm sáng tỏ vấn đề cho biết mỡ động vật, hãy mỡ bảo hoà có vai trò quan trọng cho sức khoẻ khi dùng vừa phải. Trong khi đó dầu thực vật tinh chế có hại cho cơ thể vì những lý do sau đây:

1. Dầu thực vật tinh chế có quá nhiều a-xit mỡ ô-mê-ga 6 so với a-xit mỡ ô-mê-ga 3, gây viêm cho cơ thể.

Cơ thể chúng ta cần cả hai thứ mỡ omega 6 và omega 3, tỉ lệ omega 6 và o mega 3 phải cân bằng. Tốt nhất là tỉ lệ này nằm trong khoảng 1:1 – 4: 1. Phần lớn Ômêga 6 có khuynh hướng tăng viêm trong khi omega 3 hạ viêm.  

Tỉ lệ omega 6 và ômega 3 rất cao trong những dầu thực vật tinh chế thịnh hành.

Tỉ lệ này là

  • 54:1    dầu hạt bông (cotton seed)
  • 58:1    dầu bắp ngô (corn)  
  • 51:7    dầu đậu nành (soya bean)
  • 66 : 0  dầu hạt hoa hướng dương (standard sunflower)
  • 31:0    dầu phụng (peanut)
  • 75:0    dầu hạt nho  (grapeseed)

Ngoại trừ dầu phộng, axit béo ômega 6 chiếm hơn 50 % trọng lượng những loại dầu này. Xem thành phần axit béo trong dầu thực vật

Xin lưu ý là dầu ô liu và dầu bơ (ép lạnh ) có tỉ lệ omega 6 /omega3 khá cao nhưng lại là loại dầu tốt nhất cho sức khoẻ vì tổng số axit mỡ đa kết không bảo hoà rất thấp (10-13% trọng lượng) trong khi có tỉ lệ tổng axit béo đơn kết không bảo hoà  oleic ômega 9 rất cao (70-73%) xin xem bảng 1). Hơn nữa không phải thêm hoá chất  trong qui trình sản xuất dầu ép lạnh.

Tiêu thụ dầu ăn chứa quá nhiều omega 6 so với ômega 3 lâu dài làm cho cơ thể bị viêm mãn tính trầm trọng. Nhịp độ gia tăng viêm cơ thể quá nhanh trên thế giới  trong 50 năm nay là nguyên nhân gia tăng những bịnh mãn tính nguy hiểm như

  • Tiểu đường loại 2
  • Rối loạn chuyển hoá / tiền tiểu đường (Metabolic syndrome or pre-diabetic)
  • Rối loạn đường ruột (IBS)
  • Viêm đường ruột (inflammatory bowel disease IBD)
  • Bịnh mỡ gan- không vì rượu (nonalcoholic fatty liver disease NAFLD),
  • Bịnh tim mạch (cardiovascular disease),
  • Mập phì (obesity),
  • Hen suyển (asthma)
  • Ung thư
  • Phong thấp (rheumatoid arthritis),
  • Bịnh tự miễn nhiễm (Autoimmune disease)
  • Alzheimer’s  (AD) và 
  • Những bệnh rối loạn tâm thần.

2. Dầu ăn tinh chế chứa nhiều hoá chất có hại cho sức khoẻ.

Dầu ăn tinh chế được sản xuất bằng cách dùng hoá chất để chiết dầu từ các hạt và cũng dùng hoá chất, nhất là hai chất BHA and BHT (Butylated Hydroxyanisole and Butylated Hydroxytoluene) để bảo quản. Hai chất này được các cơ quan y tế thế giới cảnh báo là có thể gây ung thư, gây hại cho thận, gây rối hệ thống miễn nhiễm và ảnh hưởng tâm thần trẻ em. Thêm vào đó, dầu ăn thực vật tinh chế còn chứa tàn dư hoá chất diệt sâu diệt bịnh và sinh thể gen biến đổi (gen modified organism) có ảnh hưởng bất lợi cho sức khoẻ.

Điển hình là dầu Canola. 87-90% canola trồng ở Mỹ và Canada thuộc giống bị biến gen. Dầu Canola có lượng ômega 3 và axit béo đơn không bảo hoà khá cao. Nhưng Canola giống như các loại dầu tinh chế khác  đều phải đi qua qui trình sản xuất gồm tinh chế (refining), tẩy trắng (bleaching) và loại bỏ chất nhựa (degumming) tất cả đều cần hoá chất và nhiệt độ cao làm mất ômega 3, tạo ra mỡ “trans fat” có hại cho sức khoẻ.

Theo tạp chí nghiên cứu Environmental Sciences Europe năm 2011, 19 công trình nghiên cứu về hạt biến gen đều đi đến kết luận thức ăn biến gen gây thiệt hại cho gan và thận.

Axit erucic và transfat trong Canola gây bịnh tim mạch, gây viêm và làm đóng vôi thành mạch máu, tăng huyết áp và tăng nguy cơ đột quỵ, cũng như tai biến mạch máu não.

3.  Dầu thực vật  tạo ra chất độc khi dùng nấu ăn

Ngoại trừ dầu dừa chứa 90% là axit béo bảo hoà và dầu ô liu chứa 71 % axit béo đơn kết không bảo hoà, tất cả dầu thực vật khác phần lớn là axit béo đa kết không bảo hoà nên dễ bị oxy hoá biến thành chất cực hại tự do (free radicals) gây viêm cho cơ thể.

Chỉ cần nóng tới 70 độ C hay (158 độ F), các loại dầu thực vật tinh chế cũng như ép lạnh đều bị thoái hoá (degraded). Chiên xào thì sinh ra hydroperoxides  trước tiên, rồi đến aldehydes. Dùng lò vi sóng (microwave oven) để nấu thức ăn có dầu ăn tinh chế thì dầu ăn tinh chế thoái hoá thành aldehydes. Hydroperoxide là một chất ROS (reactive oxygen species) dễ dàng lan tràn qua các thế bào gây hậu quả tai hại cho các tế bào. Aldehydes là  chất độc liên hệ đến nhiều chứng bịnh thoái hoá kể cả bịnh tim, ung thư và bịnh mất trí nhớ (Dementia, Alzheimer’s).

Xin lưu ý là hầu hết thực phẩm chế biến đều dùng dầu thực vât tinh chế qua qui trình chế biến ở  nhiệt độ cao. Vì vậy nên tránh tối đa thực phẩm chế biến bao gói sẵn kể cả biscuits, potato chips..

Vậy nên dùng dầu nào.

Thứ nhất nên chỉ nên dùng dầu thực vật sản xuất bằng qui trình ép lạnh. Như dầu ô liu, dầu avocado ép lạnh, dầu hạt lanh  ép lạnh, dầu dừa ép lạnh…

Dầu vậy ngoại trừ dầu dừa và dầu ô liu, chỉ nên ăn sống những thứ dầu ép lạnh khác vì chiên xào sẽ làm chúng biến chất. Bài kế tiếp tôi sẽ tóm tắt thông tin về lợi ích của dầu avocado, dầu ôliu và dầu dừa.

Xin lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến của bác sĩ và y sĩ chăm sóc sức khoẻ cho quý bạn.

Tham khảo:

Alexander, S. (2015) The oil guide: which to use for frying, drizzling and roasting. Telegraph November 2015. https://www.telegraph.co.uk/health-fitness/nutrition/everything-you-know-about-cooking-with-oil-is-wrong/

David Suzuki Foundation (n.d.) The Dirty Dozen: BHA and BHT. https://davidsuzuki.org/queen-of-green/dirty-dozen-bha-bht/

Fundazioa. E. (2005) Toxic substances in the Oxidation of Fats and Oils. Science Daily. July 17, 2005. https://www.sciencedaily.com/releases/2005/06/050617065306.htm

Gropper S. S. & Smith J.L. (2009) Advanced Nutrition and Human Metabolism. 6th Edition. Wadsworth Cengage Learning. Trang 418.

Held, P. (2015)  An Introduction to Reactive Oxygen Species – Measurement of ROS in Cells. Biotek White Paper. https://www.biotek.com/assets/tech_resources/ROS%20White%20Paper_2015.pdf

Healthline News. Why Heart Disease is on the Rise in America https://www.healthline.com/health-news/why-is-heart-disease-on-the-rise#3

Hyman, M. (2016) Why oil is bad for you. https://drhyman.com/blog/2016/01/29/why-oil-is-bad-for-you/

Patterson, E., Wall, R., Fitzegerald, G.F., Ross, R.P. & Stanton, C. (2012). Health Implications of High Dietary Omega-6 Polyunsaturated Fatty Acids. Review Article. Journal of Nutrition and Metabolism. Volume 2012, Article ID 539426, 16 pages. http://dx.doi.org/10.1155/2012/539426

Sifferlin , A. (2018). The 10 best and worst Oils for your health. Time. http://time.com/5342337/best-worst-cooking-oils-for-your-health/

Cẩm Nang – Dùng Vỗ về và Căng Giãn để trị bịnh

Để  có trong tay thông tin ngắn gọn về liêu pháp vỗ đập và căng giãn kề cả công dụng và lợi ích của chúng, xin quý bạn tải xuống hai tờ cẩm nang bỏ túi dưới đây 1. Cẩm nang Cách vỗ đập phòng chống bịnh và trị đau nhức 2. Cẩm nang Các động tác căng giãn giảm đau nhức và trị bịnh. Mỗi cẩm nang chỉ có 2 trang.

Cầm nang Vỗ đâp

Cầm nang Căng giãn

Càng nghiên cứu công dụng của liệu pháp vỗ về (hay vỗ đập) và căng giãn tôi càng thấy cái tuyệt vời của thuyết kinh mạch Đông y. Khai thông được các kinh mạch không những làm giảm được các triệu chứng đau nhức mà còn có thể trị tận gốc nguyên do gây bịnh. Đúng là khi hệ thống kinh mạch khai thông thì cơ chế tự chữa lành của cơ  thể được giải phóng và bắt đầu hoạt động. Lúc đó, cơ thể bắt đầu điều chỉnh và phục hồi các chức năng trở lại trạng thái lành mạnh. Chẳng hạn như sẽ làm trung hoà mức độ axit và viêm trạng (inflamation) trong cơ thể. Trong trường hợp người bị tiểu đường thì cơ thể phục hồi cơ chế chuyển hoá glucose nguyên thuỷ. Đối với người bị mập phì thì cơ thể phục hồi cơ chế chuyển hoá mỡ, cơ chế hấp thụ vôi (calcium) v.v… Vì vậy chúng ta không nên ngạc nhiên khi nghe nhiều người nhờ vỗ đập và căng giãn mà hết tiểu đường, giảm cân, hết viêm khớp, hết bịnh tiền liệt tuyến, bịnh suy tim, bịnh suy thận, bịnh tiểu đường, bịnh loãng xương..

Có thể vì nó đơn giản mà tuyệt vời như vậy nên phần lớn chúng ta không tin và không thử. Thật ra liệu pháp vỗ về và căng giãn tuy đơn giản nhưng đòi hỏi sự kiên nhẫn và tận tuỵ. Vỗ đập đơn giản nhưng tốn nhiều thì giờ và kiên trì nếu chúng ta không vỗ đủ mạnh. Căng giãn tuy đơn giản nhưng không dễ khi chúng ta ít hoạt động và gân cốt đã co rút. Từ từ thực hiện thì cuối cùng chúng ta ai cũng sẽ có thể thực hiện được các thế căng giãn. Cứ nghĩ tới một ngày không xa, 6 tháng, 1 năm nữa không cần phải uống thuốc tiểu đường, thuốc tim mạch, thuốc đau viêm khớp, thuốc loãng xương, thuốc nhức đầu… chúng ta sẽ có động cơ chịu khó áp dụng liệu pháp vỗ đập và căng giãn mỗi ngày.

Song song với liệu pháp vỗ đập và căng giản, chúng ta cũng cần ăn uống cẩn thận, tránh thực phẩm biến chế, giảm thực phẩm gốc động vật, ăn nhiều rau quả, ăn chừng mực, nhai kỹ trước khi nuốt … thì sức khoẻ chúng ta càng ngày càng tốt hơn.

Xin mong  quý bạn sử dụng 2 cẩm nang này để bảo vệ sức khoẻ, một cách bảo vệ lâu dài hơn là dùng thuốc và phổ biến cho người thân. Xin cảm ơn.

Nếu có thắc mắc hay muốn góp ý, xin quý bạn vui lòng liên lạc

yhoctunhienonline@gmailcom

Xin cảm ơn