Liệu pháp Giường Hơi Dốc (Inclined Bed Therapy)

Ngủ giường hơi dốc với góc 5 độ, tức là đầu giường bình thường cao hơn chân giường 15 cm (hay 6 ins) sẽ giúp luân chuyển điều hoà máu, bạch huyết (lymphatic) và dịch tuỷ não (cerebrospinal fluid), tạo điều kiện cho cơ thể tăng cường hệ miễn nhiễm và thực hiện hữu hiệu chức năng giải độc mỗi ngày. Kết quả là  có thể giúp cải thiện nhiều chứng bệnh mãn tính khó trị, từ tiểu đường, viêm thấp khớp, gút, vãy nến, trầm cảm đến Alzheimer’s mà không tốn kém gì cả. Nếu có tốn tiền thì chỉ để nhờ người giúp nâng đầu giường thôi.

Nguồn gốc

Liệu pháp này được Andrew Fletcher, một kỹ sư và khoa học gia người Anh, phát minh năm 1994 dựa vào nguyên tắc mà cây cối dùng trọng lực để đưa nước và nhựa cây lên ngọn. Ông thử nghiệm và chứng minh vị thế nằm ngủ tốt nhất để trọng lực giúp chất lỏng trong cơ thể con người lưu chuyển liên tục cả đêm là khi đầu giường được kê   phân cao hơn chân giường (tạo góc dốc nghiệng khoảng 5 độ). Điều đáng ngạc nhiên là liệu pháp này thực ra đã có từ ngàn năm trước với bằng chứng là một số giường trong mộ vua Ai cập có đầu giường 6 phân Anh (inches) cao hơn chân giường (Fletcher, n.d.).

Liệu pháp giường hơi dốc này giúp luân chuyển máu, bạch huyết (lymphatic) và dịch tuỷ não (cerebrospinal fluid – là chất lỏng luân lưu từ não bộ tới đáy cột tuỷ sống), tạo điều kiện cho cơ thể thực hiện hữu hiệu chức năng giải độc mỗi ngày (Xem video https://youtube.com/u3D7tBQfCxQ). Kết quả là nhiều tình trạng bịnh hoạn được chữa lành mà không tốn kém gì cả. Nếu có tốn tiền thì chỉ để nhờ người giúp nâng đầu giường lến 15 phân thôi.

Căn bản khoa học của liệu pháp giường hơi dốc

Khi ngủ ngang, dịch bạch huyết không có khả năng lưu chuyển, nhất là lên phần trên cơ thể và não bộ. Máu đỏ chảy nhờ tim bơm. Còn bạch huyết phải dựa vào sự co bóp của các bắp thịt để di chuyển nếu không có lực nào hổ trợ.

Khi nằm ngang ngủ việc lưu chuyển máu và bạch huyết ra khỏi não bộ trở nên khó khăn, tạo ra nhiều bệnh liên quan đến thần kinh. Bạch huyết chảy chậm hoặc bị nghẽn mãn tính sẽ gây sưng phù, đau khớp, buồn nôn, mệt mỏi và nhiều triệu chứng trầm trọng khác như dị ứng nặng hơn, đau đầu, nhức đầu từng cơn (migraine), viêm thấp khớp, thường bị cảm cúm, viêm xoang, nặng bụng kinh niên, trầm cảm, mêt mỏi kinh niên, vọp bẽ, bịnh da, đầu óc lộn xộn (brain fog, fuzziness) (Women Health’s Network).

Muốn cho cơ thể  khoẻ mạnh thì dịch bạch huyết cần phải lưu chuyển đê thu dọn và xã thải rác rưới ra khỏi cơ thể. Dịch bạch huyết có luân chuyển thì cơ thể mới giải độc được (Rothfeld, 2017). Khi ngủ, não bộ chúng ta sẽ tự giải độc qua hệ glymphatic, là ngỏ xả thải cho hệ thống não bộ trung ương cột sống (Vertebrate CNS) (Jessen, Munk, Lundgaard & NederGaard, 2015). Khi ngủ say, não tạm teo lại, được tắm bằng dịch tuỷ não, rồi chất thải được chuyển qua mạch bạch huyết ngoại biên (peripheral lymph). Ngủ trên giường hơi dốc 5 độ giúp chất thải trong hệ glymphatic rút xả xuống đường ruột để bài tiết. Giường hơi dốc vì thể có thể giúp giải độc kim loại nặng, tác nhân gây bệnh (pathogens) và những chất độc khác khỏi não bộ (Bryant Rubright, 2016).

Liệu pháp giường hơi dốc này được công nhận là liệu pháp giải độc hữu hiệu nhất (Ken Uzzel,http://inclinedbedtherapy.com/ibt-read-list/39-interviews). Liệu pháp này vì vậy có tiềm năng giúp cải thiện các triệu chứng liên quan đến thần kinh như đa xơ cứng (multiple scleroris), Parkinson’s (Fletcher, 2010), suy sụp trí nhớ (Dementia, Alzheimer’s), đột quỵ (stroke) kinh phong và thương tích cột sống (spinal cord injuries).

Khi giúp cơ thể giải độc hữu hiệu, liệu pháp này có tiềm năng phục hồi và tăng cường hệ miễn nhiễm rất nhiều. Kết quả là có thể cải thiện những chứng bịnh “miễn nhiễm tự tác” (Autoimmune diseases) như bệnh da, bệnh suy tuyến giáp trạng, viêm thấp khớp, đa xơ cứng (Rothfeld, 2017).

Kết quả lâm sàng

Theo lời chứng của những người dùng phương pháp này – từ Anh, Canada, My, Nam Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Pháp… liệu pháp “Giường hơi dốc” đã giúp họ cải thiện rất nhiều hoặc hết những chứng bệnh sau đây (Inclinedbedtherapy.com/testimonials/) :

  • Đột quỵ (stroke)
  • Đau nhức khớp, viêm thấp khớp (arthritis).
  • Tiểu đêm nhiều, tiểu không kềm chế được, khó tiểu (Bladder Control, Nocturia, Nightime Urination, Bed Wetting, Incontinence)
  • Trầm cảm, tinh thần/ tình cảm bất thường (Depression, Mood swings, Emotion)
  • Tiểu đường Diabetes mellitus Types 1 / 2 / Gestational High Blood Glucose
  • Suy yếu thị giác, đau mắt (Eyes, Sight, Vision, Glaucoma, Macular degeneration, etc).
  • Đau cơ xơ (fibromyalgia).
  • Đau no hơi, Trào hơi ngược lên cổ họng , không tiêu và tiêu hoá lộn xộn (Gastroesophageal reflux disease (GERD) Indigestion, Heartburn and Digestive disorders)
  • Đau gút, Viêm và Uric Acid (Gout, Inflammation & Uric Acid).
  • Bịnh đường ruột, Hội chứng tiêu hoá rối loạn, lỡ ruột, … (Gut / Bowel / Stomach Digestion, Irritable Bowel Syndrome (IBS) Ulcerative Colitis, Crohns Disease Etc)
  • Đau đầu, nhức đầu (Headache, migraine)
  • Đi đứng mất thăng bằng (Mobility Balance Movement Walking Awakening)
  •  Nghẹt mũi, viêm xoang, ho đờm (Nasal congestion, Sinusitis, Catarrh, Mucus, Phlegm)
  • Bịnh da, vẩy nến, ngứa, sẹo không lành (Skin conditions, Psoriasis, Eczema, Scar Healing).
  • Parkinson’s
  • Mất ngủ, ngáy (Sleep Disorders, Sleep Apnoea, Insomnia, Snoring, Sleep)
  • Đa xơ cứng (Multiple sclerosis)
  • Phù thủng (Oedema / Edema / Fluid Retention)
  • Đau xương sống, đau lưng (Spine / Back ache / Related problems)
  • Mêt mỏi liên tục (Fatigue)
  • Mất khả năng sinh con và chức năng tình dục (Fertility, Infertility, Reproductive Cycle, Sex drive, Libido, Erectile dysfunction)

Xin xem một số lời chia sẽ kinh nghiệm của những người áp dụng liệu pháp này trên mạng.

Ảnh hưởng phụ

Liệu pháp gường hơi dốc cũng có một số ảnh hưởng phụ. Ảnh hưởng phụ được nhắc đến nhiều nhất là

  • Ghiền ngủ giường hơi dốc, không muốn nằm giừơng ngang nữa và vì vậy không vui khi đi du lịch. Một số người chịu khó đem theo gổ hoặc ống nhựa để kê giường khách sạn lên.
  • Ảnh hưởng phụ khác là có thể lên cân, nhưng không phải vì mập hay phì mà vì xương đặc hơn.

Xin lưu ý:

  1. Trong một số trường hợp, liệu pháp giường hơi dốc làm triệu chứng bệnh tệ hơn, trước khi cải thiện. Nhất là những trường hợp liên quan đến dây thần kinh như triêu chứng Đa xơ cứng (MS), Đau cột sống (Spinal injury), cổ cứng (stiff neck). Đây là hiện tượng ” khũng hoảng chữa lành” (healing crisis) thường xãy ra khi một liệu pháp bắt đầu có tác dụng (Fletcher, 2016). Để giảm trường hợp tệ hơn quá nhiều, ông Fletcher cùng nhiều người đã thử nghiệm đề nghị là nên nâng đầu giường lên từ từ, bắt đầu 5 phân (2 inches) rồi 10 phân (4 inches) trước khi lên 15 phân (6 inches) hoặc thử nâng đầu giường lên 7.5 phân trong 1 thời gian trước khi nâng lên đủ 15 phân.
  2. Có lúc chỉ cần một đêm là đã thấy công hiệu của liệu pháp giường hơi dốc, nhưng cũng có lúc cần lâu hơn, có khi đến cả mấy tháng, tùy tình trạng của mỗi người. Vì vậy chúng ta cần kiên nhẫn khi dùng liệu pháp này.
  3. Vì liệu pháp này có lợi cho mọi người mà lại quá đơn giản và không tốn công của gì cả ngoài vài miếng gạch hay gỗ, nên nhiều người nghi ngờ và cũng có thể cười ngạo. Hơn nữa liệu pháp này hoàn toàn bất lợi cho các công ty dược phẩm và dụng cụ y khoa vì vậy hầu như không được các cơ quan truyền thông quảng bá và không được các cơ quan nghiên cứu tây y cổ võ.
  4. Liệu pháp này có tiềm năng phục hồi sức khoẻ rất lớn, nhưng chưa xác định được hết tiềm năng này vì số người thử nghiệm còn rất giới hạn. Fletcher có thử nghiệm 1 trường hợp ung thư và thấy nó không đủ sức cản trở tế bào ung thư lan rộng. Nhưng với khả năng giải độc hữu hiệu cùng với khả năng phục hồi và tăng cường hệ miễn nhiễm, liệu pháp  này chắc chắn có thể giúp ngăn ngừa ung thư, và những thứ bịnh khó trị khác.
  5. Khả năng giải độc của thân thể dầu sao cũng có giới hạn ngay cả trong điều kiện thuận lợi nhất, vì vậy chúng ta không thể mong liệu pháp này giải quyết hết các triệu chứng bịnh nếu cứ ăn thức ăn chứa nhiều độc tố, hoá chất… và không cử động đủ.
  6. Dùng liệu pháp này không có nghĩa là chúng ta bỏ hết những thứ thuốc đang uống. Trái lại, chúng ta cần báo cho bác sĩ mình biết để theo dõi tiến trình thay đổi triệu chứng. Bác sĩ sẽ giảm hoăc cất thuốc khi họ thấy sức khoẻ chúng ta không cần thuốc nữa.
  7. Mong có nhiều bạn đọc chịu thử áp dụng liệu pháp này để cải thiện sức khoẻ hiện tại và tương lai. Nếu thấy có hiệu quả xin phổ biến cho người thân quen. Đồng thời nếu có thể được xin vui lòng chia sẽ cả kinh nghiệm tiêu cực (không hiệu quả) lẫn tích cực (có hiệu quả) của mình ở phần “Bình luận” dưới đây để giúp những độc giả khác nắm vững ích lợi và bất lợi của liệu pháp này.

Tham khảo

Andrew Fletcher. Inclined Bed Therapy. URL: http://inclinedbedtherapy.com/

Bryant Rubright (2016) Inclined Bed Therapy. Sophia Health Institute. URL: www.sophiahi.com/inclined-bed-therapy/

Fletcher, A. (n.d.) Inclined Bed Therapy. URL: inclinedbedtherapy.com

Fletcher, A. (2010). Parkinson’s Disease and Inclined Bed Therapy A Posture Solution. URL: http://inclinedbedtherapy.com/research/parkinsons-disease/33-parkinsons-disease-and-inclined-bed-therapy-a-simple-bed-solution

Fletcher, A. (2016) http://inclinedbedtherapy.com/research/135-symptoms-feeling-worse-before-getting-better-using-inclined-bed-therapy-ibt ).

Jenny Hawke (2016) . Nexus Magazine. Inclined bed Therapy A new Angle on Health. URL: https://www.nexusmagazine.com/articles/doc_view/337-inclined-bed-therapy-a-new-angle-on-health

Jessen, N.A., Munk, A.S.F, Lundgaard, I. & Nedergaard, M. (2015). The Glymphatic System – A Beginner’s Guide. Neurochem Res. 2015 Dec; 40(12): 2583–2599.

Natkauchi, L. (2011). Increase health with inclined bed therapy. Natural News. url: https://www.naturalnews.com/032808_inclined_bed_therapy_health.html

Rothfeld (2017). Cured. 81 Natural Cures for Cancer, Diabetes, Azheimer’s and more… Nutrition & Healing. NewMarket Health. MD 21705.Ken

Uzzel,K. (n.d.)  I have around 50 patients using IBT. URL: http://inclinedbedtherapy.com/ibt-read-list/39-interviews)

Women’s Health Network. The lymphatic system and your health. URL: https://www.womenshealthnetwork.com/detoxification/the-lymphatic-system-and-your-health.aspx

Nhịn ăn là cách giúp cơ thể tẩy độc và chữa bịnh mãn tính cách tuyệt vời mà không tốn tiền

Tóm lược: Nhịn ăn là biện pháp được các tôn giáo sử dụng từ thuở xa xưa để tịnh dưỡng cơ thể và bồi dưỡng tâm linh. Lợi ích của sự nhịn ăn đối với sức khoẻ được lưu ý hàng ngàn năm nhưng gần đây hầu như bị thất truyền. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học gần đây đã xác nhận là nhịn ăn rất có lợi cho sức khoẻ, không những giúp cơ thể tẩy độc hữu hiệu mà còn giúp hồi xuân, lấy lại nhạy ứng với insulin, cải thiện hệ miễn nhiễm, phòng chống bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, thoái hoá thần kinh, viêm khớp kinh niên, ung thư, mập mỡ, cao mỡ và cholesterol và những bệnh “miễn nhiễm tự tác” (auto immune disease). Dầu vậy các lợi ích đó chỉ được duy trì bằng chế độ ăn uống lành mạnh sau đó. Nhịn ăn là việc ai cũng làm được mặc dầu ngày đầu phải chống chọi cơn đói. Nhịn ăn đứt khoảng mỗi ngày 16-18 tiếng đồng hồ trong vài ba tuần cũng có hiệu quả như nhịn ăn liên tục 10 ngày. Xen kẻ cứ một ngày nhịn ăn với một ngày ăn bình thường trong 3-4 tuần cũng có hiệu quả như vậy. Dùng chế độ ăn uống bắt chước nhịn ăn trong 5 ngày cũng có hiệu quả làm chậm già và tăng tuổi thọ nếu không dám  nhịn ăn. Nhịn ăn không phải một lần là đủ nhưng cần lập lại hàng năm hoặc hằng tháng, hoặc hằng tuần tuỳ theo thời gian nhịn ăn dài hay ngắn. Nhịn ăn không an toàn cho phụ nữ mang thai, mẹ đang cho con bú, trẻ em và người gầy ốm. Những người bịnh (nhất là bịnh tiểu đường) nên hỏi ý kiến và nhờ bác sĩ theo dõi trong thời gian nhịn ăn. Quan trọng là sau khi nhịn ăn, chế độ ăn uống phải lành mạnh thì hiệu quả mới vững bền. Nghĩa là cần ăn rau quả nhiều, bớt ăn thịt, tránh đường và thức ăn chế biến, nhất là thức ăn làm bằng bột trắng.

Sơ lược lịch sử nhịn ăn

Nhịn ăn được sử dụng hàng ngàn năm nay để thân thể nghỉ ngơi tạo điều kiện thích hợp cho sự cầu nguyện và thăng tiến tâm linh. Lợi ích của việc nhịn ăn đối với sức khoẻ không được nói đến trong Kinh thánh và sách tôn giáo khác nhưng đã được lưu ý từ ngàn năm nay. Từ 400 trước công nguyên Hippocrates, cha đẻ y học tây phương, đã nói: ” Ăn khi bịnh là nuôi bịnh”. Plutarch, một triết gia và học giả Hy lạp đầu thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, cũng khuyên: “Thay vì uống thuốc thì nhịn ăn một ngày” (greekmedicine.net). Dầu vậy từ gần nữa thế kỹ nay nhịn ăn không được phổ biến như một biện pháp chữa bịnh. Trái lại chúng ta thường nghĩ rằng khi bịnh thì cơ thề cần nhiều chất dinh dưỡng hơn để chống bịnh và mau phục hồi. Vì vậy chúng ta thường cố ăn, và ép con cháu mình ăn khi bịnh mặc dầu cơ thể đã cảnh báo là không nên ăn khi bịnh bằng cách làm cho cơ thể mất cảm giác thèm ăn và có khi phải nôn ói sau khi ăn. Ngoài ra nhịn ăn trị bịnh đi ngược chiêu bài quảng cáo của các công ty thực phẩm và dược phẩm (Fung & Moore, 2016)

Kết quả nghiên cứu về nhịn ăn:

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học gần đây đã xác nhận nhịn ăn rất có lợi cho sức khoẻ. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhịn ăn tạo điều kiện cho tế bào cơ thể giảm thiệt hại của diễn trình oxy hoá và viêm, tối ưu hoá diễn trình chuyển hoá năng lượng, và tăng cường hệ đề kháng. Thử nghiệm cho thấy nhịn ăn giúp bảo vệ thú vật tránh bệnh tiểu đường, ung thư, tim mạch và thoái hoá thần kinh, sống lâu hơn. Trong khi đó nhịn ăn giúp người giảm mập phì, cao huyết áp, suyển, phong thấp / thấp khớp, làm chậm tiến trình lão hoá , những bịnh mãn tính (Longo & Mattson, 2014) và giảm cơ nguy ung thư (Varady & Hellerstein, 2011).

Nhịn ăn không chữa bịnh nhưng tạo điều kiện cho cơ thể dễ dàng thu gom và loại bỏ tất cả những chất thải từ qui trình chuyển hoá, là chất độc gây bịnh mà cơ thể chưa có dịp loại bỏ vì quá bận rộn chuyển hoá thức ăn mỗi ngày. Nói cách khác nhịn ăn là tạo cho cơ thể cơ hội loại bỏ ra ngoài chứng ngại vật cản trở sự chữa lành. Khi có cơ hội này cơ thể tự chữa lành rất nhanh. (Gustafson & Goldhamer, 2014).

 Những thay đổi trong cơ thể khi nhịn ăn:

Cách đáp ứng nhu cầu năng lượng.

Khi ăn chúng ta thu nhiều năng lượng hơn cần dùng ngay lúc đó. Cơ thể sản xuất hoc môn insulin để đưa năng lượng từ chất đạm (protein) và chất ngọt (carbohydates) vào tế bào và kho tồn trữ. Kho tồn trữ thứ nhất là kho đường glucogen trong gan. Kho này có khả năng giới hạn. Khi gan không còn chổ chứa glucogen nữa thì năng lượng dư thừa được gan biến thành mỡ (triglycerides), một phần chứa trong gan và còn lại thành lớp mỡ trên người.

Khi nhịn ăn, mức insulin giảm đi, báo hiệu cơ thể bắt đầu phải dùng năng lượng trong kho, trước hết là kho đường glucogen rồi đến kho mỡ. Kho glucogen trong gan thường đủ để dùng khoảng 24 tiếng đồng hồ. Sau khi dùng hết glucogen thì gan bắt đầu chế đường từ chất đạm. Giai đoạn này gọi là “chế đường mới” (Gluconeogenesis) diễn ra từ 24 đến 48 tiếng đồng hồ sau khi nhịn ăn. Từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3 sau khi nhịn ăn, mức insulin thấp thúc đẩy diển trình phân hoá chất mỡ (lipolysis) thành axít mỡ và glycerol. Glycerol được dùng để chế đường từ mỡ còn axit mỡ thì được hầu hết tế bào cơ thể dùng làm năng lượng. Cơ thể cũng dùng axit mỡ để sản xuất vật thể ketone cho não bộ sử dụng làm nguồn năng lượng. Sau 4 ngày nhịn ăn thì vât thể ketone cung cấp 75 % năng lượng cho não bộ. Nhịn ăn tăng hoc môn phát triển (Human growth hormone) nên cơ bắp và mô tế bào không có mỡ (lean tissues) được bảo toàn chứ không bị teo (Cahill, 2006 trích dẫn trong Fung & Moore, 2016).

 Cải thiện hệ miễn nhiễm

Nhịn ăn tăng khả năng cho hệ miễn nhiễm  kiểm soát  tín hiệu gây viêm (inflammatory cytokines) và dị ứng (Faris et al; Vasconcelos et al; Aksungar, Topkaya &Akyildiz ; Kohno, Kouda et al; trích dẫn trong Jockers, 2016).

 Kích thích diễn trình tự dọn sạch tế bào (cellular autophagy). Nhịn ăn tạo điều kiện kích thích cơ thể phân huỷ các tế bào già, hư hại và các tế bào phát triển bất thường để tái sử dụng sản xuất năng lượng. Nhịn ăn vì thế ngăn cản nhiễm khuẩn và sự lây lan ký sinh trùng nội bào. Nó giúp cơ thể loại trừ mầm gây bịnh từ bên trong tế bào cũng như sự phát triển bất thường của tế bào ung thư (Jockers, n.d.) Diễn trình này cũng giúp bảo vệ tế bào não và tế bào mô tránh phát triển bất thường, nhiễm độc và viêm mãn tính (Alirezaei at al, 2010).

 Cải thiện cơ chế chữa lành gen:

Kết quả các cuộc thử nghiệm chứng tỏ các tế bào sống lâu hơn khi thiếu thức ăn và đói. Nhịn ăn vì vậy làm tăng diễn trình hồi xuân tế bào qua một số cơ chế chữa lành gen vì sửa chữa tốn ít năng lượng hơn là tạo tế bào mới. Khi không có thức ăn nhiều, cơ thể bảo tồn năng lượng bằng cách giảm việc phân chia tế bào. Tình trạng này ngăn cản không cho tế bào ung thư lan rộng. Hoc môn chủ yếu kiểm soát công tác sữa chữa tế bào này là hoc môn phát triển nhân thể (HGH – Human growth Hormone) (Jockers, n.d.) Nhịn ăn kích thích cơ thể sản suất hoc môn HGH. Một nghiên cứu thử nghiệm năm 1992 cho thấy mức HGH hoc môn tăng gấp 5 lần sau 2 ngày nhịn ăn (Fung & Moore, 2016). Mức hoc môn phát triển này thấp thì cơ thể chóng già. Ngược lại nhịn ăn làm tăng nhiều HGH sẽ làm cơ thể chậm già. Tăng mức HGH hoc mon cũng kích thích cơ thể dùng mỡ làm năng lượng, do đó vừa giảm mỡ vừa ổn định mức đường trong máu (Fung & Moore, 2016).

 Giảm lượng hoc môn insulin và tăng nhạy ứng insulin

Trong giai đoạn đầu nhịn ăn, lượng đường và insulin trong máu giảm nhưng vẫn nằm trong tầm mức bình thường nhờ sử dụng kho đường glucogen và diễn biến “tạo đường mới”. Sau khi dùng hết kho đường glucogen thì cơ thể chuyển sang dùng mỡ làm nhiên liệu. Nhịn ăn càng lâu thì mức insulin càng giảm nhiều. Mức insulin thấp thường xuyên sẽ làm cho cơ thể nhạy ứng hơn với insulin. Khi cơ thể nhạy ứng với insulin thì sẽ không cần nhiều insulin khi chúng ta ăn. Giảm nhu cầu insulin giúp cho cơ thể giảm tình trạng viêm nhiệt và tăng lượng hoc môn phát triển HGH. Tình trạng đối nghich là khi cơ thể không còn nhạy ứng với insulin, gọi là tình trạng “đề kháng insulin”. Khi cơ thể ở trong tình trạng ” đề kháng insulin” cao thì sinh ra nhiều vấn đề, trước hết là chứng tiểu đường kế đến là bịnh tim mạch, tai biến mãch máu não, bịnh mất trí nhớ Alzheimers, cao cholesterol, cao huyết áp, mập phì vùng bụng (abdominal obesisty), gan mỡ (fatty liver), hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome), bịnh gút, xơ vữa động mạch (atherosclerosis), bịnh trào hơi lên thực quản (gastroesophageal reflux) và ung thư (Fung & Moore, 2016). Vì vậy nhịn ăn có thể giúp cải thiện sức khoẻ toàn diện bằng cách giúp cơ thể tăng tình trạng nhạy ứng insulin.

Nhịn ăn cải thiện triệu chứng bịnh “miễn nhiễm tự hại” (auto immune disease) như systemic lupus (ban đỏ khắp thân), viêm khớp kinh niên (rheumatoid arthritis), viêm đại tràng (colitis) va bịnh viêm đường ruột (Crohn’s disease) (Varady & Hellerstein, 2007).

Phòng chống hữu hiệu ung thư tiền liệt tuyến (prostrate cancer) và ung thư vú vì nhịn ăn làm cho các tế bào ung thư chết đói chỉ chờ huỷ diệt (Buschemeyer et al, 2010; Rogozina et al, 2013).

Giúp phòng và trị bịnh tiểu đường. Mặc dầu chưa có thử nghiệm lâm sàng lớn để xác định công hiệu của việc nhịn ăn đối với bịnh tiểu đường, một số nghiên cứu và bằng chứng lâm sàng cho thấy nhịn ăn giúp nhiều người bị tiểu đường giảm lượng đường trong máu xuống mức bình thường mà không cần thuốc nữa. Một cuộc nghiên cứu quan sát cho thấy bệnh nhân tiểu đường khi nhịn ăn nên được bác sĩ theo dõi điều chỉnh liều thuốc uống và chế độ ăn uống để tránh tình trạng mức đường trong máu xuống quá thấp (hypoglycaemia) hoặc lên quá cao (hyperglycaemia) (Noon et al, 2016).

Bác sĩ Jason Fung, chuyên khoa về thận, sau một thời gian hành nghề nhận thấy thuốc tây không chữa được bệnh thận vì bệnh thận chủ yếu phát sinh từ tiểu đường. Bệnh tiểu đường lại bắt nguồn từ chế độ ăn uống. Chuyển qua nghiên cứu chế độ ăn uống trị tiểu đường , BS Fung khám phá nhịn ăn là cách tốt nhất để chữa bịnh tiểu đường, bệnh mập phì (thường đi đôi với tiẻu đường) và bệnh thận. Qua chương trình Quản lý ăn uống cao độ (intensive dietary management) BD Fung đã giúp bệnh nhân tiểu đường không còn bị tiểu đường nữa sau vài tháng nhịn ăn đứt khoảng và điều chỉnh chế độ ăn uống. Những bịnh nhân suy thận cũng trở lại bình thường (Fung & Moore, 2016; IDM testimonials).

Nhịn ăn giảm huyết áp cho những người cao huyết áp.

Thực nghiệm lâm sàng tại một trung tâm y tế ở California cho thấy các bịnh nhân cao huyết áp (174 người) và tiền cao huyết áp (68 người) giảm huyết áp đến độ không còn cần uống thuốc huyết áp nữa sau khi được chữa trị bằng nhịn ăn chỉ uống nước. Thời gian chữa trị trung bình kéo 22-23 ngày, gồm 2-3 ngày chuẩn bị chỉ ăn uống rau quả, 10-13 ngày nhịn ăn và 6-7 ngày ăn lại chủ yếu rau quả, ít mỡ và ít muối. Huyết áp ban đầu càng cao thì càng giảm nhiều. Nhóm người có huyết áp trên 180/110 mmHg thì trung bình huyết áp giảm đi 60/17 mmHg và tiếp tục cải thiện sau khi chữa trị (Goldhamer et al, 2001; Goldhamer et al, 2002).

Nhịn ăn cải thiện trí nhớ, tăng khả năng chú tâm và làm tinh thần sáng suốt.

Chưa có cuộc nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng nào được thực hiện để đo lường lợi ích của việc nhịn ăn đối với những người bị suy sụp trí nhớ (Alzheimer’s). Tuy nhiên thử nghiệm trên động vật cho thấy nhịn ăn giúp chúng cải thiện trí nhớ, khả năng học hỏi, và điều hợp động tác. Nhịn ăn đứt khoảng cũng giảm tình trạng thoái hoá thần kinh và các triệu chứng bịnh Alzheimer’s, Parkinson’s và Huntington’s (bịnh chết tế bào não) cho những thú vật trong những cuộc nghiên cứu này (Longo & Mattson, 2014). Những người đã nhịn ăn cũng xác nhận đầu óc họ nhẹ nhàng hơn, tinh thần họ sáng suốt hơn, có thể chú tâm hơn và nhớ nhiều hơn (Fung & Moore, 2016).

Nhịn ăn giảm mỡ máu và cholesterol

Nhịn ăn sau vài ngày, cơ thể phải dùng mỡ làm nhiên liệu năng lượng. Kết quả là lượng mỡ và cholesterol trong máu sẽ giảm. Một cuộc thử nghiệm trên 10 người mập phì cho thấy sau khi nhịn ăn xen kẻ 8 tuần lễ, lượng cholestrol LDP (xấu) và mỡ (triglycerides) trong máu giảm 25% và 32% (Bhutani, Klempel, Berger & Varady, 2010).

 Nhịn ăn giảm đau viêm khớp mãn tính (rheumatoid arthritis)

Trong cuộc khảo sát kinh nghiệm của 742 người bị viêm khớp mãn tính do Haugen và đồng nghiệp thực hiện năm 1991, 15 phần trăm bệnh nhân trải qua một lần nhịn ăn. 2 phần 3 trong số người này báo cáo là họ bớt đau, bớt cứng khớp và 50 % báo cáo là khớp xương bớt sưng.

Sau khi đọc báo cáo đó, Cô Diana, một bệnh nhân bị viêm thấp khớp nhiều năm, nghiên cứu tác dụng của biện pháp nhịn ăn và áp dụng 11 ngày nhịn ăn chỉ uống nước rau quả. Cô giữ nhật ký và ghi lại rằng từ ngày thứ 3 cô thấy bàn chân trái bớt sưng, và lần đầu tiên sau nhiều năm cô có thể đi bộ xa hơn. Từ ngày thứ tư cô hết thèm ăn, nhưng thấy dồi dào sức hơn, bắt đầu muốn bỏ ra vài ngày rong chơi. Cảm giác đau, sưng, viêm đều giảm đi. Sau 11 ngày cô không còn thấy đau đớn như trước nữa. Trái lại cô cảm thấy thật là khoẻ khoắn với tinh thần minh mẫn, tự tin và có thể tập trung khi cần. (Nhật ký của Diana).

Nhịn ăn như thế nào

Nhịn ăn là tự nguyện không ăn gì cả. Ngày nào chúng ta cũng nhịn ăn khi ngủ. Tuy nhiên, nhịn ăn chỉ uống nước vì lý do sức khoẻ thường từ 16 giờ tới cả tháng trong khung cảnh ngơi nghỉ. Ba cách nhịn ăn thông thường nhất là nhịn ăn đứt khoảng (intermittent fasting), nhịn ăn xen kẻ (alternate-day fasting) và nhịn ăn liên tục (block fasting) từ 1 ngày đến 40 ngày hoặc dài hơn.

Nhịn ăn đứt khoảng là nhịn ăn chỉ uống nước lọc mỗi ngày 16-23 tiếng đồng hồ, rồi ăn lại bình thường nhưng đầy chất bổ dưỡng và lành mạnh trong 1-8 tiếng đồng hồ còn lại. Phương pháp nhịn ăn này dễ thực hiện, có thể tuần nào cũng nhịn ăn đứt khoảng 2-3 ngày hoặc ngày nào cũng nhịn ăn như vậy trong nhiều tuần. Phương pháp này cho cơ thể thì giờ thực hiện chức năng tẩy độc và chữa bịnh khoảng 4-11 tiếng đồng hồ 1 ngày.

Nhịn ăn xen kẻ là nhịn ăn một ngày 24 giờ rồi ăn lại một ngày 24 tiếng và có thể kéo dài theo ý muốn.

Nhịn ăn liên tục thường kéo dài ít nhất 3 ngày và có nhiều người kéo dài nhịn ăn đến 40 ngày hoặc hơn.

Thay vì chỉ uống nước khi nhịn ăn, nhiều người thay thế nước bằng nước rau quả hay nước xương (bone broth). Cũng có người dùng chế độ ăn uống bắt chước nhịn ăn (fasting mimicking diet) trong thời gian nhịn ăn. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống này cũng có hiệu quả giống như nhịn ăn thật sự, nhất là thích hợp cho người già và những người sợ cảm giác đói (Mercola, 2017). Chế độ ăn uống này dùng nhiều dầu mỡ tốt và giới hạn lượng đạm và đường và kéo dài 5 ngày. Ngày thứ nhất cho phép 1.090 calories gồm 10% đạm, 56% dầu mỡ, và 44% hy drat cac bon (carbohydrate). Ngày thứ 2 đến thứ 7 giới hạn 725 calories gồm 9% đạm, 44 % dầu mỡ và 47% carbohydrate (Knapton, 2017).

Thận trọng cần có:

Vì nhịn ăn có thể không an toàn trong nhiều trường hợp, lời khuyên của các chuyên gia về nhịn ăn là trước khi nhịn ăn, chúng ta cần hỏi ý kiến, hay báo cho bác sĩ để họ theo dõi và giúp chúng ta khi có vấn để được an toàn. Và nhịn ăn không an toàn cho phụ nữ có thai, những người mẹ đang cho con bú, người gầy ốm và trẻ em.

Cần lưu ý là nhịn ăn không phải chỉ giúp cơ thể chữa lành bịnh và hồi xuân mà còn cần thiết để phòng chống bịnh tật và duy trì sức khoẻ. Vì thế cần nhịn ăn đều đặn hằng năm, hoặc mỗi sáu tháng hoặc mỗi ba tháng, hoặc mỗi tháng hoặc mỗi tuần tùy theo thời gian nhịn ăn. Chẵng hạn, nếu chỉ nhịn ăn 1 ngày 24 tiếng thì có thể mỗi tuần nhịn ăn một ngày. Chu kỳ này rất hợp với lời dạy trong Kinh thánh là chỉ nên làm việc 6 ngày rồi nghỉ ngơi hoàn toàn 1 ngày để hướng về Thiên Chúa và cầu nguyện nhận linh lực từ Thiên Chúa.

Xin lưu ý: Bài viết này có mục đích duy nhất là cung cấp thông tin giúp quý bạn nắm vững thông tin để cân nhắc trước khi lấy những quyết định liên quan đến sức khoẻ mình và vì vậy không thay thế ý kiến và sự chĩ dẫn của những y sĩ chăm sóc quý bạn.

 

Tham khảo:

Alirezaei, M., Kemball. C.C. et al Short term fasting induces profound neuronal autophagy. Autophagy. 2010;6(6):702-710.

Bhutani, S., Klempel, M.C., Berger, R.A., & Varady, K.A. Improvements in coronary heart disease risk indicators by alternate-day fasting involve adipose tissue modulations. Obesity (Silver Spring). 2010 Nov;18(11):2152-9. doi: 10.1038/oby.2010.54. Epub 2010 Mar 18.

Buschemeyer, W. C., Klink, J. C., Mavropoulos, J.C., Poulton, S.H., Demark-Wahnefried, W., Hursting, S.D., Cohen, P., Hwang, D., Johnson, T.L., Freedland S.J. Effect of intermittent fasting with or without caloric restriction on prostate cancer growth and survival in SCID mice. Prostate. 2010 Jul 1;70(10):1037-43. PMID: 20166128

Cahill, G. F. Fuel Metabolism in Starvation. Annu. Rev. Nutr. 2006. 26:1–22 doi: 10.1146/annurev.nutr.26.061505.111258

Gustafson, G. & Goldhamer, A.: Water Fasting – The clinical Effectiveness of Rebooting Your Body. Integrative Moldhamertedicine. Vol. 13, No. 3- June 2014.

Goldhamer, A.C., Lisle, D.J., Sultana, O., Anderson, S.V., Parpia, B. Hughes, B. & Campbell, T.C. (2002). Medically Supervised Water-Only Fasting in the Treatment of Borderline Hypertension. The Journal of Alternative and Complementary Medicine. Volume 8, Number 5, 2002, pp. 643–650

Goldhamer, A., Lisle, D., Parpia, B., & Campbell, T.C. Medically supervised water-only fasting in the treatment of hypertension. J Manipulative Physiol Ther. 2001 Jun;24(5):335-9

Haugen M., Kjeldsen-Kragh, J.,  Nordvå, B.Y. Diet and disease symptoms in rheumatic diseases — Results of a questionnaire based survey. Clinical Rheumatology. December 1991, Volume 10, Issue 4, pp 401-407

Jockers, D. (n.d.) 5 Healing Benefits of Intermittent fasting. DrJockers.com URL: http://drjockers.com/5-healing-benefits-of-intermittent-fasting/

Knapton, S. Five day fasting diet slows down ageing and may add years to life. The Telegraph. 5 September 2017. http://www.telegraph.co.uk/news/science/science-news/11683736/Five-day-fasting-diet-slows-down-ageing-and-may-add-years-to-life.html

Longo, V.D. & Mattson, M.P. Fasting: Molecular Mechanisms and Clinical Applications. Cell Metab. 2014 February 4; 19(2): 181-192. doi:10.1016/j.cmet.2013.12.008

Mercola (2017). How a fasting mimicking diet can help you live longer. http://articles.mercola.com/sites/articles/archive/2017/07/23/fasting-mimicking-diet.aspx

Noon, M.J., Khawaja, H.A., et al. Fasting with diabetes: a prospective observational study. BMJ Global Health. DOI: 10.1136/bmjgh-2015-000009 Published 8 September 2016.

Omodei, D. & Fontana, L. Calorie restriction and prevention of age-associated chronic disease. FEBS Lett. 2011 Jun 6; 585(11): 1537–1542

Rogozina, O.P., Nkhata, K.J., Nagle, E.J., Grande, J.P., Cleary, M.P. The Protective Effect of Intermittent Calorie Restriction on Mammary Tumourgenesis is Not Compromised by Consumption of a High Fat Diet During Refeeding. Breast cancer research and treatment. 2013;138(2):395-406.

Varady, K. A. & Hellerstein, M. K. Alternate-day fasting and chronic disease prevention: a review of human and animal trials. Am J Clin Nutr 2007;86:7–13

 

 

 

 

 

 

Vitamin C liều cao là thần dược?

Vitamin C liều cao được một số bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng công nhận có công hiệu như thần dược giải quyết nhanh chóng những bịnh nhiễm vi trùng, vi khuẩn trầm trọng như viêm phổi, sốt cúm, phong liệt, lao phổi, dời ăn, thương hàn, phong đòn gánh, sốt rét, sốt thấp khớp, hiv/aids, viêm não… và các chứng nan y như ung thư, thấp khớp, gút , viêm gan..

Năm 2010, truyền hình New Zealand có chiếu chương trình “Bằng chứng sống” (Living Proof) kể lại chuyện thật của Allan Smith, một nông gia NZ, bị nhiễm “Cúm Heo” (Swine Flu H1N1) vô cùng trầm trọng, phổi viêm đầy nước và ung thư bạch cầu (hairy cell leukemia). Người ta phải nối hệ thống yểm trợ cho ông sống. Sau 4 tuần mê man với đủ cách loại thuốc nặng ký, bác sĩ đề nghị rút máy yểm trợ sự sống vì tình trạng hoàn toàn không khá hơn, và bệnh nhân không có triển vọng sống được. Gia đình Allan phản đối rằng bác sĩ chưa thử tất cả mọi cách và yêu cầu truyền liều cao vitamin C vào máu Allan. Sau khi truyền chỉ có 25 gam vitamin C vào mạch máu, phim rọi phổi cho thấy phổi Allan đã sáng sủa lên nhiều. Tiếp tục mỗi ngày truyền 100 gam vitamin C được vài ngày, Allan có thể tự thở và khỏi cần máy hổ trợ thở nữa. Nhưng rồi tình trạng trở năng trở lại, hỏi ra thì bệnh viện thú nhận đã ngưng truyền vitamin C cho Allan. Kêu nài mãi bác sĩ mới cho lại vitamin C nhưng chỉ còn 2 gam một ngày. Tình trạng của Allan cải thiện trở lại nhưng rất chậm. Chuyển về bệnh viện gần nhà, các bác sĩ mới lại ngưng không cho truyền Vitamin C nữa. Tình trạng tồi tệ trở lại. lần này gia đình phải nhờ luật sư buộc bệnh viện mới cho lại Vitamin C. Rồi họ cũng chỉ cho có 2 gam 1 ngày. Dầu vậy Allan cũng từ từ hồi phục và khi Allan có thể nuốt được, gia đình mua vitamin C loại liposome (Sản xuất với kỹ thuật tinh vi ở Mỹ) cho ông ta uống thât nhiều. Allan xuất viện sớm và không còn ung thư bạnh cầu nữa.

Một trường hợp tương tự ghi lại trong chương trình ” 60 minutes” : một phụ nữ Úc cũng bị H1N1 cũng phải thở qua máy yểm trơ sống. Gia đình nghe trường hợp của Allan Smith nên tìm hiểu kỹ và đòi bệnh viện truyền vitamin C cho cô. Cuối cùng họ chấp thuận. Phổi của cô bắt đầu sáng sủa sau một vài lần dùng thuốc. Chẳng bao lâu cô không cần máy yểm trợ sống nữa. Cái xui là sau khi thuyết phục bà mẹ bệnh nhân rằng tiếp tục cho vitamin C sẽ nguy hiểm cho bệnh nhân, các bác sĩ ngừng tiêm vitamin C cho cô. Cô ta suy sụp nhanh chóng và vài ngày sau qua đời.

TS Andrew Saul, kể lại chuyện trong 3 tiếng đồng hồ ông hoàn toàn đẩy lùi được chứng viêm phổi vì nhiễm khuẩn (viral pneumonia) trầm trọng bằng cách cứ 6 phút uống 2 gam vitamin C, tức là 20 gam một giờ. Trước khi uống, ông ho nhiều kinh khủng và sốt cao. Sau 3 tiếng đồng hồ, cơn sốt giảm bớt 3 độ F (gần 2 độ C) và ông ta hết ho. Gần nhà ông Saul có một em bé 1 tuổi, bị cảm cúm đang bị sốt, cổ họng đầy đờm, mắt mũi dầm dề, da nỗi đỏ, ho, sổ mũi và khóc qua nhiều đêm khong ngủ. Chừng đó tuổi cháu đã phải qua 11 lần trị bịnh bằng trụ sinh. Bác sĩ nhi khoa của bé dùng đủ mọi cách bà biết – kế cả trụ sinh – mà không biết làm sao cho nó giảm bịnh. Ông bố than với ông Saul. Ông Saul bảo sao không thử cho cháu uống vitamin C thât nhiều. Sau khi tính toán nên cho bé uống bao nhiêu theo chỉ dẫn của ông Saul, ông bố cho con mình uống 20 gam bột vitamin C.  Bé ngủ được và tình trạng sức khoẻ cải thiện qua đêm.

Ông Saul nói là khi trải nghiệm được công hiệu của vitamin C đối với bệnh cảm cúm, nhiễm trùng nhiễm khuẩn như vậy chúng ta sẽ không bao giờ cần tiêm ngừa cảm cúm nữa.

Bác sĩ Thomas Levy, một bác sĩ giải phẩu tim, sau khi quen bác sĩ Hal Huggins, một nhà tiên phong trong liệu pháp vitamin C liều cao đã chứng kiến công hiệu cải thiện sức khoẻ của vitamin C trên bệnh nhân bị bệnh hiểm nghèo như đa xơ cứng (MS), xơ cứng teo một bên ( ALS) , lãng trí Alzheimer’s, Parkinson.. BS Levy mới nhận thức rằng các bịnh thoái hoá có thể chữa trị và đảo ngược chứ không phải hết thuốc chữa như đã học. Ông bắt đầu nghiên cứu tất cả sách vở tạp chí và kinh ngạc nhận ra rằng vitamin C là một chất bổ dưỡng quan trọng nhất mà chúng ta có thể tiêu hoá. Cả một rừng thông tin nghiên cứu về vitamin C được đăng trên các tạp chí y khoa có tiếng chứ không phải là “không được nghiên cứu” như trường phái y khoa chính qui tuyên bố. Từ thập niên 1940, BS Frederick Klenner đã tiên phong dùng liều cao vitamin C để trị nhiều bịnh nhiễm trùng, nhiễm khuẩn khác nhau, như phong liệt, tetanus, và viêm não.

BS Klenner cũng chứng minh có thể dùng vitamin C liều cao để giải độc trong trường hơp bị trúng độc nặng thuốc trừ sâu, carbon monixide, thuốc dịu thần kinh barbuturate và kim loại nặng.

Sau đó BS Thomas Levy đã trở thành bác sĩ chuyên dùng vitamin C liều cao trị bịnh được những bịnh nan y mà hệ thống y học chính thống chịu thua. Những bệnh ông kể ra gồm cả viêm gan cấp tính, sốt xuất huyết Dengue, bịnh nhiễm Lyme, AIDS, viêm gan mãn tính C, viêm phổi, ung thư và hơn 30 thứ bệnh khác.

Sau 15 năm nghiên cứu và thực nghiệm, bác sĩ Levy tuyên bố liều cao vitamin C thật là một thần dược và chưa thấy nó gây biến chứng có hại nào cả. Nếu vitamin C trong người đạt mức bình thường thi vi trùng vi khuẩn khó có cơ hội hoành hành. Hầu hết ung thư khởi phát khi độ căng thẳng oxy hoá lên cao làm thiếu hụt vitamin C ở mô tế bào nào đó. Thiếu vitamin C trong lớp màng phía trong của mạch máu sẽ cho phép mỡ bám vào thành mạch máu và gây chứng nhồi máu cơ tim. Nghĩa là vitamin C nếu lúc nào cũng có đủ sẽ bảo vệ chúng ta khỏi ung thư, nhồi máu cơ tim và các chứng bịnh khác.

Vai trò của Vitamin C trong sự vận hành của cơ thể

Bác sĩ Ron Hunninghake khám phá vitamin C có công hiệu như thần dược là vì nó có vai trò then chốt trong chức năng của ty thể (mitochrondria) trong mọi tế bào của cơ thể – ngoại trừ hồng cầu. Ty thể tế bào có nhiệm vụ tạo năng lượng cho tế bào và cơ thể hoạt động. Ngoại trừ mỗi tế bào tim, mắt và não có 10.000 ty thể, hầu hết các tế bào khác có từ 500 đến 1000 ty thể. Nếu ty thể không thể làm tròn chức năng thì chúng ta sinh ra mệt mỏi, dễ bị nhiễm trùng, nhiễm khuẩn, trầm cảm, lãng trí và ung thư,mất ngủ, tiểu đường. Ty thể tạo trạm năng lượng ATP. Ngoài việc tạo năng lượng, ATP chạy bơm màng tế bào để giữ potassium với magnesium bên trong và đẩy calcium và sodium ra ngoài. Nếu bơm năng lượng kiệt quệ thì màng bọc tế bào không hoạt động bình thường được, gây nên tình trạng đề kháng insulin, viêm và ảnh hưỡng xấu đến cơ chế biến dưỡng. Khi dây xích vận chuyển điện tử (electron transport chain) trong ty thể thiếu electron thì ty thể rơi vào tình trạng hết pin. Vitamin C có thể nạp lại pin cho các ty thể vì vitamin C là phân tử cho biếu điện tử rộng rãi nhất trong vũ trụ. Chúng ta già nhanh là vì có lỗ thủng ở màng bọc ty thể – nơi tạo ra năng lượng. Nếu muốn chậm già hoặc muốn già mà khoẻ mạnh   muốn duy trì sức lực, bảo vệ sức khoẻ, trí não sáng suốt, có sức chịu đựng cao, chúng ta nên tiêu thụ vitamin C mỗi ngày.

Theo bác sĩ Levy, Bác sĩ Hunninghake, BS Steve Hicky, TS Andrew Saul thì

– Nên uống vitamin C vài lần một ngày để duy trì vitamin C với mức lượng tốt trong máu. Chỉ cần uống một ngày 2 gam chúng ta có thể phòng ngừa nhiễm trùng, nhiễm khuẩn, tăng sức bắp thịt, giảm gãy xương, bầm da, ngừa chảy máu nướu răng, giúp lên tinh thần, vui vẻ, tăng sức chịu đựng tình hình căng thẳng, giảm sự mệt mỏi.

– Nếu bị nhiễm trùng cấp tính hay bịnh mãn tính, liều vitamim C cần uống sẽ nhiều hơn, tốt nhất là tới mức bảo hoà. Mức bảo hoà là mức không gây phản ứng khó chịu cho cơ thể, nhất là không gây tiêu chảy. Có thể 2 gam hoặc 100 gam một ngày tuỳ tình trạng sức khoẻ mỗi người. Có thể tìm ra mức bảo hoà của mình bằng cách bắt đầu uống mỗi ngày 2  gam chia ra làm nhiều lần. Rồi ngày hôm sau tăng liều cho tới khi tiêu ra phân lỏng. Lúc đó trở lại liều ngày trước, là liều bảo hoà cho mình.

– Riêng trong trường hợp bị ung thư, BS Michael Gonzalez, với nhiều kinh nghiệm trị ung thư bằng vitamin C, cho biết phải từ từ, bắt đầu từ 15 gam hai hoặc ba lần trong tuần đầu, rồi tăng lên 25 gam, từ từ tăng lên 50 gm trong một thời gian và có thể tăng lên 75 gam nhưng không quá 75 gm. Ông bảo phải giới hạn cho uống hoặc truyền vitamin C vài ba lần một tuần vì phải có thời giờ cho hydrogen peroxide – do phản ứng của vitamin C (ascorbic a xit) với khí oxy tạo ra – diệt tế bào ung thư. Thời gian cần có được ước lượng khoảng 36 đến 40 giờ.

– Có hai loại vitamin C để uống. Loại vitamin C viên hay bột bình thường (chỉ nên dùng sodium ascorbate vì không phải là axit) và loại liposmal vitamin C viên con nhộng hay lỏng. Cơ thể chỉ hấp thụ được 30-40% nếu dùng loại viên hay bột bình thường và 100% nếu dùng loại vitamin C liposmal (hay lipo-C, lipo-sphere ). Vì vậy, nếu dùng loại viên hay bột cần ít nhất 5 gm một ngày để phòng ngừa bịnh, làm chậm tiến trình lão hoá và bảo vệ sức khoẻ.

Thận trọng và Phản ứng có thể có:

  • Có thể gây tiêu chảy và đau thắt cơ bụng: Tăng liều từ từ và uống giửa bửa ăn và dùng vitamin C dưới dạng ascorbate có thể giảm phản ứng này.
  • Có thể làm tệ hơn bệnh sạn thận và yếu thận .
  • Vitamin C tăng hấp thụ chất sắt: Có hại thêm cho những ai bị bịnh quá nhiều chất sắt (iron overload).
  • Có trường hợp một bệnh nhân ung thư chết khi được chửa trị bằng Vitamin C liều cao thẳng vào máu. Bị ung thư không nên tự chửa bằng vitamin C mà nên nhờ bác si hoặc y viện chuyên môn trừ khi chỉ uống với liều thấp  để yểm trợ những trị liêu khác.
  • Vitamin C có thể giảm công hiệu thuốc làm lỏng máu warfarin
  • Vitamin C làm giảm hấp thụ chất đồng. Nên khi uống nhiều vitamin C thì nên uống thêm phụ trợ đồng.

Nguyễn Văn Tư – Auckland 21 – 8 – 2017

Lưu ý: Bài viết này chỉ cung cấp thông tin  chứ không thay thế  ý kiến của y sĩ chăm sóc sức khoẻ cho quý vị.

Nếu có thể nghe và đọc tiếng Anh, quý bạn có thể xem thêm chi tiết tài liệu về vitamin C ở

http://www.naturalhealth365.com/tag/vitamin-c/

http://articles.mercola.com/sites/articles/archive/2015/09/21/vitamin-c-heart-health.aspx

http://orthomolecular.org/resources/omns/v02n02.shtml

http://www.doctoryourself.com/klennerpaper.html

http://www.medicalnewstoday.com/releases/12154.php

Saul: High dose vitamin C Therapy for Major diseases https://www.youtube.com/watch?v=W5Bgdqsorg0

Intravenous vitamin C for cancer treatment in Japan https://www.youtube.com/watch?v=64PT8fSC4Pk

https://www.youtube.com/watch?v=WKlMY-mbGeU Dr Hunninghake – How Vitamin C Fights Cancer https://www.youtube.com/watch?v=_PI_rKuQWiE

https://www.youtube.com/watch?v=e36ksTWzc8U –   – “Linus Pauling: High dose of Vitamin C is a cure for Cancer, Aids and Heart Disease  https://www.youtube.com/watch?v=Bnl_euYq8yY

Và nhiều youtube videos khác rất có giá trị khi search “vitamin C” trên youtube.

 

Tham khảo:

  • Hunninghake, R. Vitamin C – Crucial Ingredient. Vitamin 2017 Summit Transcript
  • Gonzale, M. Vitamin C and Cancer. Vitamin 2017 Summit Transcript
  • Levy, T. & Landsman J. The most powerful vitamin to kill viruses
  • Saul, A. Vitamin C cures and antioxidants. Medicinalsupplementsummit.com
  • Gaby, A. (2017). Nutritional Medicine,Published by Fritz Pelberg Publishing, Concord, NH