Bảo vệ Ruột già, trực tràng, gan và đường tiêu hoá khỏi ung thư

Bảo vệ ruột già, trực tràng và đường tiêu hoá khỏi ung thư

Trong số những người tôi quen biết bị tử vong vì ung thư, thì nhiều nhất là bị ung thư trực tràng hay ruột già. Điều này thật ra không có gì là lạ, một phần vì số người bị ung thư đường ruột chiếm 25% (1 phần tư) tổng số bịnh nhân ung thư và 27% số người chết vì ung thư trên thế giới năm 2020 (Globalcan 2020, WHO) . Và một phần vì ung thư trực tràng và ung thư ở các bộ phận tiêu hoá thường không thể hiện triệu chứng nào cả trong những giai đoạn đầu. Khi phát hiện thì đã đến lúc khá trể.

Khi việc phát hiện ung thư đường tiêu hoá không phải đơn giản, thì phòng ngừa là cách an toàn nhất, nếu có thể được. Nghiên cứu y học gần đây cho thấy chúng ta có thể tránh và chống  ung thư trực tràng và ung thư ở các bộ phận tiêu hoá khác khi có tập hợp vi sinh đường ruột (gut microbiota) lành mạnh. Chúng ta có thể cải thiện tập hợp vi sinh đường ruột cách bổ sung vi sinh tốt (uống probiotics) cùng với chế độ dinh dưỡng lành mạnh, sinh hoạt thể lực đều đặn và lối sống tinh thần tình cảm thư thái, tích cực, lành mạnh. Nếu đã bị ung thư đường tiêu hoá, thì cách phòng ngửa ung thư đường tiêu hoá cũng giúp tăng hiệu quả phương pháp hoá trị, xạ trị và giải phầu nhờ giảm các tác dụng phụ bất lợi của những phương pháp đó.

Cách phòng chống ung thư đường tiêu hoá

Trước khi bắt đầu phòng chống ung thư bằng cách tự nhiên, không dùng thuốc chúng ta cần nắm vững nền tảng của phương pháp này. Có nắm vững thì chúng ta mới thực hiện cách ăn uống và lối sinh hoạt cần thiết để đạt được mục đích mong muốn cách hữu hiệu. Sau đây là những điều chúng ta cần nắm vững:

  1. Tin và hiểu rằng cơ thể chúng ta được tạo ra một cách tuyệt vời. Nó có cơ chế tự chữa lành những hư hỏng (bịnh tật) khi có điều kiện thích hợp. Ngược lại, điểu kiện/môi trường bất lợi kéo dài sẽ làm cho nó hư hỏng ( binh tật mãn tính). Muốn phòng chống bịnh mãn tính kể cả ung thư, chúng ta cần phục hồi và bảo tồn điều kiện thích hợp cho nó tự chữa lành.
  2. Chúng ta cần kiên trì vì cơ thể cần thời gian để loại bỏ các yếu tố bất lợi đã tich luỹ nhiều năm và phục hồi trạng thái lành mạnh. Thông thường sau 3 tháng chúng ta mới thấy công hiệu rõ ràng, mặc dầu có trường hợp sớm hơn tuỳ theo tình trạng mỗi người. Vì vậy đừng bỏ cuộc.
  3. Chúng ta cần hiểu rằng để phòng chống bịnh mãn tính, nhất là ung thư, chúng cần lọai trừ những yếu tố tạo nên môi trường, điều kiện bất lợi và có hại cho cơ thể. Những yếu tố đó nằm trong thực phẩm và thức uống chúng ta tiêu thụ hằng ngày, không khí chúng ta thở, sự căng thẳng tinh thần, tình cảm (xúc cảm tiêu cực – kể cả lo lắng, tức giận, ghen ghét, …), âm thanh ồn ào, tình trạng thiếu ngủ, thiếu nghỉ ngơi, thiếu vận động thể lực của mình (xin xem bài viết Lối sống bình thản, thư thái là chìa khoá sức khoẻ). Việc loại bỏ những yếu tố / môi trường có hại này là việc thiết yếu cần thực hiện cách nghiêm túc, chứ không phải tuỳ tiện và xem thường.

Đi vào chi tiết hơn, chúng ta cần loại/ tránh ăn thịt đỏ, thịt chế biến, thực phẩm chế biến kể cả các loại dầu thực vật tinh chế, ngũ cốc tinh chế – như cơm trắng, bún/ mì làm bằng bột gạo trắng, bánh mì trắng, sản phẩm bột mì trắng (refined grains)- bánh kẹo ngọt.

Thứ nhất, tại sao cần tránh ăn thịt? Vì thịt và sản phẩm gốc động vật nào cũng chứa nhiều vi sinh tiết ra nhiều độc tố (endotoxin). Ăn thịt sống hay chín đếu có nghĩa là ăn những độc tố đó. Mỡ bảo hoà trong thịt lại tăng lượng độc tố chuyển vào máu. Kết quả là tăng chứng viêm trong người (Greger, 2012). Vi sinh độc hại có sẵn trong cơ thể lại thích mội trường axit do thịt ăn vào tạo ra, nên ăn nhiều thịt mỡ sẽ làm vi sinh độc hại sinh sôi và tăng trưởng trong đường tiêu hoá, nâng cao mức lượng nội độc tố, gây thêm viêm đưa đến nhiều thứ bệnh (Minich D., 2017). Chứng viêm kéo dài thường gây nên ung thư ( Coussens, M.L. & Werb, Z., 2002)

Thứ hai, chúng ta cần hiểu rằng hầu hết dầu thực vật tinh chế (khác với dầu thực vật ép lạnh) có hại cho sức khoẻ vì 1. chúng có quá nhiều axit béo ômega 6 so với ômega 3 nên gây viêm cho cơ thể đưa đến những bịnh của thời đại như là tiểu đường, cao huyết áp, ung thư, mất trí nhớ, phong thấp… 2. Chứa nhiều hoá chất dùng trong qui trình sản xuất có hại cho cơ thể và 3. Các dầu này thoá hoá sinh ra chất độc có hai cho cơ thể khi dùng để nấu ăn (từ 70 độ C hay 158 độ F) gây ra nhiều bịnh mãn tính như ung thư, tim mạch và bịnh tâm thần. Dầu bắp (corn oil) dầu hạt bông (cotton seed oil), dầu đậu nành, dầu hạt hoa hướng dương (sunflower seed oil), dầu phụng (peanut oil) dầu canola tinh chế, dầu hạt nho (grapeseed oil) là những dầu thực vật tinh chế không nên dùng. (Hyman, 2016; Patterson et al, 2012; Sifferlin , 2018).

Thứ ba, chúng cần hiểu là nên tránh thức ăn chế biến vì chúng luôn luôn có hoá chất bảo quản nên có hại cho đường ruột.

Thứ tư, âm thanh ồn ào, kích động lâu dài có ảnh hưởng gây căng thẳng thần kinh đưa đến tình trạng mất ngủ, mệt mỏi, đau tim, suy yếu thần kinh.. (Australian Academy of science, 2021) https://www.science.org.au/curious/earth-environment/health-effects-environmental-noise-pollution. Một trong những hậu quả của căng thẳng thần kinh là làm mất thăng bằng hệ vi sinh đường ruột, do đó có thể gây ung thư như đã nói ở trên.

  1. Chúng ta cần hiểu rằng để cho cơ thể tự chữa lành, chúng ta cần tạo môi trường/ điều kiện thich hợp cho nó, nghĩa là cần ăn uống lành mạnh, cần nghỉ ngơi và ngủ đầy đủ, cần đều đặn vận động thể lực, cần nghe âm thanh/ âm nhạc êm nhẹ,  cần hoà mình với thiên nhiên đều đặn…. Và đây là việc thiết yếu phải làm cách nghiêm túc thích thú không thể coi nhẹ.

Thứ nhất, chúng ta cần tạo cho cơ thể trạng thái bình thản, thư thái càng nhiều càng tốt để có tối đa thời gian và năng lượng dồn cho công tác chữa lành cơ thể.  Cách hữu hiẹu nhất là dành nhiều thì giờ nghỉ ngơi, tập thở sâu bằng bụng, nuôi dưỡng liên hệ tình cảm gia đình và xã hội lành mạnh, xây dựng tấm lòng khoan dung, tha thứ, nhân ái, thương yêu, một tâm tình biết ơn, và một lối sống tích cực quan tâm giúp đở người khác.

Thứ hai, trong đường ruột chúng ta lúc nào cũng có những vi sinh trục lợi (opportunistic bacteria and viruses). Khi chúng ta mạnh khoẻ, số lượng những vi sinh này rất thấp nên hệ thống miễn nhiễm chúng ta không phát hiện. Ngược lại khi bi căng thẳng lâu dài, hoc môn căng thẳng cortisol, epinephrine, norepinephrine được tiết ra tràn lan tạo điều kiện thuận lợi cho những vi sinh trục lợi này nhanh chóng sinh trưởng gấp bội, trong khi vi sinh tốt bị thất sủng. Vi sinh trục lợi (xấu) này tiết ra chất độc. Những chất độc này lại làm cho cơ thể tiếp tục sản xuất thêm hoc môn căng thẳng (cortisol…)  Cơ thể chúng ta bị một vòng lẩn quẩn độc hại kiềm chế. Tình trạng này làm hỏng màng ruột non, gây ra rò rỉ đường ruột,  tạo điều kiện cho chất độc lipopolysaccharides lẻn vào cơ thể gây nên hầu hết các bịnh mãn tính như tiểu đường, trầm cảm, Alzheimer’s, Parkinson’s, bịnh tim, cao huyết áp, ung thư v.v. (Krishnan, 2020).

Thứ ba, theo kết quả nghiên cứu, những người vận động thề dục đều đặn có nhiều loại và lượng vi sinh tốt trong đường ruột hơn là những người không hoạt động. Và lượng vi sinh tốt trong người có thể tăng 40% nhờ thể dục. (Monda et al , 2017; Morea, 2017).

Thứ tư, ăn uống lành mạnh đơn giản không có gì phức tạp. Chúng ta chỉ cần nhớ ăn thật nhiều thức ăn chưa chế biến (hạt thô như gạo lức, yến mạch thô, hạt có dầu thô..), ăn thức phẩm  lên men (như sửa chua – yogurt sống, kim chi, rau cải lên men, natto, miso), thât nhiều rau quả củ tươi đa màu, rau thơm, và tránh ăn đường, tránh ăn thịt, tránh dầu tinh chế, tránh thức ăn bột chế biến khi có thể tránh được và uống đủ nước lọc. Ăn uống lành mạnh cũng có nghĩa là ăn uống từ từ, nhai thật kỹ trước khi nuốt, không ăn nhiều quá, và ăn trong khung cảnh nghỉ ngơi, thư dãn. (Axe, 2018). Xin xem bài “ Chỉ ăn thức ăn gốc thực vật không chế biến có thể ngừa cà trị được mọi thứ bệnh mãn tính” https://wp.me/p94GZh-1kU

Chúng ta cũng cần biết rằng trong đường ruột chúng ta có một tập đoàn vi sinh với hàng tỉ tỉ vi trùng, vi khuẩn, nấm vi mô sống trong đó. Tập đòan vi sinh này đóng vai trò quan trọng đối với sức khoẻ chúng ta, từ hệ miễn nhiễm đến sức khoẻ của não bộ và sinh hoạt toàn diện của cơ thể. Cơ thể lành mạnh khi tập đoàn này có khoảng 85% vi sinh là vi sinh tốt. Vi sinh tốt là vi sinh giúp phân hoá các phân tử thực phẩm lớn thành nhiên liệu cần thiết cho cơ thể. Chúng cũng giúp sản xuất vitamin và giúp bảo vệ cơ thể khòi bịnh tật. Ngoài ra, vi sinh (vi trùng) tốt còn một vai trò rất quan trọng là nhờ sinh sôi nhanh chóng chúng kiềm chế vi sinh (vi trùng) xấu.

Khi lượng vi sinh xấu cao hơn 15% thì hệ vi sinh mất thăng bằng, có thể  gây ra nhiều tình trạng rối loạn trong cơ thể và ung thư. Vì vậy, làm sao gia tăng loại và lượng vi sinh tốt trong đường ruột để lập lại thăng bằng và bảo trì tập đòan vi sinh đường ruột là quan trọng trong việc phòng chống bịnh mãn tính, nhất là ung thư.

Thật may mắn là ai nấy trong chúng ta củng có thể lập lại và bảo trì một hệ vi sinh đường ruột lành mạnh bằng cách ăn uống lành mạnh, thể dục đều đặn với lối sống bình thản hiền hoà, nghỉ ngơi, thư dãn đầy đủ như đã trình bày ở phần trên.

Khi có triệu chứng hệ tiêu hoá không ổn như thường xuyên bị bón, hoặc tiêu chảy, hoặc lúc tiêu chảy, lúc bón, hoặc hay ợ chua, hoặc hay no hơn , đầy bụng, đau bụng..   nhất là sau khi ăn rau cải sống, và thực phẩm thực vật khác, đó là dấu hiệu cho biết ruột chúng ta bị hư hại và vi sinh trùng trong đó thiếu en-zim cần có để biến chế (chuyển hoá) chất bột (carbs) và xơ trong thức ăn đó. Có nghĩa là chúng ta không có đủ loại vi sinh tốt cần có trong ruột. Cách cấp tốc làm giải quyết tình trạng không tiêu, no hơi đầu bụng này là uống en zime tiêu hoá (digestive enzyme). Nhưng điều đáng mừng là chúng ta có thể giúp đường ruột chữa lành bằng cách từ từ ăn thêm nhiều loại rau quả và củ chứa chất xơ (bắt đầu ít tù từ tăng lên dần) mà không bị khó chịu. Nói tóm lại, từ từ ăn nhiều loại rau quả củ khác nhau là (=) ăn thêm nhiều loại chất xơ khác nhau tức là (=) tạo phát triển nhiều loại vi sinh trùng tốt, (=) tạo nên hệ vi sinh đường ruột thăng bằng lành mạnh (=) tăng sản xuất mỡ chuổi ngắn (=) kết quả là sức khoẻ tốt toàn diện (Shea, 2020). Điển hình là một trái táo có khoảng 1 trăm triệu vi sinh tốt đa loại (Wassermann, Müller, Berg, 2019).

Khi bị ung thư đường ruột hay bất cứ ung thư loại nào khác, hệ vi sinh đường ruột chúng ta  bị mất thăng bằng trầm trọng, và đường ruột bị hư hại trầm trọng. Chúng ta có thể giúp phục hồi và chữa lành đường ruột nhanh hơn bằng cách uống bổ sung vi sinh tốt gây giống (spore probiotics).  Loại vi sinh này giúp diệt vi sinh trục lợị, không những nuôi dưỡng vi sinh tốt mà còn giúp tăng đa dạng vi sinh tốt (nên gọi là spore probiotics – spore có nghĩa là seed, hạt giống).  Chúng ta có thể mua Youtheory Spore probiotic ở iherb.com.  Sản phẩm này có 3 dòng vi sinh gây giống là Bacillus clausii, Bacillus subtilis và Bacillus coagulans. (Krishnan, 2020) Nếu không tiện mua Youtheory spore probiotics đó thì cũng có thể thay thế nó bằng cách ăn kim chi, sửa chua, dưa cải và natto mỗi ngày vì B. coagulans có rất nhiều trong  kim chi , sửa chua, dưa cải. Còn B. subtilis thì có trong natto (đậu nành lên men của Nhật).

Cách phòng ngừa hữu hiệu ung thư đường ruột vì thế không thể thiếu thói quen ăn đa loại thức ăn lên men.

  1. Nếu đã được bác sĩ chẩn đoán là mình bị ung thư trực tràng, ung thư ruột già , ung thư gan, hay ung thư tuỵ tạng.. chúng ta cũng nên biết những loại vi sinh sau đây có tác dụng diệt tế bào ung thư theo các kết quả nghiên cứu lâm sàng để chọn thêm thuốc bổ sung vi sinh tốt thích hợp nếu muốn (Karolina Kazmierczak-Siedlecka et al. , 2020; Nicoletti A., Pompili M. […] and Ponziani, F.R. , 2019):
  • Ung thư trực tràng, ruột già:

L. rhamnosus, Bifidobacterium adolescentis, Lactobacillus casei, L. acidophilus, Bacillus polyfermenticus , Bifidobacterium animalis

  • Ung thư bao tử:

B. bifidum, L. acidophilus, L. rhamnosus, L. salivarius, B. lactis, B. animalis , L. casei, L. reuteri, B. breve, Bacillus subtilus. L. gasseri.

  • Ung thư tuỵ tạng.

L. Plantarum, B. longum, L. bulgaricusS. thermophilus, L. paracasei.

  • Ung thư gan:: L. rhamnosus, B. subtilis, Bacillus coagulans (Javanmard A. et al , 2018).

Xin lưu ý:

Tài liệu này chỉ có mục tiêu thông tin chứ không thay thế sự chỉ dẫn của bác sĩ chăm sóc sức khoẻ cho bạn.

Tham khảo:

Coussens, M.L. & Werb, Z. (2002). Inflammation and cancer. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2803035/pdf/nihms163568.pdf

Greger, M. (2012). Dead Meat Bacteria Endotoxemia. NutritionFacts.org

Globalcan 2020. WHO. https://gco.iarc.fr/today/data/factsheets/cancers/40-All-cancers-excluding-non-melanoma-skin-cancer-fact-sheet.pdf

Hyman, M. (2016) Why oil is bad for you. https://drhyman.com/blog/2016/01/29/why-oil-is-bad-for-you/

Karolina Kazmierczak-Siedlecka et al. (2020). Gastrointestinal cancers: the role of microbiota in carcinogenesis and the role of probiotics and microbiota in anti-cancer therapy efficacy. Cent Eur Immunol. 2020. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7882408/

Krishnan, K. (2020). Microbiome and Your Parasympathetic State. Parasymnpathetic Summit 2020 etranscript. Pages 217-230

Javanmard A. et al (2018). Probiotics and their role in gastrointestinal cancers prevention and treatment; an overview. Gastroenterology and Hepatology From Bed to Bench. ©2018 RIGLD, Research Institute for Gastroenterology and Liver Diseases https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6204245/pdf/GHFBB-11-284.pdf

Minich, D. (2017) What you need to know about a high-fat diet. Huffpost. https://www.huffingtonpost.com/entry/what-you-need-to-know-about-a-high-fat-diet_us_595f22c4e4b0cf3c8e8d57b0

Monda, V. et al (2017). Exercise Modifies the Gut Microbiota with Positive Health Effects. Oxidative Medicine and Cellular Longevity. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5357536/

Morea, J. (2017). Is Gut Health The Key To A Good Night’s Sleep?Take care of the friendly flora within to help get the sleep you need. Thrive Global. https://medium.com/thrive-global/is-gut-health-the-key-to-a-good-nights-sleep-414e9e7df545

Nicoletti A., Pompili M. […] and Ponziani, F.R. (2019) Going with the gut: probiotics as a novel therapy for hepatocellular carcinoma. Hepatobiliary Surg Nutr. 2019 June: 8(3): 295-297. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6561884/

Patterson, E., Wall, R., Fitzegerald, G.F., Ross, R.P. & Stanton, C. (2012). Health Implications of High Dietary Omega-6 Polyunsaturated Fatty Acids. Review Article. Journal of Nutrition and Metabolism. Volume 2012, Article ID 539426, 16 pages. http://dx.doi.org/10.1155/2012/539426

Shea, T. (2020). The power behind diversity of plants. Foodnerd.

Sifferlin , A. (2018). The 10 best and worst Oils for your health. Time. http://time.com/5342337/best-worst-cooking-oils-for-your-health/

Wassermann B., Müller H., Berg G. (2019) Front. Microbiol., 24 July 2019 | https://doi.org/10.3389/fmicb.2019.01629

 

 

 

 

 

Sống thư thái là chìa khoá sức khoẻ

Lối sống bình thản, thư thái là chìa khoá sức khoẻ –theo kinh nghiệm dân gian và khoa học xác nhận.

 Bài viết này xin tóm tắt kết quả nghiên cứu khoa học cho biết tại sao sống bình thản thư thái thì dồi dào sức khoẻ trong khi căng thẳng, lo âu dai dẳng gây nhiều bịnh hiểm nghèo. Và làm sao có thể sống thư thái cho khoẻ mạnh.

Tục ngữ Việt nam có câu “ Một nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ”.

Kinh thánh cũng có câu: “ Lòng vui mừng là phương thuốc hay. Còn tinh thần chán nản làm suy yếu sức khoẻ” (Châm ngôn 17:23).

Trong thực tế cuộc sống có quá nhiều yếu tố làm cho chúng ta không thể cười, không thể vui vẽ mừng rỡ nhiều như mình muốn. Ai sống cũng phải đối phó những tình huống khó khăn. Chính những khó khăn đó giúp chúng ta học và phát triển tài năng sinh sống. Thông thường khi khó khăn đã được giải quyết hoặc qua đi, chúng ta trở lại thư thái. Chính lúc căng thẳng đối diện nan đề, cơ thể dồn hết năng lực vào trí óc, tim và cơ bắp để đối đầu giải quyết. Chức năng tiêu hoá, giải độc, đề kháng, tái tạo và chữa lành đều phải ngưng lại.

Tuy nhiên nếu ở trong tình trạng căng thẳng hơn 20 % hay 5 giờ mỗi ngày thì cơ thể không đủ thì giờ và năng lượng) để tiêu hoá tới nơi tới chốn, giải độc, bảo trì và chữa lành các bộ phận thiết yếu. Kết quả là cơ thể bị đủ thứ bệnh tật. Trạng thái căng thẳng quá nhiều làm cho  thần kinh mất thăng bằng, làm cho tập hợp vi sinh đường ruột mầt cân bằng và là nguyên nhân chính gây các bệnh tật lâu năm khó chữa.

Ai cũng dễ dàng bị căng thẳng dai dẳng vì công việc, bổn phận gia đình, căng thẳng vì tình cảm, căng thăng vì xung đột liên hệ xã hội và môi trường sinh hoạt. Trẻ em và thanh thiếu niên thì có thể bị áp lực học hành đủ mọi thứ để kịp bạn bè, để vừa lòng cha mẹ, hoặc trong trạng thái sợ hãi vì bị bắt nạt ở trường.

Khi trẻ em sống căng thẳng dài dài trong tuổi còn thơ thì sức khoẻ bị ảnh hưởng trầm trọng suốt đời (Song, 2020),  không kể đến trường hợp bị bịnh tâm thần sớm đến nỗi càng ngày càng nhiều thanh thiếu niên ở những nước phát triển tìm cách tự kết liễu đời mình khi chưa tới tuổi trưởng thành.

Theo kinh nghiệm dân gian qua hàng ngàn năm được khoa học xác nhận thì chúng ta có thể gíup cơ thể chuyển trạng thái thần kinh căng thẳng (giao cảm)  sang trạng thái thư giãn (đối giao cảm) bằng nhiều cách rất đơn giản (không cần phải làm tất cả) như

  • Thở sâu và chậm bằng bụng 5 phút sáng sớm và cứ sau vài tiếng đồng hồ trong ngày
  • Đi chân không trên bãi cỏ hay đường đất, bãi cát 5-10 phút 1 ngày để hội nhập với từ trường trái đất, và giảm căng thẳng.
  • Rửa mặt nước thật lạnh sáng sớm và sau khi làm việc.
  • Tắm nước lạnh một vài phút sau khi tắm nước ấm xong.
  • Xức 1 chút dầu tinh chất (essential oil) đinh hương (clove) trộn với 1 chút dầu tinh chất chanh (lime ) phía sau dái tai mỗi ngày 3 lần trước bữa ăn.
  • Mỗi ngày để thì giờ cảm tạ những điều tốt mới xãy đến hoặc người khác mới làm cho mình, nói lên cảm ơn vói Thượng đế, Ơn Trên và những người đã cho mình những điều tốt, kể cả lời nói tử tế, khích lệ, chỉ bày cho mình..
  • Giải toả căng thẳng, nhất là căng thẳng tình cảm, lo âu, sợ hãi, chán nãn, tuyệt vọng… với một người chịu lắng nghe với sự cảm thông mà không chỉ trích, không chê trách. Việc này rất quan trọng đối với trẻ em đang lo bị cha mẹ la rầy, bị bạn bè chê cười hoặc bắt nạt.
  • Cầu nguyện
  • Làm việc thiện lành có ích cho người khác, gồm cả ý nghĩ tốt, lời nói tử tế, nhẹ nhàng, chịu lắng nghe, cảm thông, khích lệ, giúp đở bằng việc làm và công sức, tài chánh đối với người thân trong gia đình cũng như với người lạ…
  • Tập Thái cực quyền
  • Tập tỉnh tâm hay thiền.
  • Xoa bóp thư giãn– nhất là xoa bóp toàn thân.
  • Phục hồi hệ vi sinh đường ruột lành mạnh nếu đang bị bịnh kinh niên bằng cách uống spore probiotics, và nhiều ăn rau quả đa dạng mỗi ngày.

Căn bản khoa học:

Theo y khoa hiện đại, cơ thể chúng ta có một hệ thống thần kinh tên là Hệ thần kinh tự chủ ( Autonomous Nervous System) điều khiển tất cả các cơ chế tự động trong người, là những cơ chế chúng ta không ý thức kiểm soát như nhịp tim, huyết áp, tiêu hoá, hít thở, hoạt động của tế bào và ngay cả thân nhiệt.

Jodi Cohen trong bài “Bằng cách nào Trạng thái Đối giao cảm là then chốt của sức khoẻ” (How the Parasympathetic State is Critical to Your Health)  tóm tắt cách đơn giản như sau

‘Hệ thần kinh tự chủ có hai hệ nhánh là

  1. Hệ thần kinh Thư thái hay Đối giao cảm (Parasympathetic nervous system) còn gọi trạng thái “Nghỉ ngơi, Tiêu hoá và Chữa lành” và
  2. Hệ thần kinh Căng thẳng hay Giao cảm (Sympathetic Nervous System) còn gọi là Trạng thái “Chống cự, chạy trốn hay chết cứng”.

Hai nhánh thần kinh này khởi động trạng thái sức khoẻ tinh thần và thể chất rất khác nhau.

Chẳng hạn như nhánh thần kinh căng thẳng cấp dưỡng năng lựợng cho cơ bắp mạnh đủ để chống cự, hoặc chạy trốn. Trạng thái căng thẳng (giao cảm) làm tim đập nhanh hơn trong khi trạng thái thư thái làm tim đập chậm lại. Trạng thái thư thái  kích hoạt tiêu hoá, nhưng khi chúng ta lo âu, trạng thái căng thẳng trở nên chủ động và tắt đi hoạt động tiêu hoá.

Hai nhánh thần kinh căng thẳng và thần kinh thư thái lúc nào cũng hoạt động, nhưng trong thăng bằng. Có lúc nhánh này sinh động hơn nhánh kia. Nhưng hai nhánh bình thường cùng nhau đảm bảo chúng ta có đủ năng lượng đúng chỗ và đúng lúc.

Cái bất thăng bằng và bất bình thường xảy ra khi chúng ta bị ở trong trạng thái căng thẳng quá nhiều, nhiều hơn tỉ lệ 20%. Chúng ta cần ở trong trạng thái thư thái càng nhiều càng tốt.

Lý do là vì tất cả công tác chữa lành và bảo trì sức khoẻ – gồm cả tiêu hoá, giải độc, đề kháng nhiễm bệnh, tái tạo mô tế bào và kích thích đều xãy ra trong trạng thái bình thản thư thái (đối giao cảm). Hầu hết tắt cả bệnh tật và rối loạn chức năng xãy ra trong cơ thể đều là vì chúng ta không có khả năng vào lại trạng thái thư thái khi cần.

Dây thần kinh chủ chốt giúp cho não bộ và các bộ phận trong cơ thể liên lạc với nhau để tạo sự cân bằng giữa trạng thái căng thẳng và trạng thái thư thái là dây thần kinh Vagus, Dây thần kinh này được gọi là Vagus-  có nghĩa là chu du hay lang thang- vì nó là dây thần kinh dài nhất trong cơ thể nối kết não bộ với hầu hết các bộ phận từ não bộ, tim, gan, bao tử, đường ruột, lá lách, thận, phổi đến các mạch máu. Dây thần kinh Vagus tạo con đường thông tin hai chiều, chuyển tín hiệu ra lệnh từ não bộ tới các bộ phận cơ thể và chuyển tín hiệu tình hình từ bộ phận cơ thể tới não bộ.

Khi dây thần kinh Vagus suy yếu thì chúng ta bị mắc kẹt trong trạng thái căng thẳng mà không vào lại được trạng thái thư thái. Không tiêu hoá tốt, không giải độc được, không chữa lành được các mô tế bào,  hệ miễn nhiễm suy yếu làm cho cơ thể bị các thứ bệnh mãn tính hành hạ, từ bịnh suy tim, trầm cảm, viêm cả người, tiểu đường, mệt mỏi, lo âu, rối loạn tiêu hoá, đầu óc thiếu minh mẫn, đau khớp, đau đa xơ , ung thư, nhức đầu …đến mất trí nhớ.

Hai nguyên nhân chính làm cho dây thần kinh Vagus suy yếu là

  • Tình trạng căng thẳng kéo dài, kể cả khi chúng ta không dứt được những ý nghĩ tiêu cực buồn lo, cay đắng, giận hờn, ghen ghét.
  • Tập hợp vi sinh trong đường ruột mất thăng bằng. Tình trạng này xãy ra khi trạng thái thái căng thẳng kéo dài vì theo Krishnan (2020), trong đường ruột chúng ta lúc nào cũng có những vi sinh trục lợi (opportunistic bacteria and viruses). Khi chúng ta mạnh khoẻ, số lượng những vi sinh này rất thấp nên hệ thống miễn nhiễm chúng ta không phát hiện. Ngược lại khi bi căng thẳng lâu dài, hoc môn căng thẳng cortisol, epinephrine, norepinephrine tràn lan tạo điều kiện thuận lợi cho những vi sinh trục lợi này nhanh chóng sinh trưởng gấp bội, trong khi vi sinh tốt bị thất sủng. Vi sinh trục lợi (xấu) này tiết ra chất độc. Những chất độc này lại làm cho cơ thể tiếp tục sản xuất thêm hoc môn căng thẳng (cortisol…)  Cơ thể chúng ta bị một vòng lẩn quẩn độc hại kiềm chế. Tình trạng này làm hỏng màng ruột non, gây ra rò rỉ đường ruột,  tạo điều kiện cho chất độc lipopolysaccharides lẻn vào cơ thể gây nên hầu hết các bịnh mãn tính như tiểu đường, trầm cảm, Alzheimer’s, Parkinson’s, bịnh tim, cao huyết áp, ung thư v.v.

Vi sinh hiền/tốt đóng vai trò rất quan trọng trong việc kích hoạt phần não bộ tạo nên trạng thái thư thái.  Khi thức ăn đi vào đường ruột, những vi sinh hiền này chuyển hoá thức ăn sản xuất ra axit mỡ ngắn xích (short-chain fatty acids) và đưa chúng vào hệ tuần hoàn. Chúng đến não và kích hoạt phần não bộ chịu trách nhiệm tạo ra trong thái thư thái. Chúng giúp chúng ta trở lại trạng thái thư thái. Vi sinh hiền cũng giúp sản xuất hoc môn serotonin trong đường ruột.90% serotonin được sản xuất trong ruột. Serotonin vừa giúp di chuyển thực phẩm phân hoá trong ruột, vừa gởi tín hiệu tới não yêu cầu chuyển cơ thể sang trạng thái thư thái.

Vi sinh càng nhiều và càng đa dạng thì càng có nhiều thợ làm những việc trên chi chúng ta. Chúng tạo ra càng nhiều những hoc mon hậu vi sinh (postbiotics) cần có để kích hoạt trạng thái thư thái như axit mỡ ngắn xích, serotonin, GABA … (Krishnan, 2020).Ngược lại, vi sinh càng ít đa dạng thì càng ít hoc môn đó được sản xuất. Ăn nhiều rau quả thật đa dạng ( diversity of fruits and vegetables), ăn nhiều thức ăn lên men đa dạng, uống spore probiotics (nếu đã có bịnh mãn tính) là cách hữu hiệu tăng lượng vi sinh đa dạng.

Cách hữu hiệu nhất để ra khỏi vòng lần quẩn chết người là vừa kích thích dây thần kinh vagus,  vừa cấy vào người vi sinh gây giống (spore probiotics). Loại vi sinh này giúp diệt vi sinh trục lợị và nuôi dưỡng vi sinh tốt (nên gọi là spore probiotics – spore có nghĩa là seed, hạt giống). Chúng ta có thể mua Sản phẩm vi sinh gây giống Megasprobiotic ở Microbiomelabs.com qua một y sĩ do họ giới thiệu khi đáng ký mua.

Hoặc chúng ta cũng có thể thử mua youtheory Spore probiotic ở iherb.com.  Sản phẩm này có 3 dòng vi sinh gây giống là Bacillus clausii, Bacillus subtilis và Bacillus coagulans.

Cùng một lúc chúng ta cần tập thở sâu chậm để kích thích dây thần kinh Vagus để ra khỏi trạng thái căng thẳng lâu dài.

  • Nhiễm độc (kim loại nặng), nhiễm trùng , nhiễm khuẩn, nhất là vi trùng vi khuẩn nhiễm qua răng hàm.

Cách làm mạnh dây thần kinh Chu du Vagus

Kết quả nghiên cứu cho thấy chúng ta có thể chữa lành hay làm mạnh lại dây thần kinh Vagus bằng cách kích thích dây thần kinh Vagus. Một khi dây thần kinh Vagus mạnh lại, nó sẽ giúp chúng ta vào trạng thái bình thản thư thái để cho cơ thể nghỉ ngơi, tiêu hoá tốt, giải độc và chữa lành.

Kết quả nghiên cứu cũng xác nhận nhiều thói quen lành mạnh giúp kích thích dây thần kinh Vagus cách có hiệu quả (Fallis, 2020). Chúng ta có thể sử dụng nhiều cách sau đây để kích thích dây thần kinh Vagus và trở về trạng thái thư thái:

  • Thở sâu và chậm bằng bụng . (Russo , 2017; Cuda , 2010). Tốt nhất là chúng ta thở sâu và chậm 5 phút sáng sớm và cứ sau vài tiếng đồng hồ  trong ngày.  Theo kinh nghiệm của khoa học gia Krishnan (2020) của Microbiome Labs thì thở thật sâu và chậm (tăng thời gian giữa hít vào và thở ra) là cách vô cùng hữu hiệu để chống lại sự sản xuất hoc môn căng thẳng  (cortisol, epinephrine, norepinephrine) vì nó kích thích dây thần kinh chu du vagus.Phát âm  kéo dài âm  “Ôm” khi thở ra, và chú tâm vào từng bộ phận cơ thể cũng là cách đưa cơ thể vào trạng thái bình thản, thư thái rất hữu hiệu. (Krishnan (2020).
  • Đi chân không trên bãi cỏ hay đường đất, bãi cát 5-10 phút 1 ngày để hội nhập với từ trường trái đất, và giảm căng thẳng và hưởng nhiều lợi ích cho sức khoẻ. (Chevalier et al, 2012; Radish, 2020; Buttar, 2020)
  • Rửa mặt nước thật lạnh sáng sớm và sau khi làm việc. Vì nước lạnh trên mặt giúp kích hoạt dây thần kinh Vagus và trạng thái thư thái. (Jungmann et al, 2018). Chuyên gia Kiran Karish cũng xác nhận, dây thần kinh vagus được kích thích khi tạt nước thật lạnh lên mặt.
  • Tắm nước lạnh vài phút sau khi tắm nước ấm xong. (Jungmann et al , 2018)
  • Xức 1 chút dầu tinh chất (essential oil) đinh hương (clove) trộn với 1 chút dầu tinh chất chanh (lime ) phía sau dái tai mỗi ngày 3 lần trước bữa ăn. (Cohen, 2020)
  • Cảm tạ, biết ơn: Mỗi ngày để thì giờ cảm tạ 10 điều tốt mới xảy đến hoặc người khác mới làm cho mình, nói lên và viết ra lời cảm ơn vói Thượng đế, Ơn Trên và những người đã cho mình những điều tốt, kể cả lời nói tử tế, khích lệ, chỉ bày cho mình. (Radish, 2020, Buttar, 2020)
  • Giải toả căng thẳng, nhất là căng thẳng tình cảm, lo âu, sợ hãi, chán nãn, tuyệt vọng… với một người chịu lắng nghe với sự cảm thông mà không chỉ trích, không chê trách. Việc này rất quan trọng đối với trẻ em đang bị đe doạ bị cha mẹ la rầy, bị bạn bè chê cười hoặc bắt nạt. (Radish, 2020; Song, 2020).
  • Cầu nguyện với đức tin và lòng thương cũng có công hiệu như tỉnh tâm đưa thân thể và tinh thần vào trạng thái thư thái có lợi cho sức khoẻ (Berstein, 2020) Đặc biệt cầu nguyện giúp phòng ngừa và cải thiện bịnh tim ( Tolentino). Kinh thánh có khuyên: “Trong moi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin và sự tạ ơn mà trình lên Đức Chúa Trời Tạo hoá. Sự bình an của Đức Chúa Trời, vượt qua mọi khả năng hiểu biết sẽ gìn giữ tắm lòng và tâm trí của anh chị em.(Philip 4:6-7)Nhiều lần Chúa Giê su bảo ” Dức tin ngươi đã chữa lành ngươi”  với những người đến với Chúa để được chữa bịnh. Khi có đức tin tuyệt đối, không nghi ngờ không sợ hãi lo lắng gì cả thì chúng ta bước vào trạng thái bình thản, thư thái, là trạng thái cơ thể cần có để tự chữa bịnh.
  • Làm những điều tốt ) có ích cho người khác, gồm cả ý nghĩ tốt, lời nói tử tế, nhẹ nhàng, chịu lắng nghe, cảm thông, khích lệ, giúp đở bằng việc làm và công sức, tài chánh đối với người thân trong gia đình cũng như với người lạ… (Radish, 2020). Theo kết quả nghiên cứu của Bác sĩ Herbert Henson, sức đề kháng bịnh đều tăng lên 30% cho người làm việc tốt lành, nhận việc làm tốt lành cũng như người chứng kiến việc lành  (Buttar, 2020)
  • Chơi thể thao để vui chứ không phải ăn thua. Vì tinh thần ăn thua háo thắng làm cho chúng ta bị căng thẳng.
  • Thể dục, làm việc tay chân trong tinh thần yêu thích chứ không phải bị ức chế. Vì yêu thích thì không bị căng thẳng như khi bị ức chế, bó buộc.
  • Tỉnh tâm, thiền, tập thái cực quyền ( Wan-An Lu, Cheng-Deng Kuo) yoga.. giúp chúng ta chú tâm đến hiện tại, không buồn bực vì quá khứ hoặc lo lắng về tương lai nên thư thái và thoát khỏi căng thẳng,
  • Ăn uống khoan thai điềm đạm, nhai lâu nhai kỹ, chú ý thưởng thức món ăn cũng là một thói quen cần có để giúp cơ thể vào trạng thái thư thái. Vừa ăn vừa xem TV, xem ipads, smart phone là thói quen nên bỏ và tránh. Y như Ca dao Việt nam:

Cái miệng nó hại cái thân

Bằng như ăn uống khoan thai

Thân bình, thanh thản, chẳng vay hiểm nghèo”

Xin cảm ơn quý bạn viếng thăm trang này. Nô Ên và Năm mới 2021 sắp đến. Xin cầu chúc quý bạn một mùa Giáng Sinh Vui Vẻ và Một Năm mới Thư Thái, Mạnh khoẻ, Vui thoả, An bình và Hạnh phúc.
Xin lưu ý:

Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến chỉ dẫn của bác sĩ.

Tham Khảo:

Bernstein E. (2020) The science of prayer. Association of Psychological Science. May 20, 2020. https://www.psychologicalscience.org/news/the-science-of-prayer-2.html#:~:text=it%20might%20help.%E2%80%9D-,Dr.,your%20fight%20or%20flight%20response.&text=Some%20scientists%20who%20study%20prayer,a%20feeling%20of%20emotional%20support

Buttar, R. A. (2020) Parasympathetic BioHacks. Parasymnpathetic Summit 2020. Pages 315-336.

Chevalier et al. (2012). Earthing: Health Implications of Reconnecting the Human Body to the Earth’s Surface Electrons. J Environ Public Health. 2012; 2012: 291541. Published online 2012 Jan 12. doi: 10.1155/2012/291541 https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3265077/

Cohen, J. Practical Overview: Your Parasympathetic State. . Parasymnpathetic Summit 2020. Pages 1-14.

Cuda, G.  (2010). Just Breathe: Body Has A Built-In Stress Reliever. https://www.npr.org/2010/12/06/131734718/just-breathe-body-has-a-built-in-stress-reliever

Fallis, J. (2020) How to Stimulate Your Vagus Nerve for Better Mental Health. Optimal Living Dynamics. October 6, 2020  https://www.optimallivingdynamics.com/blog/how-to-stimulate-your-vagus-nerve-for-better-mental-health-brain-vns-ways-treatment-activate-natural-foods-depression-anxiety-stress-heart-rate-variability-yoga-massage-vagal-tone-dysfunction

Jungmann, Vencatachellum, Van Ryckeghem & Voggle (2018). Effects of Cold Stimulation on Cardiac-Vagal Activation in Healthy Participants: Randomized Controlled Trial. JMIR Form Res. 2018 Jul-Dec; 2(2): e10257. Published online 2018 Oct 9. doi: 10.2196/10257https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6334714/

Krishnan, K. (2020). Mirocbiome and Your Parasympathetic State. Parasymnpathetic Summit 2020 etranscript. Pages 217-230

Russo, M. A., Danielle M. Santarelli,  D. M., & Dean O’Rourke.   The physiological effects of slow br earthing in the healthy human. Breathe 2017 13: 298-309; DOI: 10.1183/20734735.009817 https://breathe.ersjournals.com/content/13/4/298

Song, E. (2020) Cell Danger Response & the Parasympathetic State. Parasymnpathetic Summit 2020 etranscript pages 337-350

Wan-An Lu, Cheng-Deng Kuo (2003) The effect of Tai Chi Chuan on the autonomic nervous modulation in older persons. Med Sci Sports Exerc. 2003 Dec;35(12):1972-6. doi: 10.1249/01.MSS.0000099242.10669.F7.

Tolentino, J. C.  Cardiac autonomic modulation related to prayer may contribute to the reduced cardiovascular mortality associated with religiosity/spirituality. Science Repository. https://www.sciencerepository.org/cardiac-autonomic-modulation-related-to-prayer-may-contribute_JICOA-2019-2-105

 

 

 

 

 

 

 

Rau Mầm: Một nguồn rau bổ sung ưu việt

Tại Việt nam, rau quả trên thị trường thường nhiễm thuốc trừ sâu cao hơn mức quy định an toàn. Thêm vào đó nông dân và hầu hết nhà sản xuất nông nghiệp dùng nhiều thứ hoá chất để giúp rau quả mau lớn, trông tươi đẹp hấp dẫn người mua nhưng khi tiêu thụ thì gây hại cho sức khoẻ người dùng. Tìm được một nguồn cung cấp rau quả, sạch, rau quả hũu cơ, không hoá chất vì thế thật là khó  khăn. Ngay cả ở những nước phát triển Tây phương, tìm được nguồn rau sạch, rau hữu cơ cũng không dễ.

Chúng ta có thể giải quyết phần nào vấn đề này bằng cách tự trồng rau mầm, mua rau mầm hoặc mua bột rau mầm trên thị trường. Rau mầm không những giúp bổ sung nguồn rau hữu cơ cho chúng ta mà còn mang cho chúng ta nhiều dinh dưỡng nhiều hơn và tốt hơn dinh dưỡng trong hạt/đậu, và nhiều dinh dưỡng hơn rau quả trưởng thành. Thức ăn từ hạt/đậu chưa nẩy mầm chứa nhiều phản dinh dưỡng và chất độc có thể gây nhiều khó khăn cho hệ thống tiêu hoá đưa đến nhiều bịnh hoạn. Quy trình nẩy mầm không những giải trừ những chất phản dinh dưỡng và chất độc này mà còn gia tăng chất lượng dinh dưỡng so với hạt /đậu nguyên . Vì thế, rau mầm là nguồn đạm, nguồn chất bổ vitamin và khoáng chất ưu việt từ thực vật.

Ngoài nguồn rau mầm và bột rau mầm trên thị trường, xin giới thiệu quý bạn cách tạo rau mầm đơn giản tại gia để bảo đảm cho mình một nguồn rau bổ sung hữu cơ.

Rau mầm

Rau mầm là hạt hay đậu đã nẩy mầm với mầm mới lú ra hoặc dài đến 50-60 ly. Nó là kết quả của quy trình ngâm hạt hoặc đậu sống trong một thời gian , thông thường từ 8 đến 24 giờ (tuỳ theo loại hạt và đậu) rồi để cho chúng nẩy mầm trong môi trường ấm (chẳng hạn như trong nhà bếp) trong thời gian từ 2 đến 8 ngày (tuỳ loại hạt/đậu).

Tại sao ăn rau mầm tốt hơn ăn hạt và đâu không nẩy mầm.

Hạt và đậu chứa nhiều chất bổ dưỡng, nhất là chất đạm, vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên chúng cũng chứa nhiều chất kháng dinh dưỡng độc hại cho cơ thể. Quá trình nẩy mầm giúp loại bỏ hay vô hiệu hoá tác dụng của những chất kháng dinh dưỡng này đồng thời gia tăng số lượng chất dinh dưỡng  như calcium, sắt, kẽm và chất đạm có thể hấp thụ.

Axit phytic là chất kháng dinh dưỡng trong mễ cốc, các loại hạt và đậu. Nếu không khử nó thì axit phytic kết hợp với can xium, magnesium, đồng, sắt, và chất kẽm trong dường ruột làm cản trở sự hấp thụ của chúng vào cơ thể. Vì vậy khi mễ cốc, các loại hạt và đậu không được chuẩn bị đúng cách sẽ đưa đến tình trạng thiếu khoáng chất, và suy yếu xương. Axit phytic còn cản trở chức năng của các en-zim (enzim là 1 chất do vi-sinh tiết ra có công dụng làm xúc tác tạo ra một phản ứng sinh hoá) tiêu hoá amylase (phân hoá chất bột)  trypsin và pepsin (phân hoá chất đạm). Ngoài axit phytic, hạt và đậu chưa nẩy mầm còn chứa nhiều chất tương tự kháng dinh dưỡng như

Polyphenols có tác dụng ngăn cản cơ thể tiêu hoá và hấp thụ chất đồng, sắt, kẽm và vitamin B1 cũng như enzim, chất đạm và chất bột trong thức ăn rau quả.

Chất ức chế enzim như tannin, gluten làm cản trở quá trình tiêu hoá, gây dị ứng và bịnh tâm thần.

Lectin và saponins, gây hư hại màng đường ruột làm rỏ rỉ ruột, và gây những loại bịnh tự miễn nhiễm (autoimmune disorders) và triệu chứng giống như trúng độc thực phẩm và phản ứng miễn nhiễm gây đau khớp và phát ban (rashes).

Lợi ích của quy trình nẩy mầm:

Nghiên cứu thử nghiệm xác định quy trình nẩy mầm đem lại những ích lợi sau đây.

  • Tăng hấp thu chất dinh dưỡng

   Lượng B12, Sắt, Magnesium, kẽm, vitamin C, Vitamin E, chất chống oxy hoá (antioxidants) axit ferulic và axit vanillic , vitamin A gia tăng rất nhiều qua quá trình ngâm và nẩy mầm. Những chất dinh dưỡng này kể cả chất đạm cũng dễ hấp thụ hơn.

  • Làm cho thức ăn dễ tiêu hoá hơn.

Nhiều người bị rắc rối tiêu hoá và viêm khi ăn mễ cốc, đậu, hạt có dầu và hạt nhỏ vì en zim tiêu hoá bị những chất chống dinh dưỡng đề cập ở trên trói tay. Một lợi ích chính của quy trình nẩy mầm là cởi trói en-zim tiêu hoá, tăng cường hiệu năng của bộ tiêu hoá. Nó cũng giúp tăng tập hợp vi sinh tốt trong đường ruột. Những người bị tiểu đường hoăc có nguy cơ bị tiểu đường ăn rau mầm có thể phòng ngừa và giảm triệu chứng tiểu đường cách công hiệu.

Đem rau mầm làm rau lên men (như làm cải chua kiểu Viêt nam) lại càng bổ dưỡng bộ tiêu hoá nhiều hơn nữa nhờ tăng loại và lượng vi sinh tốt trong đường tiêu hoá.

  • Giảm chất kháng dinh dưỡng và axit phy tic.

Quy trình nẩy mầm trừ giảm những chất gây ung thư và kháng dinh dưỡng trong hạt/đậu như axit phytic, tannins, gluten, lectin, saponin. Chất gây ung thư (carcinogens , aflatoxins) tự nhiên có trong thức ăn thực vật, như đậu phụng, hạnh nhân (almond), bắp và nhiều hạt có dầu (nuts) khác bị trừ giảm qua quá trình nẩy mầm.

  • Tăng lượng đạm khả dụng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy quy trình nẩy mầm làm tăng lượng đạm, kể cả đạm thiết yếu như lysine và tryptophan nhưng lại giảm gluten. Không những vậy thôi, đạm trong rau mầm dễ hấp thụ và tiêu hoá hơn. Rau mầm nhiều đạm nhất là giá đậu xanh, đậu đỏ, đậu đen, đâu dẹp lentils, đậu gà (chick peas hay garbanzo beans trong hình) và đậu xanh hạt tròn (peas).

Đậu gà (Chickpeas)
Đậu dẹp (lentils)
Đậu hà lan (peas)
  • Tăng lượng chất xơ.

Ăn rau mầm vì vậy giúp cơ thể tống thải cặn bả và chất độc hữu hiệu hơn, giải trừ táo bón.

  • Phân hoá gluten để tiêu hoá dễ dàng hơn.

Kết quả nghiên cứu cho thấy quy trình nẩy mầm giảm trừ đạm gluten rất nhiều trong lúa mì trong khi đó lại tăng lượng folate (vitamin B9) và chất xơ tiêu hoá. Bột mì từ hạt lúa mì nẩy mầm ngày càng gỉam thêm gluten trong khi đó lại gia tăng tính khả dụng của tổng lượng đạm, chất béo và đường.
Vì vậy ăn bánh mì, pasta.. làm bằng bột hạt nẩy mầm (sprouted grain bread ) có lợi cho sức khoẻ hơn là ăn sản phẩm bằng bột thường.

  • Giúp giảm trừ những chất gây dị ứng khác

Trong hạt và đậu, nhất là đậu phộng và đậu nành có nhiều chất gây dị ứng cho nhiều người. Vì vậy, đậu phụng, đậu nành nẩy mầm không những bổ dưỡng hơn mà còn an toàn hơn là đâu phụng, và đậu nành.

  • Có thể tăng en-zim, chất kháng oxit hoá và chống ung thư

Kết quả một công trình nghiên cứu năm 2007 cho thấy sau khi cho hạt kiều mạch (buckwheat) nẩy mầm trong 48 giờ, lượng hổn hợp chống oxit hoá gọi là rutin tăng hơn 10 lần , và sản xuất thêm môt chất chống oxit hoá là quercetin.

Hoa cải xanh (broccoli) được hàng ngàn công trình nghiên cứu công nhận là loại rau chứa nhiều nhất chất chống ung thư, đặc  biệt là chất sulforaphane. Tuy nhiên, rau mầm broccoli 3-5 ngày chứa nhiều gấp 10-100 lần sulforaphane so với hoa cải xanh trưởng thành  Vì vậy, kết quả nghiên cúu cho thấy 30 gm ( 1 ounce) rau mầm broccoli chứa một lượng sulforaphane tương đương với 700 gm (1.5 lbs) hoa cải broccoli. (Sara Ding, 2019).

Nếu muốn biết cụ thể lợi ích của rau mầm broccoli, nhất là trong việc giúp chúng ta chống trừ ung thư, xin xem lời chứng của hai mẹ con Rosy (mẹ)  và Imogen (con) lành binh ung thư vú và ung thư da chỉ nhờ uống nước xay rau mầm broccoli (https://juicing-for-health.com/broccoli-sprout-juice-healed-cancer).

Cách sản xuất rau mầm tại gia

Trên youtube có nhiều videos chỉ dẫn cách tạo rau mầm như giá đậu xanh, đậu đỏ.. chúng ta có thể xem và chọn lựa cách nào tiện lợi nhất cho mình. Tuy nhiên, ở những quốc gia như Mỹ, Canada, Australia, New Zealand quý bạn có thể mua bộ khay trồng rau mầm (kitchen sprouter) rất tiện lợi và gọn gàng có thể để trên bàn bếp.

Bộ khay rau mầm

Loại này có thể mua ở Walmart https://www.walmart.com/search/?query=sprouter tại Mỹ, Bunnings tại New Zealand và Úc.

Ở quốc gia khác, quý bạn tìm trên mạng internet chổ bán bộ khay trồng rau mầm này với từ “sprouter” hoăc tương đương.

Ở New Zealand, nơi bán hạt làm rau mầm là www.kingsseeds.co.nz. Quý bạn có thể tìm nơi bán hạt làm rau mầm trên mạng internet nơi mình sống, chẳng hạn như ở Mỹ thì dùng từ “sprouting seeds”

https://www.walmart.com/search/?query=sprouting%20seeds

Cách trồng rau mầm bằng bộ khay rau mầm:

Những bộ khay làm rau mầm luôn luôn kèm theo cách sử dụng. Đại khái là

  • rải 1 muỗng canh (15-20 gm) hạt vào mỗi khay. Mỗi khay một loại hạt hoặc 1 loại hạt nhiều khay.
  • Chồng khay lên nhau. Khay hứng nước nằm dưới cùng. 4 khay trên có lổ nhỏ cho nước chảy xuống khay bên dưới. Đặt bộ khay trên bàn nhà bếp nơi nào thuận tiện cho mình và không
  • Đổ nước lạnh sạch gần đầy khay trên cùng.
  • Mỗi ngày tưới nước khoảng 3 lần. Trước khi tưới nước, nhớ đổ nước ra khỏi khay dưới cùng.
  • Sau 3-4 ngày rau mầm dài đủ thì có thể bỏ vào hộp cất tủ lạnh để sử dụng.
  • Trước khi sử dụng, rửa sạch dưới vòi nước.
  • Rửa sạch bộ khay cho lần trồng kế tiếp.

Yếu tố an toàn:

Khi trồng rau mầm hay giá, chúng ta cần để ý:

Hạt, đậu bán cho người tiêu dùng nấu ăn nếu nhập cảng có thể bị chiếu bức xạ không nẩy mầm được nữa, hoặc bị xịt hoá chất bảo quản. Hạt bán trên thị trường để canh tác trồng trọt thường được phủ hoá chất bảo quản, không nên dùng tạo rau mầm để ăn. Vì vậy tốt nhất là chọn hạt sống hữu cơ chuyên dùng cho sản xuất rau mầm.

Khi mua nên cho người bán biết mục  tiêu của mình, người bán có thể đưa cho mình hạt thích hợp nhất.

Rửa sạch thau, lọ, bình dùng cho quy trình nẩy mầm để bảo đảm không bị nấm hay vi trùng sinh sôi trong đó. Sau mỗi lô rau mầm, chúng ta cũng cần rửa sạch dụng cụ bằng xà phòng, bảo đãm không còn nấm vi sinh bám trên dụng cụ.

Dầu vậy, trong quá trình tạo rau mầm, nấm vi sinh và vi trùng có thể sinh sản trên hạt hoặc đậu ẩm ướt. Vì vậy trước khi ăn rau mầm chúng ta cũng cần rửa thật kỹ rau mầm, nhất là nếu ăn sống. Nếu không, rau mầm sống có thể gây nên triệu chứng trúng độc như tiêu chảy, kiết lỵ, nôn mữa.

Trụng rau mầm trong nước sôi vài ba phút trước khi ăn vẫn là cách an toàn nhất.

Cách ăn khác là ghế hạt nẩy mầm (mầm dài không quá 5 ly) với cơm, hoặc nấu chè thay vì dùng hạt chưa nầy mầm.

Chúng ta cũng có thể dùng rau mầm làm dưa chua bằng cách ngâm rau mầm trong nước  mặn ngọt hợp khẩu vị cho rau lên men (chứ không phải ngâm dấm). Cách này càng làm tăng dinh dưỡng của rau mầm với vi sinh tốt cho cơ thể.

Nếu thường xuyên đi du lịch, hoạc đi du lịch trong thời gian lâu, chúng ta dĩ nhiên không thể trồng rau mầm để tiêu thụ. Nhưng chúng ta có thể mua và đem theo bột ăn liền làm bằng đậu nẩy mầm , hoặc tìm ăn bánh mì làm bằng bột hạt nẩy mầm (sprouted grain breads). Chúng ta có thể tìm nơi bán bột hạt nẩy mầm, bột đậu nẩy mầm trên mạng amazon.com dùng từ “sprouted bean powder” hoặc “sprouted broccoli powder” hoặc “sprouted nut powder”.

Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế tư vấn y tế.

Tham khảo

Ding, S. (2019). BROCCOLI SPROUTS KILL CANCER GROWTH, HEAL CHRONIC DISEASES, FIGHT INFLAMMATION

Gupta, H.O. (1994) Protein quality evaluation of sprouted maize.Plant Foods Hum Nutr. 1994 Jul;46(1):85-91. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/7971791

Levy, J. (2018) Sprout Guide: How to Sprout Grains, Nuts & Beans

Lorenz K. (1980)
Cereal sprouts: composition, nutritive value, food applications. Crit Rev Food Sci Nutr. 1980;13(4):353-85. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/7002472

Chỉ ăn thức ăn gốc thực vật không chế biến – có thể ngừa và trị được mọi thứ bệnh mãn tính.

Hiện nay hầu hết chuyên gia sức khoẻ thừa nhận tình trạng viêm lâu dài là nguyên nhân chính gây nên các bệnh mãn tính – từ cao huyết áp, ung thư, tiểu đường, suy tim đến suy trí nhớ. Ngày nào cũng ăn thịt, đường và thực phẩm chế biến hoăc ngày nào đầu óc, tình cảm cũng căng thẳng túi bụi thì tạo ra nhiều độc tố đưa đến chứng viêm trong cơ thể. Ăn nhiều quá – một tình trạng phổ biến nhất ở các xứ giàu có – càng làm tê hại hơn.
Các bác sĩ và chuyên gia y tế được phỏng vấn trong loạt video “Bí quyết y học tự nhiên” (Natural Health Secrets ) đồng ý rằng chế độ ăn uống thực phẩm gốc thực vật, ngủ nghỉ đủ và thể dục thích hợp là liệu pháp cơ bản chữa trị các bệnh mãn tính rất hữu hiệu.
Liệu pháp này tuy đơn giản nhưng không dễ thực hiện cho những ai đã quen với chế độ ăn uống nhiều thịt, nhiều đường, bánh ngọt, nước ngọt, nhiều dầu và đầu óc bận rộn cả ngày…

Nếu không thực hiện được đầy đủ từ đầu thì thay đổi từ từ sẽ dễ dàng hơn. Chúng ta có thể bắt đầu 1 ngày 1 tuần không ăn thịt cá, sữa bò… rồi từ từ tăng lên 2 ngày, 3 ngày , 4 ngày , 5 ngày 1 tuần. Cắt giảm được thịt cá, đường muối, bánh mì, bánh ngọt, nước ngọt mà tăng rau cải ngày nào thì giảm viêm trong người ngày đó, có thể làm khoẻ hơn, hoặc ít nhất không tệ hơn. Ăn càng thức ăn chống viêm nhiều hơn thức ăn gây viêm thì sức khoẻ tốt hơn và bịnh nếu có sẽ giảm nhanh hơn.
Sự hổ trợ trong gia đình cũng đóng vai trò then chốt giúp người bệnh. Nếu được mọi người cùng theo đuổi liệu pháp này để hổ trợ người thân trị bịnh và giúp mình ngừa bịnh thì kết quả sẽ đạt được nhanh chóng.

Sơ lược nguyên nhân gây viêm dài hạn.

Thực phẩm gốc động vật:
Thịt cá và sản phẩm gốc động vật nào cũng chứa nhiều vi sinh tiết ra nhiều độc tố (endotoxin). Ăn thịt sống hay chin đếu có nghĩa là ăn những độc tố đó. Mỡ bảo hoà trong thịt lại tăng lượng độc tố chuyển vào máu. Kết quả là tăng chứng viêm trong người (Greger, 2012). Vi sinh độc hại có sẵn trong cơ thể lại thích mội trường axit do thịt ăn vào tạo ra, nên ăn nhiều thịt mỡ sẽ làm vi sinh độc hại sinh sôi và tăng trưởng trong đường tiêu hoá, nâng cao mức lượng nội độc tố, gây thêm viêm đưa đến nhiều thứ bệnh (Minich D., 2017)

Thực phẩm chế biến:
Có nhiều người không ăn thịt hoặc ăn ít thịt nhưng ăn thực phầm chế biến nhiều đường và dầu thưc vật tinh chế (chứa quá nhiều omega 6) cũng bị nhiều chứng bịnh mãn tính kể cả tiểu đường, suy tim mạch, suy trí nhớ vì thực phẩm chế biến, đường, tinh bột và dầu thực vật tinh chế đều gây nên viêm.

Tình trạng căng thẳng
Sự căng thẳng tinh thần tình cảm lâu dài tăng mức hoc môn cortisol tới mức cơ thể không còn khả năng kiểm soát tình trạng viêm. Tình trạng viêm trong cơ thể cứ gia tăng, làm suy yêu hệ miễn nhiểm và gây ra nhiều bịnh mãn tính. (Carnegie Mellon University, 2012)

Thức ăn gốc thực vật không chế biến chống viêm:

Ngược lại thức ăn rau quả và hạt nguyên thô (whole), cùng với lối sống thư thái và khoan dung có ảnh hưởng chống viêm nên có thể chữa lành và ngăn ngừa các bịnh mãn tính.

Đúng vậy, không có cách nào giảm huyết áp hữu hiệu và nhanh bằng cách ngưng ăn thịt, thức ăn uống có sữa, trứng, đường, bột tinh chế và dầu tinh chế để chỉ ăn rau quả (đủ thứ màu) và các loại hạt chưa biến chế cùng với lối sống khoan dung thư thái.

Cách đó cũng là cách nhanh và hữu hiệu nhất để trị ung thư, tiểu đường, viêm khớp, loạn tiêu hoá, suy tim mạch, suy thận, suy gan, suy sụp trí nhớ theo kinh nghiệm của các bác sĩ và chuyên gia y tế trong loạt phỏng vấn trên.

Một số bằng chứng

Sau đây là một số trường hợp cụ thể do những bác sĩ và chuyên gia y tế trình bày trong loạt phỏng vấn “Natural health Secrets” (Jonathan Otto and Natural Health Secrets, 2019).

Bác sĩ Michael Klaper: (Tim mạch, tiểu đường, đau khớp, phì, lỡ da)
“ Tôi nhớ tới một bệnh nhân đàn ông gần 60 tuổi, chuyên viên vật lý trị liệu Động mạch ông ta nghẹt đến nỗi ông ta không thể đi bộ ngang qua sân 20 mét mà không ngừng nghỉ vì cơn đau ngực. Ngực ông đau đến nỗi ông tái xám cả người, và phải uống nitroglycerin. Thân thể ông ta không những thấy khổ sở, đáng lo, mà tạo cảm giác như ông ta sắp chết và chờ chết. Vậy mà sau khi giúp ông ta chỉ ăn uống thuần rau quả, một chế độ ăn uống nhẹ nhàng cho động mạch, mãng mỡ bám thành động mạch của ông ta bắt đầu rớt đi. Động mạch mở ra. Máu chảy mạnh. Sau 10 ngày ông ta đi bộ qua lại sân đó dể dàng không bị đau ngực nữa. Sau ba tuần, ông ta đi bộ khắp cả y viện, rồi leo lên đồi sau y viện. Ông ta sống lại. Bước đi mạnh mẽ và sắc mặt hồng hào trở lại. Thật là một chuyển biến ngoạn mục.”

“ Tôi nhớ một bệnh nhân khác tên Ken. Anh ta cao huyết áp, tiểu đường, đau khớp và da bị lở. Chúng tôi cho anh ta ăn thuần thức ăn thực vật (rau,quả, hạt, củ) không chế biến. Anh ta tiêu biểu tất cả các bệnh nhân khác và chúng tôi có thể bảo đảm bất cứ ai nghiêm túc theo chế độ ăn uống này cũng hết bịnh như anh Ken.
Chỉ trong 5-6 ngày và vài tuần, quý vị sẽ thấy thay đổi như anh Ken. Đúng vậy, chỉ sau ít ngày ăn thuần rau quả hạt không chế biến, họ bắt đầu bớt phì, động mạch mở ra, huyết áp giảm đi, khớp giảm đau, vãy nến trên da biến đi, phổi suyễn bớt khò khè và chứng nhức đầu cũng không còn. Họ trở nên rắn chắc, bình thường, khoẻ mạnh, mắt sáng ra, và không cần gói thuốc họ mang theo khi vào y viện nữa. Không cần thuốc huyết áp nữa, không cần thuốc tiểu đường nữa. Vì họ không còn bị tiểu đường , không còn cao huyết áp nữa.

“Tôi sung sướng thấy hàng trăm trường hợp vậy. Hiện giờ tôi là một trong những bác sĩ hạnh phúc nhất vì bệnh nhân của tôi khoè mạnh trở lại.
Khi nói về những thứ bệnh mãn tính liên quan đến viêm , rau xanh đậm màu phải là món đứng đầu bảng trong chế độ ăn uống của quý vị.
Tôi nói với bệnh nhân của tôi rằng màu xanh và màu vàng phải là màu ưa thích nhất của quý vị. Bữa ăn trưa, bữa ăn tối, ăn rau nào đó có màu xanh và màu vàng. Nên ăn nhiều rau xanh đậm như hoa cải xanh, cải xanh, bok choy, cải làng, dền xanh, măng tây. Đồng thời hãy ăn khá khá rau màu vàng như cà rốt, khoai lang, bí đỏ, khoai mở vàng…. Vì những thứ này chứa nhiều chất chống oxy hoá (antioxidant)”

(Bác sĩ Klaper tốt nghiệp Bás sĩ Y khoa năm 1972 tại Đại học Y khoa Illinois, học thêm chuyên khoa giải phầu, gây mê và chỉnh hình tại Đai học Bệnh viện British Columbia ở Vancouver và Nhi Khoa tại Đại học Bệnh viện California. Qua kinh nghiệp nghề nghiệp, BS Kapler nhận ra rằng nhiều bịnh tật trên các bịnh nhân của mình – như nghẹt động mạch, Cao huyết áp, mập phì, tiểu đường của người lớn , ngay cả một số loại viêm khớp, suyễn và nhiều bịnh quan trọng khác trở nên tệ hơn hoặc là hậu quả của chế độ ăn uống gồm nhiều dường, nhiều mỡ, nhiều muối, thực phẩm chế biến, thực phẩm gốc động vật thịnh hành ở Mỹ.

BS Klaper là Giám đốc Viện Giáo dục và Nghiên cứu Dinh dưỡng (Institute of Nutrition Education and Research) từ 1992 đến 2015 trong vai trò chỉ đạo nghiên cứu chú trọng về những người chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật. BS Kapler có làm việc tại NZ 3 năm và từ 2009 đến 2018 làm việc tại Trung Tâm Y tế “TrueNorth Health Centre” ở Santa Rosa, là trung tâm y tế chuyên sử dụng biện pháp nhịn ăn và chế độ thức ăn gốc thực vật toàn phần để cải thiện sức khoẻ, CA. Hiện nay BS Klaper thuộc Hội đồng Cố vấn cho Dự án “Plantrician” và “International Journal or Disease Reversal and Prevention”

BS Kim Williams (BS trưởng Tim mạch, Huyết áp, tiểu đường)
“ Khi theo dõi huyết áp những bệnh nhân bất đầu chế độ chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật, tôi thấy một phần ba giảm huyết áp rất nhiều, một phần 3 giảm trung bình còn một phần ba giảm nhẹ. Những người giãm huyết áp nhiều phải rất cẩn thận, vì sẽ tới lúc họ cần giảm liều lượng thuốc huyết áp. Nếu không theo dõi mỗi ngày để giảm thuốc họ sẽ bị nguy hiểm vì huyết áp của họ có thể đùng một cái giảm xuống còn 80/50 và bị choáng váng.
Tôi cũng đã thấy một số bệnh nhân sau khi chuyển sang chế độ ăn uống thuần gốc thực vật gặp rắc rối với thuốc insulin vì tình trạng tiểu đường đã cải thiện nhiều.
Vì vậy nếu quý vị đang cố gắng cải thiện sức khoẻ, xin hãy cộng tác với bác sĩ của mình để theo dõi tình hình kịp thời giảm thuốc uống.”
(BS Kim Williams là bác sĩ tại y viện tim mạch Rush Cardiology thuộc Đai Hoc Y khoa Rush, Oak Park, Chicago)

BS Klaper về bộ óc và trí nhớ:
“ Hiện nay ai cũng lo sợ – lo sợ rất đúng- là về già mình sẽ mất khả năng suy nghĩ và nhớ. Trước đây chúng ta không biết lý do tại sao nên nghĩ đó là diễn trình tuổi già. Nhưng càng nghiên cứu thì các khoa học gia càng thấy rõ không phải vì già mà mất trí nhớ. Có nhiều người trên 100 tuổi mà vẫn sáng suốt, nhạy bén và rõ ràng không suy giảm trí nhớ. Khi chúng ta xem kỹ những bịnh còn lại trong cơ thể, một tình trạng cơ bản cứ hiện lên. Đó là tình trạng viêm xãy ra trong các mô tế bào và tình trạng tuần hoàn máu chắc chắn ảnh hưởng đến sức khoẻ của cơ quan trong cơ thể. Khi nhìn tới não bộ, chúng ta bây giờ thấy tình trạng viêm có một vai trò quan trọng trong chứng trầm cảm và suy sụp trí nhớ, và sự tuần hoàn của máu nữa.”
“Không có gì có thể thay thế những động mạch trơn tru rộng đường cho máu chảy mang khí oxy và dưỡng chất đến mô não, và mọi tế bào cơ thể. Khi gặp người bị mất khả năng tinh thần, bác sĩ khám óc sẽ thấy rõ ràng là động mạch dẫn máu lên não bị nghẹt, và các mô tế bào bị viêm. Họ sẽ hỏi: Tạo sao vậy? Các bạn biết, có lẽ không phải vì vi khuẩn, cũng phải là vì các tia sang lạ từ vũ trụ. Mà chắc chắn là do thức ăn những người này tiêu thụ trong 60 năm, 70, năm, 80 năm ở xứ văn minh như Âu Mỹ – gồm toàn chất đạm động vật và sữa bò, dầu ăn và đường và hoá chất thực phẩm. Đây là hổn hợp độc tố chảy qua tế bào não ngày này qua ngày kia và qua những động mạch trong não. Và càng ngày càng nhiều bác sĩ và chuyên gia y tế đều đồng ý rằng đó là cách mà chủ nhân bộ não đó đã đối xử với não đó bao nhiêu năm qua. Và rốt cuộc nguyên nhân chủ chốt của bịnh mất trí nhớ là thức ăn không lành mạnh”.

“Khi nói chuyện với các sinh viên y khoa trẻ, tôi nói ‘Bạn không thể thực hành y khoa mà không để ý đến sự kiện này. Chính là thức ăn của bịnh nhân quý bạn đang thay đổi họ. Đây là sào huyệt của chứng viêm. Đây là chổ nằm của hệ miễn nhiễm. Đây là chỗ ung thư bắt đầu. Đây là chổ chứng tự miễn nhiễm khởi đầu, ở cấp độ DNA, và thức ăn chính là lực bật lên và tắt gen. Chúng ta không thể giả vờ là sự kiện này không xãy ra. Nó áp dụng cho toàn bộ dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của chúng ta.’
Vì thế, sức khoẻ khởi đầu bằng lối sống lành mạnh, bắt đầu với thức ăn lành mạnh, tức là thực phẩm gốc thực vật dạng thô. Không có thuốc tây nào, thuốc bổ sung nào, dược thảo nào có thể thay thế món xà lách, món xúp, rau cải, qui noa, trái cây, thực phẩm thực vật dạng thô. Đó là nền tảng sức khoẻ thứ nhất.”

Dr. Ayesha Sherzai:
“Hãy xem kết quả nghiên cứu trong thập niên 1990 khi BS Paul Giam ở Loma Linda so sánh sức khoẻ của những người chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật so với những người khác trong chương trình nghiên cứu của nhóm Seventh Day Adventist. Rõ ràng là những người không theo chế độ ăn thuẩn thực phẩm gốc thực vật mà ăn nhiều thức ăn gốc động vật kể cả thịt gà và cá có nguy cơ bị mất trí nhớ (Alzheimer’s) cao gấp đôi những người chuyên ăn thực phẩm gốc thực vật”.
( BS Ayesha Sherzai là 1 giám đốc chương trình phòng ngừa bịnh Alzheimer’s tại Trung Tâm y tế Đại học Loma Linda)

Dr. Peter Breggin (Bạch cầu lymphô mãn tính)
“Tôi xin kể một chuyện xãy ra trong nghề nghiệp bác sĩ tâm lý của tôi. Tôi không tin loại chuyện này. Tôi không tin mốt nhất thời. Tôi không tin phép lạ chữa bịnh. Tôi chống tất cả những thứ đó. Vấn đề là trở lại cách ăn uống lúc cơ thể chúng ta lớn lên.
Tôi có một người bạn, một giao sư Đại học. Chúng tôi có cùng quan diểm chính trị. Anh ta không cho ai biết, ngoại trừ bà xã anh ta, là anh ta bị bạch cầu lymphô bào mãn tính (chronic lymphocytic leukemia). Có lẽ anh ta phải sống với bịnh này suốt đời. Tôi thúc anh chuyển sang ăn thực phẩm thuần thực vật và giới thiệu anh với BS. Pam. Anh ta bắt đầu ăn thực phẩm toàn gốc thực vật không chế biến. Rồi anh ta hết bịnh bạch cầu lym phô bào mãn tính. Tôi không phải là người nhẹ dạ dễ tin đâu. Chế độ ăn uống chỉ gồm thực phẩm gốc thực vật có lý vì hầu như nó chỉ là thực vật. Tất cả xã hội có sức khoẻ tốt nhất là xã hội mà dân chúng ăn nhiều thực vật nhất. Pam không khuyên bạn chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật, nhưng tôi nghĩ bà ấy nói đúng là càng ăn nhiều thực vật; và càng tránh sản phẩm sữa bò và thực phẩm chế biến thì càng có cơ hội thoát hậu quả bịnh tim, bịnh cao huyết áp, bịnh suyễn và càng có cơ hội phục hồi sức khoẻ.”

BS Pam Popper : (Huyết áp, suyễn, loét ruột già)
“Một trong những cộng tác viên kinh doanh của tôi là BS Peter Breggin, một bác sĩ tâm lý nỗi tiếng. Ông ta là người không bao giờ cho bệnh nhân mình uống thuốc tây trong 55 năm hành nghề. Ông ta tuyệt vời trong lãnh vực bịnh tâm thần nhưng lại không bao giờ để ý đến sức khoẻ sinh học. Ông ta bị suyễn, lúc nào cũng bị cảm lạnh và nhiễm trùng. Ông ta uống thuốc huyết áp dài dài và vợ ông ta bị lỡ loét ruột già (ulcerative colitis). Ông ta chú tâm vào bịnh tâm thần đến nỗi không có thì giờ chăm sóc sức khoẻ mình. Vì vậy khi Peter được 82 tuổi, ông ta quyết định thay đổi chế độ ăn uống. Ông ta sút 12 kí lô và nhìn trẻ hơn 20 năm trước. Ông ta không cón phải uống thuốc huyết áp, thuốc suyễn nữa. Bà vợ ông ta cũng thay đổi chế độ ăn uống và dứt binh lỡ loét ruột già đã hành hạ bà bao nhiêu năm.”
(BS Pam Popper là bác sĩ y học tự nhiên -naturopathic doctor- PhD và là tác giả sách- Food over medicine va sách : Solving America’s healthcare crisis)

BS. Peter Breggin:
“Sau 2 tuần ăn toàn thức ăn gốc thực vật không chế biến, tôi thấy yếu người. Tôi tự bảo mình: Ăn như vậy là tào lao. Nhưng vợ tôi (Ginger) bảo: Sao anh không thử đo huyết áp mình. Tôi nghe lời và thấy huyết áp tâm trương (systolic) xuống còn 100.
Vậy là tôi không còn bị cao huyết áp nữa. Mà chỉ cần có 2 tuần lễ với chế độ ăn uống chủ yếu là thực phẩm gốc thực vật không chế biến. Thật thú vị, Vì vậy tôi tiếp tục và sụt gần 30 cân (14 kg).
Vợ tôi bắt đầu chế độ ăn uống mới và sau 2 tuần lễ, bà ấy lần đầu tiên hết đau kể từ khi tôi quen biết bà ấy (tôi nhớ trước đó phải đưa bà ấy đi cấp cứu ít nhất 12 lần). “

Liana Werner-Gray: (Ung thư)
“Tôi lớn lên ở vùng Alice Springs ở giữa Úc châu. Được nuôi dưỡng cần thận nên tôi lớn lên khá khoẻ mạnh. Tuy nhiên khi lên Brisbane học Đại học, tôi bất đầu lao vào lối sống ăn nhanh ăn lẹ với đủ thứ thức ăn chế biến ở McDonald, Pizza, KFC, Doritos. Sáng trưa chiều tối lúc nào cũng ăn thức ăn tạp nhạp. Năm năm như vậy cho tới một ngày tôi cảm thấy có gì lạ lạ nổi lên ở cổ. Tôi đi bệnh viện khám mới biết là mình bị một khối ung thư bằng trái bóng bàn trong tuyến bạch cầu. Mới có 21 tuổi.
Tôi nhớ lại những gì học được từ thổ dân bản xứ. Tôi phải trở lại thiên nhiên, ăn thức ăn thật sự có dinh dưỡng và chữa lành thân mình. Tôi tự nhủ trong 365 ngày tôi sẽ chỉ ăn thức ăn trực tiếp ra từ đất.
Trong vòng 3 tháng, khối ung thư đường kính 3.7 cm tan mất, hoàn toàn biến mất. Vâng chỉ sau 3 tháng thay đổi chế độ ăn uống, và ngừng ăn 4 thứ có hại nhất là gluten (trong bột mì) đường trắng, sản phẩm sữa và thứ gì thay gen, không tự nhiên và tất cả chất bảo trì thực phẩm, bổ sung thực phẩm…. Đúng vây, tôi dẹp hết 4 thứ đó và thay thể những thứ tôi thèm ăn trước đó bằng thực phẩm tự nhiên gốc thực vật. Rồi tôi cũng bắt đầu ép nước rau quả (đặc biệt lúc nào cũng có giá hoa cải xanh – Broccoli sprouts và củ nghệ) để uống 6 lần 1 ngày, tôi cũng uống hổn hợp đất sét bentonite.
Chế độ ăn uống của tôi chỉ có vậy thôi. Sau 3 tháng khối ung thư biến mất và từ đó đế nay, sau 10 năm tôi vẫn khoẻ mạnh, không bị ung thư nữa. “

Steve V. (Bịnh đa xơ Multiple sclerosis)
“Tháng 9 năm 2014, mắt tôi có vấn đề. Sau một loạt khám nghiệm, bác sĩ cho tôi biết tôi bị bịnh đa xơ (MS – Multiple Scleroris). Một bác sĩ bạn tôi giới thiệu tôi tới BS Kahn. Bác sĩ Kahn nói rằng, Đây là một chứng bịnh thông thường mà người ta gọi là bịnh đa xơ hay MS nhưng thật ra nó là một vấn đề đường ruột. Mình phải sửa chữa đường ruột. Phải giảm hệ miễn nhiễm từ trạng thái quá cảnh gíac -thấy cái gì cũng là ngoại thể xâm lăng-xuống tình trạng binh thường.

Trước hết là phải thay đổi chế độ ăn uống, thứ hai cung ứng một ít thứ thuốc bổ sung dinh dưỡng mà thức ăn không cung cấp được cho để hạ hệ miễn nhiễm xuống tình trạng phòng vệ thấp hơn.

Sau sáu tháng, tôi hết bịnh. Tôi từng phải uống thuốc cholesterol, bây giờ không cần nữa. Tôi giãm 9 kí lô nhờ chế độ ăn uống này. Tôi có thể chơi dã cầu với các con tôi, là chuyện tôi không làm được trước đó.”

Dr. Alan Goldhamer: “ Chế độ ăn uống, ngủ, và thể dục là những gì chúng ta có thể làm để sống cho khoẻ mạnh. Phần lớn nhiệm vụ của chúng tôi là hướng dẫn, dạy người ta sống sao cho lành mạnh. Ăn thế nào, thể dục làm sao và cách đảm bảo nghỉ ngơi / ngủ đầy đủ. “
“ Chúng tôi cũng xuất bản một số tài liệu trên báo chí y học. Trường hợp mới nhất được đăng trên Tập san Y học Anh quốc (British Medical Journal) về một phụ nữ ung thư hạch lymphô trong 2 năm tới gia đoạn 3. Bà thực hiện 21 ngày nhịn ăn và khối ung thư của bà biến đi trong lúc nhịn ăn. 10 ngay ăn trờ lại, theo dõi trong 3 năm cho thấy bà ta qua khỏi ung thư lym phô bằng cách ăn thức ăn thuần gốc thực vật.

“ Phương pháp trị bịnh của chúng tôi không phải dễ dàng mà có vẻ nguy hiểm và cực đoan đôi với nhiều người vì nó đòi hỏi họ phải bỏ lối sống quen thuộc cố hữu trãi qua hàng bao nhiêu chục năm trong đời họ. Ăn uống lành mạnh, đi ngủ đúng giờ, tập thể dục thích hợp mỗi ngày là lối sống quá mức tưởng tượng của nhiều người”.
(BS Alan Goldhamer là sáng lập viên của trung tâm y tế TrueNorth Health Centre, tốt nghiệp Western States Chiropractic College in Portland, Oregon.)

Xin lưu ý: Bài viết này chỉ có mục tiêu phổ biến thong tin chứ không thay thế ý kiến của bác sĩ chăm sóc quý bạn.

Tham khảo:

  1. Carnegie Mellon University (2012) How stress influences disease: Study reveals inflammation as the culprit. ScienceDaily. https://www.sciencedaily.com/releases/2012/04/120402162546.htm
  2. Greger, M. (2012). Dead Meat Bacteria Endotoxemia. NutritionFacts.org
  3. Jonathan Otto and Health Secret, LLC (2019). Natural Health Secrets. Episode Transcripts. Hosted by Jonathan Otto.
  4. Minich, D. (2017) What you need to know about a high-fat diet. Huffpost. https://www.huffingtonpost.com/entry/what-you-need-to-know-about-a-high-fat-diet_us_595f22c4e4b0cf3c8e8d57b0
  5. Kapler, M. About Dr. Kapler. https://www.doctorklaper.com/about

Lợi ích tuyệt vời của dầu dừa

Lợi ích sức khoẻ của dầu dừa

Dầu dừa có thể giúp cơ thể khoẻ mạnh, tăng năng lực, ngăn ngừa và giảm triệu chứng nhiều bệnh mãn tính như bệnh tim mạch, bệnh ung thư, mất trí nhớ, lỡ loét đường ruột, tiểu đường, viêm khớp, bệnh viêm da, hư tóc, viêm nướu, mập phì, khô da, viêm lá lách, loãng xương và bịnh già. Kinh nghiệm dân gian ở nhiều quốc gia Á châu và Thái bình Dương và kết quả nghiên cứu khoa học đã xác nhận như vậy. Ngoài ra dầu dừa là món dầu mỡ tốt nhất dùng để nấu thức ăn vì nó có tính bảo hoà, không biến chất ở nhiệt độ cao.

Sơ lược

Với khoảng 1500 nghiên cứu khoa học về đặc tính và lợi ích sức khoẻ của dầu dừa, dầu dừa được công nhận là thực phẩm tự nhiên siêu hạng. Mặc dầu trong năm 2018, TS Karin Michels, một giáo sư ở Đại học Harvard tuyên bố dầu dừa là độc hại, bà ta và không ai đưa ra được bằng chứng cụ thể cho thấy có một người nào vì tiêu thụ dừa mà hại đến sức khoẻ. Ngược lại bằng chứng về lợi ích của dầu dừa cho sức khoẻ thì hằng hà sa số.

Bằng chứng hùng hồn nhất là rất hiếm người bị bịnh tim mạch, ung thư, mất trí nhớ và tiểu đường ở những vùng khi cơm dừa và dầu dừa  trước năm 1960 là nguồn chất béo dinh dưỡng chủ yếu, như Việt nam,  Tích lan, Thái Lan, Mã lai, Ấn đô, Nam dương, và các đảoThái bình Dương. Theo kết quả nghiên cứu về lien hệ giữa mức tiêu thụ dừa và sức khoẻ của cư dân đảo Tích Lan, Pakapuka và Tolekau, khi dừa là nguồn mỡ chính trong dinh dưỡng hàng ngày, cư dân những đảo này không hề biết các triệu chứng bịnh tim mạch, ung thư ruột, xơ vữa động mạch,  trĩ, lỡ loét đường ruột, ruột dư… (Prior, Davidson, Salmond & Czochanska, 1981 trích trong sách của  Bruce Fife, 1999).

Ngoài cách dùng dầu dừa để nấu ăn, chúng ta còn có thể ăn mỗi ngày 3 muỗng canh dầu dừa để bảo vệ sức khoẻ bằng cách hoà 1-2 muỗng canh (tablespoon – muỗng lớn) dầu dừa vào cốc cà phê hoặc vào chén canh rau, hoặc chén cháo hoặc rưới vào sà lách trộn.

Xin thận trọng: Dầu dừa có nhiều lợi ích cho sức khoẻ, nhưng chỉ là một phần trong chế độ ăn uống lành mạnh. Ăn dầu dừa nhiều mà thiếu rau quả có chất xơ sẽ tạo nên tình trạng mất thăng bằng có thể có hại cho sức khoẻ. 

Tốt nhất là dùng dầu dừa ép lạnh nguyên chất. Tuy nhiên dầu dừa sản xuát bằng phương pháp thủ công, theo qui trình nạo cơm dừa, vắt nước cơm dừa, nấu cho bay hơi chỉ còn dầu như cách của cư dân Bến tre (https://www.youtube.com/watch?v=PZgBLePUVhE&t=553s) hoặc cách làm mới nhanh hơn ( https://www.youtube.com/watch?v=LYTrQqn3FCc ) , cũng không làm mất các hoạt chất bổ dưỡng của dầu dừa. Nên tránh dầu dừa khử mùi vì có thể có thêm hoá chất độc hại dùng trong qui trình khử mùi.

Thành phần axit béo chủ yếu dầu dừa gồm:

– Axit béo bảo hoà: 88% gồm

                                                      Axit caprylic (8 car bon): 8%

Axit capric (10 car bon): 7%

                                                    Axit lauric (12  car bon): 48%

                                                      Axit Myristic: (14 car bon): 16%

                                                      Axit palmitic ( 16 car bon): 10%

Axit béo  không bảo hoà: 12%

                                                      Axit oleic: 18 carbon :  6.5%

                                                      Axit khác:                               5%

(Nguồn:  https://en.wikipedia.org/wiki/Coconut_oil)

Axit béo bảo hoà trong dầu dừa không giống axit béo bảo hoà trong mỡ động vật và các nguồn khác ở chổ hầu hết axit bảo hoà của dầu dừa là axit tầm trung, có phân tử nhỏ, có thể đi thẳng vào máu và gan, thành nhiên liệu cho cơ thể – nhất là cho não bộ- có hoạt tính sát trùng, tăng khả năng hấp thụ vitamin và khoáng chất của cơ thể, và không trở thành mỡ trong cơ thể. Dầu dừa chủ yếu là axit béo bảo hoà, rất ổn định, không bị oxy hoá, và không biến chất trong quá trình nấu ăn vì vậy là loại dầu mỡ tốt nhất để nấu ăn.

Lợi ích sức khoẻ: Theo kinh nghiệm dân gian và kết quả nghiên cứu khoa học, dầu dừa được công nhận có những lợi ích sức khoẻ sau đây:

  1. Ngăn ngừa bịnh tim mạch và cao huyết áp. Theo các nghiên cứu lâm sàng sử dụng dầu dừa tự nhiên  với hơn 60 % axit béo chuỗi cac bon dài hạng trung, dầu dừa có tác dụng tăng mức mỡ máu tốt (HDL cholesterol) và  giảm vòng bụng (Cardioso, de Oliverira , Luiz & Rosa, 2015; Dayrit, 2014, trang 162-3). Vì vậy tiêu thụ dầu dừa (thay vì dầu tinh chế) sẽ giúp ngăn ngừa bịnh tim mạch và cao huyết áp. Trước năm 1978, Tích Lan là nơi cư dân ít bị bịnh tim mạch nhất khi mỗi người tiêu thụ trung bình 130 trái dừa 1 năm. Đến năm 2003 thì bịnh tim mạch gia tăng nhanh khi mức tiêu thụ dừa giảm còn 100-110 trái dừa/đầu người /năm. (Amarasiri & Dissanayake, 2006).
  2. Cải thiện trí nhớ và chức năng não bộ cho bệnh nhân Alzheimer’s và người già.  Khi ăn vào, axit béo chuổi cac bon tầm trung (MCFA) trong dầu dừa sẽ vào thẳng gan. Gan sẽ chuyển nó thành ketones. Ketones có thể vượt qua hang rào máu-não bộ (blood-brain barrier) trở thành năng lượng cho não. Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy não bộ tạo ra insulin riêng để chuyển biến glucose và cung cấp năng lượng cho não. Vì não bộ của người bệnh Alheimer’s mất khả năng tạo insulin này, ketones trong máu tạo ra ở gan từ dầu dừa được não bộ sử dụng như một nguồn năng lượng thay thế để chữa lành chức năng não bộ – và trí nhớ (Nafar & Mearow , 2014; Newport et al, 2015). Đã có nhiều kết quả nghiên cứu lâm sàng (Ota et al, 2019; Croteau et al, 2018) chứng tỏ sử dụng dầu dừa giúp những người bị bịnh Alzheimers phục hồi trí nhớ và chức năng trí não rất đáng kể ngay sau khoảng 6 tuần lễ. Bác sĩ Mary Newport là một trong những người đầu tiên dung dầu dừa để phục hồi trí nhớ của chồng mình một cách đáng kể chỉ sau 35 ngày (Newport, 2008).

3. Trị nhiễm trùng đường tiểu,  nhiễm trùng thận và bảo vệ gan. Dầu dừa chứa axit béo tầm trung, nhất là axit caprylic và axit capric có tính diệt vi sinh trùng rất mạnh. Hầu hết nhiễm trùng đường tiểu là do vi trùng E. Coli gây ra. Kết quả nghiên cứu của Nair et al (2005) đang trên tạp chí khoa học Sửa bò (J. Dairy Science) khám phá  axit caprylic có tác dụng diệt E. Coli , vi trùng dòng Staphylococcus  và Streptococcus  rất công hiệu. Vì vậy dầu dừa có thể dùng để trị nhiễm trùng đường tiểu, bảo vệ thận, gan và đường ruột khỏi tai hại của vi trùng E. Coli.

4. Giảm viêm cơ thể và viêm khớp. Kết quả một công trình nghiên cứu  tại Ấn độ xác định dầu dừa giảm viêm và chữa trị thấp khớp hữu hiệu hơn thuốc tây thịnh hành. (Vysakh et al , 2014).

5. Phòng ngừa và trị ung thư.  Kết quả nghiên cứu đang trên tạp chí Cell Death Discov cho thấy axit lo-ric trong dầu dừa có tác dụng ngăn cản sự phát triển của tế bào ung thư ruột già và kích động cơ chế tự diệt trong những tế bào ung thư vú và tử cung (Lappano et al, 2017). Xin xem kinh nghiệm dùng dầu dừa chữa ung thư của Julie Figaro

6. Tăng cường hệ miễn nhiễm và tăng sức đề kháng của cơ thể. Vì 50 % dầu dừa là axit lauric có tác dụng diệt vi trùng, vi khuẩn và nấm vi sinh thuộc nhóm vi-sinh gram-positive (Kabara, Swieczkowski, Lonley, & Truant, 1972) nên khi dầu dừa là nguồn dinh dưỡng axit béo chính, cơ thể có thể có hệ miễn nhiễm và đề kháng rất lớn nhất là đối với những bịnh do vi trùng gram-positive gây nên như

  • nhiễm trùng gây viêm gồm cả nhiễm trùng da, viêm phổi, viêm màng tim, viêm khớp, viêm xương tuỷ, ung nhọt (pneumonia, endocarditis, septic arthritis, osteomyelitis, and abscesses),
  • viêm xoang, viêm màng não (sinusitis, meningitis),
  • nhiễm trùng sinh mủ như viêm họng, viêm dưới da, bệnh chốc lỡ, viêm quầng (pharyngitis, cellulitis, impetigo, erysipelas)
  • viêm thận (glomerulonephritis) sốt thấp khớp (rheumatic fever), viêm ống túi mật, nhiễm trùng đường tiểu,
  • viêm màng họng , viêm cơ tim, và chứng loạn nhịp tim (arrhythmias)
  • viêm dạ dày và ruột (gastroenteritis), viêm màng não trẻ sơ sinh (neonatal meningitis) và
  • nhiễm trùng máu.

(Sizar & Unakal, 2019)

7. Tăng sinh lực và sức chịu đựng. Dầu dừa dễ tiêu hoá , cung cấp năng lượng lâu dài hơn thức ăn khác và tăng nhịp độ chuyển hoá. Khi tiêu thụ dầu dừa ép lạnh cơ thể nhanh chóng được cung cấp năng lượng vì axit lauric, axit crapylic và capric trong dầu dừa đi thẳng tới gan để được biến thành năng lương.  Dầu dừa được các vận động viên điền kinh dùng khi tập luyện cung như khi tranh tài. Theo bác sĩ Axe,  dầu dừa, mật ong và hạt chia (chia seeds) một thứ 1 muỗng canh trộn với nhau rồi dùng 30 phút trước khi tập luyện hay bắt đầu công việc lao lực.

8. Cải thiện tiêu hoá, trị lỡ loét bao tử (stomach ulcers) và ruột già (ulcerative colitis). Dầu dừa giúp cơ thể hấp thụ vitamin D, A, K và E cũng như calcium và magnesium nên giúp cãi thiện tiêu hoá.  Nếu dùng dầu dừa cùng một lúc với dầu chứa ô mê ga 3 như dầu cá và dầu hạt lanh (flaxseed oil), công hiệu của nó tăng gấp đôi (Axe, 2018). Dầu dừa cũng giúp diệt những vi sinh độc hại trong đường ruột nên giảm viêm đường ruột và gíup ngăn ngừa cũng như chữa trị bịnh lỡ loét bao tử và đường ruột (Whiteman, 2017)

9. Giảm triệu chứng bịnh túi mật  (gallbladder disease) và viêm lá lách (pancreatitis). Lá lach không cần sản xuất enzyme để phân hoá axit béo chuổi tầm trung trong dầu dừa. Vì vậy lá lách sẽ không bị quá tải (và viêm) khi chúng ta tiêu thụ dầu dừa thay vì những chất béo khác. Thêm vào đó dầu dừa rất dễ tiêu hoá nên giúp cải thiện những bịnh liên quan đến túi mật khi chúng ta thay thế những chất béo khác bằng dầu dừa (Axe, n.d.; Fife, 1999).

10. Cải thiện tình trạng da  như khô da, mụn trứng cá (acne) (Nakatsuji et al, 2009), gầu (dandruff), viêm da (dermatitis) ( Elmore, Nance, Singleton & Lorenz, 2014).

11. Ngừa và trị bịnh sưng nướu (gum disease) và hư răng (tooth decay). Axit lauric chiếm 50% axit béo trong dầu dừa có hoạt tính chống viêm và diệt vi sinh độc hại. Súc miệng bằng dầu dừa để giữ vệ sinh răng miệng, chữa trị chứng sưng nướu, ngừa hư răng đã được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới từ ngàn năm qua. Công dụng của truyền thống này đã được xác nhận qua một cuộc nghiên cứu lâm sàng năm 2015 (Peedikayil,  Sreenivasan and Narayanan, 2015) Nếu muốn chữa lành chứng sưng nướu và bảo vệ răng, chúng ta cần súc miệng bằng dầu dừa 15- 20 phút ( giữ trong miệng) mỗi ngày (hoặc ít nhất 3 lần một tuần).  Nhớ nhổ dầu dừa ra và súc miệng kỹ càng sau đó.  Bịnh viêm nướu nếu không trị sớm để dây dưa có thể gây nhiễm trùng các nội tạng, nhất là tim vì vi sinh độc nhiễm vào nướu sẽ vào máu và xâm lăng nội tạng.

12. Ngừa và trị bịnh loãng xương (osteoporosis).  Kết quả nghiên cứu của Hayatullina et al năm 2016 chứng tỏ dầu dừa có tác dụng giúp ngừa và trị bịnh loãng xương rất tốt. Thứ nhất nhờ dầu dừa có hoạt tính chống oxit hoá và giảm áp lực ôxit hoá (oxidative stress). Thứ hai nhờ dầu dừa tăng (hay phục hồi) khả năng hấp thụ calcium và cân bằng hoc môn (Feranil, Duazo,  Kuzawa & Adair, 2011). 

13. Ngăn ngừa và cải thiện bịnh tiểu đường (Diabetes type 2 ). Học viện nghiên cứu y khoa Garvan tại Úc khám phá là chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa bảo  vệ tính nhạy ứng insulin bình thường của các tế bào trong cơ thể và làm giảm mỡ (giảm cân) cho những người có nhiều mỡ. Nói cách khác, chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa giúp cơ thể chữa lành bịnh tiểu đường (Turner, 2009). Theo TS Turner, sỡ dĩ dầu dừa có tác dụng này vì dầu dừa là một loại mỡ có chuổi a-xit mỡ tầm trung (medium chain fatty acids), có kích cở nhỏ đủ để vào thẳng tiểu thể (mitochondria)  nhà máy năng lượng – của các tế bào. Sự kiện này không khác gì trường hợp các tế bào phải dùng mỡ làm nhiên liệu trong lúc nhịn ăn theo nghiên cứu của Cahill ( 2006), nghĩa là làm các tế bào tăng nhạy ứng hay giảm tính đề kháng insulin – dẫn đến tác dụng chấm dứt bệnh tiểu đường. TS Turner còn giải thích: Khi ăn nhiều mỡ, cơ thể cố gắng bù chỉnh (compensate) bằng cách tăng khả năng oxit hoá mỡ. Chế độ ăn uống chứa nhiều dầu dừa có tác dụng gia tăng khả năng oxit hoá ở bắp thịt hơn là các loại dầu mỡ khác, làm giảm mỡ chứa trong bắp thịt và cải thiện tác dụng của insulin. 

Nhiều người đã làm chứng là nhờ theo chế độ ăn uống nhiều dầu dừa (ít nhất 3 muỗng canh hay 50 – 60 phân khối chia ra làm 3 lần một ngày) họ đã hết bịnh tiểu đường trong vòng 1-2 tháng (Shilharvy, 2012)

14. Phòng ngừa và trị bịnh mập phì (nhất là ở vùng bụng). Nhiều kết quả nghiên cứu xác định axit béo chuổi tầm trung  trong dầu dừa có tác dụng đốt mỡ trắng, tăng tiêu thụ năng lựợng và làm giảm vòng bụng, ngược với tác dụng tăng vòng bụng của dầu đậu nành (Dayrit, 2014, trang 162-3)

15. Dầu dừa làm đẹp tóc, trị gầu, kích thích mọc tóc nhiều (thickening hair) nhờ có hoạt tính chống vi trùng (anti-microbial) mạnh, có axit lo rit và axit béo chuổi dài tầm trung  (medium chain fatty acids). Axit lo-rit  có phân tử lượng thấp và có thể thấm vào chân tóc, ngăn cản thất thoát chất đạm ( nên tóc không bị dòn và gãy) và  bồi dưỡng tóc với  vitamins, khoáng chất (Rele & Mohile , 2003). Vì vậy dầu dừa bổ dưỡng tóc, da đầu và giúp tóc mọc lại.

Muốn trị gầu và kích thích tóc mọc dày  thì xoa bóp 1 muỗng canh (muỗng lớn 15 phân khối) trộn với 10 giọt tinh dầu hương thảo (rosemary essential oil)  lên da đầu chừng 3 phút rồi chờ 30 phút sau gội đầu. Dầu dừa có thể dùng để chải gở tóc rối, bồi dưỡng tóc (hair conditioner) tuyệt vời. Nên biết rằng gầu không phải chỉ là do da đầu khô mà do loại nấm tên gọi là Malassezia globosa (Dr Axe, ) gây nên vì vậy dầu dừa với hoạt tính kháng sinh – kể cả nấm vi sinh-  có công hiệu trị gầu tốt nhất.

16. Giết chí tóc (head lice). Theo thử nghiệm lâm sàng đăng trong Tạp chí Nhi KHoa Âu châu, dầu dừa giết chí tóc hữu hiệu gấp đôi thuốc tây trị chí thông dụng Permetrin (Burgess, Brunton & Burgess, 2010) mà tránh được hoá chất độc hại trong thuốc tây.

 17. Trị bịnh ngứa miệng và bộ phận sinh dục do nhiễm trùng nấm Candida albican và nấm vi sinh (yeast infections) (Bergsson, Arnfinnsson & Thormar, 2001). Muốn hữu hiệu diệt trừ nấm Candida và các chứng nhiễm trùng nấm vi sinh khác phải 1. ngừng tiêu thụ đường chế biến (ngoại trừ đường trong trái cây rau quả) và ngũ cốc tinh chế (refined grains) 2.  ăn nhiều chất béo lành mạnh như dầu dừa, dầu ô liu. 3. Uống 1 muỗng canh dầu dừa  ba lần một ngày như chất dinh dưỡng phụ trợ.

18. Làm chậm già. Theo kết quả nghiên cứu đăng trên tạp chí  Food and Function, dầu dừa cải thiện mức chống ôc xít hoá và có thể làm chậm diễn trình lão hoá vì nó giảm gánh nặng làm việc cho gan và hạ áp lực ôc xy hoá (oxidative stress) (Arunima  & Rajamohan , 2013) . Dầu dừa cũng hổ trợ chức năng tẩy độc của gan. Để làm chậm già một cách tự nhiên, chúng ta nên ăn điểm tâm với 1 muỗng canh (tablespoon) dầu dừa chung với một ít quả mọng (berries). Đồng thời mỗi ngày có thể xoa dầu dừa trưc tiếp lên da.

19. Cân bằng hoc môn. Kết quả  nghiên cứu tình trạng sức khoẻ của phụ nữ Phi luât Tân cho thấy tiêu thụ nhiều dầu dừa tăng mức mỡ máu tốt (HDL cholesterol) giúp cân bằng hoc môn estrogen qua giai đoạn mãn kinh (Feranil, Duazo,  Kuzawa & Adair, 2011).  Những người thiếu estrogen thường bị loãng xương, vì vậy dầu dừa giúp ngăn ngừa bệnh loãng xương cho phụ nữ mãn kinh.

Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến và hướng dẫn của bác sĩ.

Xin xem kinh nghiệm của một số người dùng dầu dừa trị bịnh:

– của 1 chuyên gia y tế

Tham khảo:

Amarasiri, W.A.D.L. & Dissanayake A.S. (2006).  Coconut fats. THE CEYLON MEDICAL JOURNAL. Sri Lanka Medical Association. Volume 51, No. 2, December 2006 https://cmj.sljol.info/articles/10.4038/cmj.v51i2.1351/galley/1200/download/

Arunima S. & Rajamohan T. (2013). Effect of virgin coconut oil enriched diet on the antioxidant status and paraoxonase 1 activity in ameliorating the oxidative stress in rats – a comparative study. Food Funct. 2013 Sep;4(9):1402-9. doi: 10.1039/c3fo60085h https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23892389

 Burgess, I.F, Brunton, E.R. & Burgess, N.A. (2010) Clinical trial showing superiority of a coconut and anise spray over permethrin 0.43% lotion for head louse infestation, ISRCTN96469780. Eur J Pediatr. 2010 Jan;169(1):55-62. doi: 10.1007/s00431-009-0978-0. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19343362

Axe, J. (2018) 20 Coconut Oil Benefits for Your Brain, Heart, Joints + More! https://draxe.com/coconut-oil-benefits/

Bergsson, G., Arnfinnsson, J. & Thormar, H. (2001) In Vitro Killing of Candida albicans by Fatty Acids and Monoglycerides. Antimicrob Agents Chemother. 2001 Nov; 45(11): 3209–3212. doi: 10.1128/AAC.45.11.3209-3212.2001. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC90807/

Cardioso, A.A, de Oliverira , G. M.M., Luiz, R.R. & Rosa, G. (2015). A coconut extra virgin oil-rich diet increases HDL cholesterol and decreases waist circumference and body mass in coronary artery disease patients. Nutricion Hospitalaria. Nutr Hosp. 2015;32(5):2144-2152 http://www.nutricionhospitalaria.com/pdf/9642.pdf

Croteau E., Castellano C.A., Richard M.A., Fortier M., Nugent S., Lepage M., Duchesne S., Whittingstall K., Turcotte É.E., Bocti C., Fülöp T., Cunnane S.C. (2018). Ketogenic Medium Chain Triglycerides Increase Brain Energy Metabolism in Alzheimer’s Disease [Abstract] . J Alzheimers Dis. 2018;64(2):551-561. doi: 10.3233/JAD-180202.

Dayrit, F.M. (2014). Lauric Acid is a Medium-Chain Fatty Acid, Coconut Oil is a Medium-Chain Triglyceride -Review Article. Philippine Journal of Science 143 (2): 157-166, December 2014 ISSN 0031 – 7683. https://pdfs.semanticscholar.org/34bc/db43c84b418b4b309c1c6babe1c873dc900a.pdf

Elmore, L.K., Nance, G., Singleton, G., Lorenz, L. (2014) .Treatment of Dermal Infections With Topical Coconut Oil. A review of efficacy and safety of Cocos nucifera L. in treating skin infections. Natural Medicine Journal. May 2014 Vol. 6 Issue. https://www.naturalmedicinejournal.com/journal/2014-05/treatment-dermal-infections-topical-coconut-oil

Faizal C., Peedikayil, F.C., Prat Sreenivasan, P., & Narayanan, A. (2015). Effect of coconut oil in plaque related gingivitis — A preliminary report. Niger Med J. 2015 Mar-Apr; 56(2): 143–147. doi: 10.4103/0300-1652.153406

Feranil, A.B., Duazo, P.L., Kuzawa, C.W. & Adair, L.S. (2011). Coconut oil predicts a beneficial lipid profile in pre-menopausal women in the Philippines. Asia Pac J Clin Nutr. 2011; 20(2): 190–195. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3146349/

Fife, B. (1999). The coconut oil miracle. Penguin Group (USA) ISBN 1-58333-204-9

Hayatullina Z., Muhammad N., Mohamed N, Soelaiman I.N. (2016) Virgin coconut oil supplementation prevents bone loss in osteoporosis rat model [Abstract]. Evid Based Complement Alternat Med. 2012;2012:237236. Epub 2012 Sep 16. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23024690

Healthline (n.d.) 7 science-based benefits of MCT oil. https://www.healthline.com/nutrition/mct-oil-benefits#section2

Jockers (2017) Is coconut oil bad for your heart. https://drjockers.com/coconut-oil-bad/

Kabara, J.J, Swieczkowski, D.M. Lonley, A.J. & Truant, J.P. (1972) Fatty Acids and Derivatives as Antimicrobial Agents. ANTIMICROBIAL AGENTS AND CHEMOTHERAPY, July 1972, p. 23-28. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC444260/pdf/aac00361-0029.pdf

Kaur, C.D. & Saraf, S.(2010).In vitro sun protection factor determination of herbal oils used in cosmetics Pharmacognosy Res. 2010 Jan-Feb; 2(1): 22–25. doi: 10.4103/0974-8490.60586

Lappano, R., Sebastiani, A., Cirillo,F., Rigiracciolo,D.C., 1 Galli, G.R., Curcio, R. … Maggiolini, M. (2017) The lauric acid-activated signaling prompts apoptosis in cancer cells. Cell Death Discov. 2017; 3: 17063 doi: 10.1038/cddiscovery.2017.63. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5601385/

Nafar,  F. & Mearow K.M. (2014). Coconut oil attenuates the effects of amyloid-β on cortical neurons in vitro. J Alzheimers Dis. 2014;39(2):233-7. doi: 10.3233/JAD-131436.

Nair, M.K., Joy J., Vasudevan P., Hinckley L., Hoagland T.A., Venkitanarayanan K.S. (2005) Antibacterial effect of caprylic acid and monocaprylin on major bacterial mastitis pathogens. J Dairy Sci. 2005 Oct;88(10):3488-95. https://www.journalofdairyscience.org/article/S0022-0302(05)73033-2/fulltext#Results

Nakatsuji T., Kao M.C., Fang J.Y., Zouboulis C.C., Zhang L., Gallo R.L., Huang C.M. (2009) Antimicrobial property of lauric acid against Propionibacterium acnes: its therapeutic potential for inflammatory acne vulgaris. J Invest Dermatol. 2009 Oct;129(10):2480-8. doi: 10.1038/jid.2009.93

Newport, M. (2008) What if there is a cure for Alzheimer’s disease and no one knew? http://coconutketones.com/wp-content/uploads/2016/09/whatifcure.pdf

Newport M.T., VanItallie T.B., Kashiwaya Y., King M.T., Veech R.L. (2015). A new way to produce hyperketonemia: use of ketone ester in a case of Alzheimer’s disease. Alzheimers Dement. 2015 Jan;11(1):99-103. doi: 10.1016/j.jalz.2014.01.006.

Ota M., Matsuo J., Ishida I., Takano H., Yokoi Y., Hori H., Yoshida S., Ashida K., Nakamura K., Takahashi T., Kunugi H. (2019). Effects of a medium-chain triglyceride-based ketogenic formula on cognitive function in patients with mild-to-moderate Alzheimer’s disease. Neurosci Lett. 2019 Jan 18;690:232-236. doi: 10.1016/j.neulet.2018.10.048.

Prior, I.A., Davidson, F., Salmond, C.E., Czochanska, Z., 1981. Cholestertol, coconuts, and diet on Polynesian atolls: A natural experiment: The Pukapuka and Tolkelau Island studies. American Journal of Clinical Nutrients 34(8).

Rele, A.S. & Mohile, R.B. (2003)  Effect of mineral oil, sunflower oil, and coconut oil on prevention of hair damage. J Cosmet Sci. 2003 Mar-Apr;54(2):175-92 https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/12715094

Shilhavy, B. (2019) Virgin coconut oil effective in treating diabetes. Health Impact News. https://healthimpactnews.com/2012/virgin-coconut-oil-effective-in-treating-diabetes/

Sizar, O. & Unakal, C.G. (2019) Gram Positive Bacteria. StatsPearl. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK470553/

Turner, N. (2009). How coconut oili could help reduce symptoms of type 2 diabetes. Media release. Garvan Institute of Medical Research. Media release 08 September 2009.

Vysakh A., Ratheesh M., Rajmohanan T.P., Pramod C., Premlal S., Girish kumar B., Sibi P. (2014). Polyphenolics isolated from virgin coconut oil inhibits adjuvant induced arthritis in rats through antioxidant and anti-inflammatory action. Int Immunopharmacol. 2014 May;20(1):124-30. doi: 10.1016/j.intimp.2014.02.026

Whiteman, H. (2017) Plant fats alter gut bacteria to ease Crohn’s symptoms. Medical news today 23 June 2017. https://www.medicalnewstoday.com/articles/318097.php