Sống thư thái là chìa khoá sức khoẻ

Lối sống bình thản, thư thái là chìa khoá sức khoẻ –theo kinh nghiệm dân gian và khoa học xác nhận.

 Bài viết này xin tóm tắt kết quả nghiên cứu khoa học cho biết tại sao sống bình thản thư thái thì dồi dào sức khoẻ trong khi căng thẳng, lo âu dai dẳng gây nhiều bịnh hiểm nghèo. Và làm sao có thể sống thư thái cho khoẻ mạnh.

Tục ngữ Việt nam có câu “ Một nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ”.

Kinh thánh cũng có câu: “ Lòng vui mừng là phương thuốc hay. Còn tinh thần chán nản làm suy yếu sức khoẻ” (Châm ngôn 17:23).

Trong thực tế cuộc sống có quá nhiều yếu tố làm cho chúng ta không thể cười, không thể vui vẽ mừng rỡ nhiều như mình muốn. Ai sống cũng phải đối phó những tình huống khó khăn. Chính những khó khăn đó giúp chúng ta học và phát triển tài năng sinh sống. Thông thường khi khó khăn đã được giải quyết hoặc qua đi, chúng ta trở lại thư thái. Chính lúc căng thẳng đối diện nan đề, cơ thể dồn hết năng lực vào trí óc, tim và cơ bắp để đối đầu giải quyết. Chức năng tiêu hoá, giải độc, đề kháng, tái tạo và chữa lành đều phải ngưng lại.

Tuy nhiên nếu ở trong tình trạng căng thẳng hơn 20 % hay 5 giờ mỗi ngày thì cơ thể không đủ thì giờ và năng lượng) để tiêu hoá tới nơi tới chốn, giải độc, bảo trì và chữa lành các bộ phận thiết yếu. Kết quả là cơ thể bị đủ thứ bệnh tật. Trạng thái căng thẳng quá nhiều làm cho  thần kinh mất thăng bằng, làm cho tập hợp vi sinh đường ruột mầt cân bằng và là nguyên nhân chính gây các bệnh tật lâu năm khó chữa.

Ai cũng dễ dàng bị căng thẳng dai dẳng vì công việc, bổn phận gia đình, căng thẳng vì tình cảm, căng thăng vì xung đột liên hệ xã hội và môi trường sinh hoạt. Trẻ em và thanh thiếu niên thì có thể bị áp lực học hành đủ mọi thứ để kịp bạn bè, để vừa lòng cha mẹ, hoặc trong trạng thái sợ hãi vì bị bắt nạt ở trường.

Khi trẻ em sống căng thẳng dài dài trong tuổi còn thơ thì sức khoẻ bị ảnh hưởng trầm trọng suốt đời (Song, 2020),  không kể đến trường hợp bị bịnh tâm thần sớm đến nỗi càng ngày càng nhiều thanh thiếu niên ở những nước phát triển tìm cách tự kết liễu đời mình khi chưa tới tuổi trưởng thành.

Theo kinh nghiệm dân gian qua hàng ngàn năm được khoa học xác nhận thì chúng ta có thể gíup cơ thể chuyển trạng thái thần kinh căng thẳng (giao cảm)  sang trạng thái thư giãn (đối giao cảm) bằng nhiều cách rất đơn giản (không cần phải làm tất cả) như

  • Thở sâu và chậm bằng bụng 5 phút sáng sớm và cứ sau vài tiếng đồng hồ trong ngày
  • Đi chân không trên bãi cỏ hay đường đất, bãi cát 5-10 phút 1 ngày để hội nhập với từ trường trái đất, và giảm căng thẳng.
  • Rửa mặt nước thật lạnh sáng sớm và sau khi làm việc.
  • Tắm nước lạnh một vài phút sau khi tắm nước ấm xong.
  • Xức 1 chút dầu tinh chất (essential oil) đinh hương (clove) trộn với 1 chút dầu tinh chất chanh (lime ) phía sau dái tai mỗi ngày 3 lần trước bữa ăn.
  • Mỗi ngày để thì giờ cảm tạ những điều tốt mới xãy đến hoặc người khác mới làm cho mình, nói lên cảm ơn vói Thượng đế, Ơn Trên và những người đã cho mình những điều tốt, kể cả lời nói tử tế, khích lệ, chỉ bày cho mình..
  • Giải toả căng thẳng, nhất là căng thẳng tình cảm, lo âu, sợ hãi, chán nãn, tuyệt vọng… với một người chịu lắng nghe với sự cảm thông mà không chỉ trích, không chê trách. Việc này rất quan trọng đối với trẻ em đang lo bị cha mẹ la rầy, bị bạn bè chê cười hoặc bắt nạt.
  • Cầu nguyện
  • Làm việc thiện lành có ích cho người khác, gồm cả ý nghĩ tốt, lời nói tử tế, nhẹ nhàng, chịu lắng nghe, cảm thông, khích lệ, giúp đở bằng việc làm và công sức, tài chánh đối với người thân trong gia đình cũng như với người lạ…
  • Tập Thái cực quyền
  • Tập tỉnh tâm hay thiền.
  • Xoa bóp thư giãn– nhất là xoa bóp toàn thân.
  • Phục hồi hệ vi sinh đường ruột lành mạnh nếu đang bị bịnh kinh niên bằng cách uống spore probiotics, và nhiều ăn rau quả đa dạng mỗi ngày.

Căn bản khoa học:

Theo y khoa hiện đại, cơ thể chúng ta có một hệ thống thần kinh tên là Hệ thần kinh tự chủ ( Autonomous Nervous System) điều khiển tất cả các cơ chế tự động trong người, là những cơ chế chúng ta không ý thức kiểm soát như nhịp tim, huyết áp, tiêu hoá, hít thở, hoạt động của tế bào và ngay cả thân nhiệt.

Jodi Cohen trong bài “Bằng cách nào Trạng thái Đối giao cảm là then chốt của sức khoẻ” (How the Parasympathetic State is Critical to Your Health)  tóm tắt cách đơn giản như sau

‘Hệ thần kinh tự chủ có hai hệ nhánh là

  1. Hệ thần kinh Thư thái hay Đối giao cảm (Parasympathetic nervous system) còn gọi trạng thái “Nghỉ ngơi, Tiêu hoá và Chữa lành” và
  2. Hệ thần kinh Căng thẳng hay Giao cảm (Sympathetic Nervous System) còn gọi là Trạng thái “Chống cự, chạy trốn hay chết cứng”.

Hai nhánh thần kinh này khởi động trạng thái sức khoẻ tinh thần và thể chất rất khác nhau.

Chẳng hạn như nhánh thần kinh căng thẳng cấp dưỡng năng lựợng cho cơ bắp mạnh đủ để chống cự, hoặc chạy trốn. Trạng thái căng thẳng (giao cảm) làm tim đập nhanh hơn trong khi trạng thái thư thái làm tim đập chậm lại. Trạng thái thư thái  kích hoạt tiêu hoá, nhưng khi chúng ta lo âu, trạng thái căng thẳng trở nên chủ động và tắt đi hoạt động tiêu hoá.

Hai nhánh thần kinh căng thẳng và thần kinh thư thái lúc nào cũng hoạt động, nhưng trong thăng bằng. Có lúc nhánh này sinh động hơn nhánh kia. Nhưng hai nhánh bình thường cùng nhau đảm bảo chúng ta có đủ năng lượng đúng chỗ và đúng lúc.

Cái bất thăng bằng và bất bình thường xảy ra khi chúng ta bị ở trong trạng thái căng thẳng quá nhiều, nhiều hơn tỉ lệ 20%. Chúng ta cần ở trong trạng thái thư thái càng nhiều càng tốt.

Lý do là vì tất cả công tác chữa lành và bảo trì sức khoẻ – gồm cả tiêu hoá, giải độc, đề kháng nhiễm bệnh, tái tạo mô tế bào và kích thích đều xãy ra trong trạng thái bình thản thư thái (đối giao cảm). Hầu hết tắt cả bệnh tật và rối loạn chức năng xãy ra trong cơ thể đều là vì chúng ta không có khả năng vào lại trạng thái thư thái khi cần.

Dây thần kinh chủ chốt giúp cho não bộ và các bộ phận trong cơ thể liên lạc với nhau để tạo sự cân bằng giữa trạng thái căng thẳng và trạng thái thư thái là dây thần kinh Vagus, Dây thần kinh này được gọi là Vagus-  có nghĩa là chu du hay lang thang- vì nó là dây thần kinh dài nhất trong cơ thể nối kết não bộ với hầu hết các bộ phận từ não bộ, tim, gan, bao tử, đường ruột, lá lách, thận, phổi đến các mạch máu. Dây thần kinh Vagus tạo con đường thông tin hai chiều, chuyển tín hiệu ra lệnh từ não bộ tới các bộ phận cơ thể và chuyển tín hiệu tình hình từ bộ phận cơ thể tới não bộ.

Khi dây thần kinh Vagus suy yếu thì chúng ta bị mắc kẹt trong trạng thái căng thẳng mà không vào lại được trạng thái thư thái. Không tiêu hoá tốt, không giải độc được, không chữa lành được các mô tế bào,  hệ miễn nhiễm suy yếu làm cho cơ thể bị các thứ bệnh mãn tính hành hạ, từ bịnh suy tim, trầm cảm, viêm cả người, tiểu đường, mệt mỏi, lo âu, rối loạn tiêu hoá, đầu óc thiếu minh mẫn, đau khớp, đau đa xơ , ung thư, nhức đầu …đến mất trí nhớ.

Hai nguyên nhân chính làm cho dây thần kinh Vagus suy yếu là

  • Tình trạng căng thẳng kéo dài, kể cả khi chúng ta không dứt được những ý nghĩ tiêu cực buồn lo, cay đắng, giận hờn, ghen ghét.
  • Tập hợp vi sinh trong đường ruột mất thăng bằng. Tình trạng này xãy ra khi trạng thái thái căng thẳng kéo dài vì theo Krishnan (2020), trong đường ruột chúng ta lúc nào cũng có những vi sinh trục lợi (opportunistic bacteria and viruses). Khi chúng ta mạnh khoẻ, số lượng những vi sinh này rất thấp nên hệ thống miễn nhiễm chúng ta không phát hiện. Ngược lại khi bi căng thẳng lâu dài, hoc môn căng thẳng cortisol, epinephrine, norepinephrine tràn lan tạo điều kiện thuận lợi cho những vi sinh trục lợi này nhanh chóng sinh trưởng gấp bội, trong khi vi sinh tốt bị thất sủng. Vi sinh trục lợi (xấu) này tiết ra chất độc. Những chất độc này lại làm cho cơ thể tiếp tục sản xuất thêm hoc môn căng thẳng (cortisol…)  Cơ thể chúng ta bị một vòng lẩn quẩn độc hại kiềm chế. Tình trạng này làm hỏng màng ruột non, gây ra rò rỉ đường ruột,  tạo điều kiện cho chất độc lipopolysaccharides lẻn vào cơ thể gây nên hầu hết các bịnh mãn tính như tiểu đường, trầm cảm, Alzheimer’s, Parkinson’s, bịnh tim, cao huyết áp, ung thư v.v.

Vi sinh hiền/tốt đóng vai trò rất quan trọng trong việc kích hoạt phần não bộ tạo nên trạng thái thư thái.  Khi thức ăn đi vào đường ruột, những vi sinh hiền này chuyển hoá thức ăn sản xuất ra axit mỡ ngắn xích (short-chain fatty acids) và đưa chúng vào hệ tuần hoàn. Chúng đến não và kích hoạt phần não bộ chịu trách nhiệm tạo ra trong thái thư thái. Chúng giúp chúng ta trở lại trạng thái thư thái. Vi sinh hiền cũng giúp sản xuất hoc môn serotonin trong đường ruột. Serotonin  vừa giúp di chuyển thì khó có trạng thái thư thái vùa gởi tín hiệu tới não yêu cầu vào trạng thái thư thái.

Vi sinh càng nhiều và càng đa dạng thì càng có nhiều thợ làm những việc trên chi chúng ta. Chúng tạo ra càng nhiều những hoc mon hậu vi sinh (postbiotics) cần có để kích hoạt trạng thái thư thái như axit mỡ ngắn xích, serotonin, GABA … (Krishnan, 2020).Ngược lại, vi sinh càng ít đa dạng thì càng ít hoc môn đó được sản xuất. Ăn nhiều rau quả thật đa dạng ( diversity of fruits and vegetables), ăn nhiều thức ăn lên men đa dạng, uống spore probiotics (nếu đã có bịnh mãn tính) là cách hữu hiệu tăng lượng vi sinh đa dạng.

Cách hữu hiệu nhất để ra khỏi vòng lần quẩn chết người là vừa kích thích dây thần kinh vagus,  vừa cấy vào người vi sinh gây giống (spore probiotics). Loại vi sinh này giúp diệt vi sinh trục lợị và nuôi dưỡng vi sinh tốt (nên gọi là spore probiotics – spore có nghĩa là seed, hạt giống). Chúng ta có thể mua Sản phẩm vi sinh gây giống Megasprobiotic ở Microbiomelabs.com qua một y sĩ do họ giới thiệu khi đáng ký mua.

Hoặc chúng ta cũng có thể thử mua youtheory Spore probiotic ở iherb.com.  Sản phẩm này có 3 dòng vi sinh gây giống là Bacillus clausii, Bacillus subtilis và Bacillus coagulans.

Cùng một lúc chúng ta cần tập thở sâu chậm để kích thích dây thần kinh Vagus để ra khỏi trạng thái căng thẳng lâu dài.

  • Nhiễm độc (kim loại nặng), nhiễm trùng , nhiễm khuẩn, nhất là vi trùng vi khuẩn nhiễm qua răng hàm.

Cách làm mạnh dây thần kinh Chu du Vagus

Kết quả nghiên cứu cho thấy chúng ta có thể chữa lành hay làm mạnh lại dây thần kinh Vagus bằng cách kích thích dây thần kinh Vagus. Một khi dây thần kinh Vagus mạnh lại, nó sẽ giúp chúng ta vào trạng thái bình thản thư thái để cho cơ thể nghỉ ngơi, tiêu hoá tốt, giải độc và chữa lành.

Kết quả nghiên cứu cũng xác nhận nhiều thói quen lành mạnh giúp kích thích dây thần kinh Vagus cách có hiệu quả (Fallis, 2020). Chúng ta có thể sử dụng nhiều cách sau đây để kích thích dây thần kinh Vagus và trở về trạng thái thư thái:

  • Thở sâu và chậm bằng bụng . (Russo , 2017; Cuda , 2010). Tốt nhất là chúng ta thở sâu và chậm 5 phút sáng sớm và cứ sau vài tiếng đồng hồ  trong ngày.  Theo kinh nghiệm của khoa học gia Krishnan (2020) của Microbiome Labs thì thở thật sâu và chậm (tăng thời gian giữa hít vào và thở ra) là cách vô cùng hữu hiệu để chống lại sự sản xuất hoc môn căng thẳng  (cortisol, epinephrine, norepinephrine) vì nó kích thích dây thần kinh chu du vagus.Phát âm  kéo dài âm  “Ôm” khi thở ra, và chú tâm vào từng bộ phận cơ thể cũng là cách đưa cơ thể vào trạng thái bình thản, thư thái rất hữu hiệu. (Krishnan (2020).
  • Đi chân không trên bãi cỏ hay đường đất, bãi cát 5-10 phút 1 ngày để hội nhập với từ trường trái đất, và giảm căng thẳng và hưởng nhiều lợi ích cho sức khoẻ. (Chevalier et al, 2012; Radish, 2020; Buttar, 2020)
  • Rửa mặt nước thật lạnh sáng sớm và sau khi làm việc. Vì nước lạnh trên mặt giúp kích hoạt dây thần kinh Vagus và trạng thái thư thái. (Jungmann et al, 2018). Chuyên gia Kiran Karish cũng xác nhận, dây thần kinh vagus được kích thích khi tạt nước thật lạnh lên mặt.
  • Tắm nước lạnh vài phút sau khi tắm nước ấm xong. (Jungmann et al , 2018)
  • Xức 1 chút dầu tinh chất (essential oil) đinh hương (clove) trộn với 1 chút dầu tinh chất chanh (lime ) phía sau dái tai mỗi ngày 3 lần trước bữa ăn. (Cohen, 2020)
  • Cảm tạ, biết ơn: Mỗi ngày để thì giờ cảm tạ 10 điều tốt mới xảy đến hoặc người khác mới làm cho mình, nói lên và viết ra lời cảm ơn vói Thượng đế, Ơn Trên và những người đã cho mình những điều tốt, kể cả lời nói tử tế, khích lệ, chỉ bày cho mình. (Radish, 2020, Buttar, 2020)
  • Giải toả căng thẳng, nhất là căng thẳng tình cảm, lo âu, sợ hãi, chán nãn, tuyệt vọng… với một người chịu lắng nghe với sự cảm thông mà không chỉ trích, không chê trách. Việc này rất quan trọng đối với trẻ em đang bị đe doạ bị cha mẹ la rầy, bị bạn bè chê cười hoặc bắt nạt. (Radish, 2020; Song, 2020).
  • Cầu nguyện với đức tin và lòng thương cũng có công hiệu như tỉnh tâm đưa thân thể và tinh thần vào trạng thái thư thái có lợi cho sức khoẻ (Berstein, 2020) Đặc biệt cầu nguyện giúp phòng ngừa và cải thiện bịnh tim ( Tolentino). Kinh thánh có khuyên: “Trong moi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin và sự tạ ơn mà trình lên Đức Chúa Trời Tạo hoá. Sự bình an của Đức Chúa Trời, vượt qua mọi khả năng hiểu biết sẽ gìn giữ tắm lòng và tâm trí của anh chị em.(Philip 4:6-7)Nhiều lần Chúa Giê su bảo ” Dức tin ngươi đã chữa lành ngươi”  với những người đến với Chúa để được chữa bịnh. Khi có đức tin tuyệt đối, không nghi ngờ không sợ hãi lo lắng gì cả thì chúng ta bước vào trạng thái bình thản, thư thái, là trạng thái cơ thể cần có để tự chữa bịnh.
  • Làm những điều tốt ) có ích cho người khác, gồm cả ý nghĩ tốt, lời nói tử tế, nhẹ nhàng, chịu lắng nghe, cảm thông, khích lệ, giúp đở bằng việc làm và công sức, tài chánh đối với người thân trong gia đình cũng như với người lạ… (Radish, 2020). Theo kết quả nghiên cứu của Bác sĩ Herbert Henson, sức đề kháng bịnh đều tăng lên 30% cho người làm việc tốt lành, nhận việc làm tốt lành cũng như người chứng kiến việc lành  (Buttar, 2020)
  • Chơi thể thao để vui chứ không phải ăn thua. Vì tinh thần ăn thua háo thắng làm cho chúng ta bị căng thẳng.
  • Thể dục, làm việc tay chân trong tinh thần yêu thích chứ không phải bị ức chế. Vì yêu thích thì không bị căng thẳng như khi bị ức chế, bó buộc.
  • Tỉnh tâm, thiền, tập thái cực quyền ( Wan-An Lu, Cheng-Deng Kuo) yoga.. giúp chúng ta chú tâm đến hiện tại, không buồn bực vì quá khứ hoặc lo lắng về tương lai nên thư thái và thoát khỏi căng thẳng,
  • Ăn uống khoan thai điềm đạm, nhai lâu nhai kỹ, chú ý thưởng thức món ăn cũng là một thói quen cần có để giúp cơ thể vào trạng thái thư thái. Vừa ăn vừa xem TV, xem ipads, smart phone là thói quen nên bỏ và tránh. Y như Ca dao Việt nam:

Cái miệng nó hại cái thân

Bằng như ăn uống khoan thai

Thân bình, thanh thản, chẳng vay hiểm nghèo”

Xin cảm ơn quý bạn viếng thăm trang này. Nô Ên và Năm mới 2021 sắp đến. Xin cầu chúc quý bạn một mùa Giáng Sinh Vui Vẻ và Một Năm mới Thư Thái, Mạnh khoẻ, Vui thoả, An bình và Hạnh phúc.
Xin lưu ý:

Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến chỉ dẫn của bác sĩ.

Tham Khảo:

Bernstein E. (2020) The science of prayer. Association of Psychological Science. May 20, 2020. https://www.psychologicalscience.org/news/the-science-of-prayer-2.html#:~:text=it%20might%20help.%E2%80%9D-,Dr.,your%20fight%20or%20flight%20response.&text=Some%20scientists%20who%20study%20prayer,a%20feeling%20of%20emotional%20support

Buttar, R. A. (2020) Parasympathetic BioHacks. Parasymnpathetic Summit 2020. Pages 315-336.

Chevalier et al. (2012). Earthing: Health Implications of Reconnecting the Human Body to the Earth’s Surface Electrons. J Environ Public Health. 2012; 2012: 291541. Published online 2012 Jan 12. doi: 10.1155/2012/291541 https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3265077/

Cohen, J. Practical Overview: Your Parasympathetic State. . Parasymnpathetic Summit 2020. Pages 1-14.

Cuda, G.  (2010). Just Breathe: Body Has A Built-In Stress Reliever. https://www.npr.org/2010/12/06/131734718/just-breathe-body-has-a-built-in-stress-reliever

Fallis, J. (2020) How to Stimulate Your Vagus Nerve for Better Mental Health. Optimal Living Dynamics. October 6, 2020  https://www.optimallivingdynamics.com/blog/how-to-stimulate-your-vagus-nerve-for-better-mental-health-brain-vns-ways-treatment-activate-natural-foods-depression-anxiety-stress-heart-rate-variability-yoga-massage-vagal-tone-dysfunction

Jungmann, Vencatachellum, Van Ryckeghem & Voggle (2018). Effects of Cold Stimulation on Cardiac-Vagal Activation in Healthy Participants: Randomized Controlled Trial. JMIR Form Res. 2018 Jul-Dec; 2(2): e10257. Published online 2018 Oct 9. doi: 10.2196/10257https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6334714/

Krishnan, K. (2020). Mirocbiome and Your Parasympathetic State. Parasymnpathetic Summit 2020 etranscript. Pages 217-230

Russo, M. A., Danielle M. Santarelli,  D. M., & Dean O’Rourke.   The physiological effects of slow br earthing in the healthy human. Breathe 2017 13: 298-309; DOI: 10.1183/20734735.009817 https://breathe.ersjournals.com/content/13/4/298

Song, E. (2020) Cell Danger Response & the Parasympathetic State. Parasymnpathetic Summit 2020 etranscript pages 337-350

Wan-An Lu, Cheng-Deng Kuo (2003) The effect of Tai Chi Chuan on the autonomic nervous modulation in older persons. Med Sci Sports Exerc. 2003 Dec;35(12):1972-6. doi: 10.1249/01.MSS.0000099242.10669.F7.

Tolentino, J. C.  Cardiac autonomic modulation related to prayer may contribute to the reduced cardiovascular mortality associated with religiosity/spirituality. Science Repository. https://www.sciencerepository.org/cardiac-autonomic-modulation-related-to-prayer-may-contribute_JICOA-2019-2-105

 

 

 

 

 

 

 

Cập nhật cách phục hồi trí nhớ – Bằng thuốc bổ sung vi sinh đường ruột (Probiotics)

Tuần rồi tôi nghiên cứu xem probiotics có thể giải quyết bịnh dị ứng, bệnh mất ngủ, nhức đầu không. Kết quả rất đáng khich lệ.
Tôi mới nghĩ: như vậy probiotics chắc có thể giúp phục hồi trí nhớ.
Tôi tìm kiếm và đúng y như mình nghĩ..
Đã có thử nghiệm lâm sàng cho thấy probiotics có công hiệu phục hồi trí nhớ 28 % chỉ sau 12 tuần khi 30 trong 60 người bị Alzheimer’s nặng ( trí nhớ chỉ còn 8.5/30 theo tiểu trắc nghiệm tình trạng tinh thần – mini-mental state exam) trong khi 30 người không uống probiotics thì suy sụp thêm 5% trí não. Họ chỉ dùng 4 dòng ( strains ) Lactobacillus acidophillus, L. Casei, L. Fermentum và Bifidobacterium Bifidum mỗi thứ 2 billion CFU mà kết quả đã tốt như vậy.

Vì vậy tôi xin cập nhật cẩm nang phục hồi trí nhớ, đưa biện pháp uống probiotics lên hàng đầu.
Xin quý bạn bỏ cẩm nang hôm trước , rồi dùng và phổ biến cẩm nang mới này.
Trong cẩm nang mới có link tới báo cáo kết quả thử nghiệm trên nếu quý bạn muốn xem. Dưới đây là Bài Cách Phục Hồi Trí nhớ bằng dinh dưỡng dưới dạng PDF:

CÁCH PHỤC HỒI TRÍ NHỚ – BẰNG DINH DƯỠNG ( Cho Bệnh nhân Alzheimer’s)-

Càng ngày càng nhiều người trên thế giới bị bịnh mất trí nhớ, nhất là người lớn tuổi. Chế độ ăn uống và sinh hoạt thiếu lành mạnh cùng với thuốc tây là nguyên nhân chính gây nên tình trạng suy sụp và mất trí nhớ. Bài hướng dẫn này tổng hợp nhiều thông tin có chứng cứ khoa học có thể giúp chúng ta chống bịnh mất trí nhớ một cách cụ thể, đơn giản và phù hợp với mình. (Bài cập nhật 24 tháng 7 năm 2020)

Ngừng những thứ có hại

  • Ngừng ăn các thứ này: thức ăn thức uống có thêm đường, sản phẩm sửa bò, thức ăn chế biến, dầu thực vật tinh chế như dầu dậu nành, dần canola, dầu cám, dầu bắp, dầu hạt hướng dương, dầu phộng, bánh mì trắng, bánh ngọt, kẹo, gạo trắng, sản phẩm bột mì và sản phẩm bột gạo trắng, bột ngọt. Đây là những thức ăn thức uống gây viêm. (Wegerer, 2014)
  • Tránh uống thuốc có statins. Thay vào đó ăn mỗi ngày 1 trái táo có tác dụng giảm mỡ máu như statin mà có lợi cho não thay vì làm hại não như statin
  • Tránh những thuốc ức chế bơm proton (Proton Pump inhibitors hay PPI) chống ợ hơi như Nexium, Prilosec, Prevacid, thuốc bổ sung Can xi, thuốc giảm đau như ibuprofen, Tylenol là những thuốc có thể làm suy giảm trí nhớ (Sayer Ji, 2020).

Bồi dưỡng não bộ

Uống bổ sung probiotics (vi sinh đường ruột)

Cần uống mỗi ngày Probiotics it nhất 60 tỉ CFU với ít nhất 10 dòng vi sinh Lactobacillus và Bifidobacterium để hồi phục số lượng vi sinh hiền và trấn áp vi sinh độc trong đường ruột. Kết quả là sẽ nhanh chóng giảm viêm trong não và giúp phục hồi trí nhớ. Năm 2016 kết quả thử nghiệm lâm sàng ngẫu biến (randomised), mù đôi (double-blind) và có kiểm sóat (controlled) vơi 60 người bị Alzheimer’s nặng cho thấy sau 12 tuần những người uống probiotics 4 dòng 2 tỉ CFU mỗi dòng (strain)/ngày phục hồi 28% trí nhớ trong khi những người không uống tiếp tục suy giảm trí nhớ thêm 5% ( Akbari et al. , 2016).

Tăng cường Vitamin B

Thiếu vitamin B3 thường đi đôi với triệu chứng mất trí nhớ, mệt mỏi, trầm cảm và lo âu. Thiếu B12 gây chứng mất trí nhớ, lo lắng và khó chịu. Thiếu B6 tăng nguy cơ tai biến mạch máu não, suy tim và mất trí nhớ. Trong thực tế tất cả vitamin B đều cần hổ trợ cho nhau trong chức năng của chúng. (Triệu chứng thiếu vitamin B).Vi sinh đường ruột khi trở lại phong phú và cân bằng sẽ giúp cơ thể rút đủ vitamin B từ thức ăn.

Liều bồi dưỡng vitamin B nên dùng: 1 viên nang hổn hợp vitamin B (B complex) liều mạnh 1 lần một ngày. Chúng ta cần chọn lựa thứ có chất lượng tốt đáng tin cậy. Loại nào có B6 dưới dạng P5P (còn gọi là PLP) thì tốt hơn là B6 dưới dạng pyridoxine hydrochloride (HCL) ví dụ như B-Complex Plus của Bác sĩ Hyman.
Đối với người bị Alzheimer’s nghiêm trọng, chúng ta có thể bổ sung thêm vitamin B 12, B6 và B9 với liều lượng sau đây -theo nghiên cứu của ĐH Oxford – để ngăn chặn co rút não: * 0, 5 milligrams vitamin B12 một ngày * 20 mg B6 một ngày và * 0,8 mg axit folic (hoặc B9) một ngày. .

Tiêu thụ rau đắng (bacopa monnieri)

Kết quả nghiên cứu cho thấy rau đắng có thể cải thiện trí nhớ, giảm lo âu , trầm cảm và làm nhẹ đầu óc (giảm triệu chứng nặng đầu) tăng khả năng chú ý, chú tâm, học hỏi và ghi nhớ (Price, 2016). Có thể ăn rau đắng sống trộn dầu ô liu như sà lách, hoặc phơi khô làm trà uống mỗi ngày 1-2 lần chung với trà xanh.
Đối với trường hợp bị mất trí nhớ (Alzheimer’s ) trầm trọng chúng ta có thể dùng thêm 300-500 mg chiết xuất rau đắng mỗi ngày, 2000 IU Vitamin E và 1.000-4.000 mg chiết xuất nấm bờm sư tử – lion ‘s mane (chứa tối thiểu là 15% beta glucan).

Ăn 3 muỗng canh (45-50 phân khối) dầu dừa mỗi ngày

Dầu dừa chứa 60% triglyceride chuỗi hạng trung (MCT), là loại dầu cung cấp năng lượng cho não bộ, khi não bộ thiếu đường glucose vì cơ thể người mất trí nhớ thiếu bén nhạy với insulin (insulin resistant). (Croteau et al, 2019) Có thể ăn dầu dừa với cháo yến mạch, canh rau, cafe, trà xanh. Chỉ nên ăn dầu dừa nguyên chất ép lạnh (cold pressed extra virgin coconut oil)

Uống Dầu hạt thì là đen (Black cumin seed oil)

Một muỗng nhỏ ( 5 phân khối) dầu hạt thì là đen hoà với 1 muỗng nhỏ mật ong hoặc một số nước cam tươi trước giờ ngủ, có tác dụng cải thiện và gia tăng trí nhớ và giúp dễ ngủ/ ngủ ngon. ( Xin xem bài dầu hạt thì là đen )

Tiêu thụ nhiều dầu ô mê ga 3

Uống thuốc bổ sung dầu cá, ăn hạt lanh (flaxseeds) và dầu hạt lanh, ăn hạt gai (hemp seeds) dầu hạt gai, ăn hạt hạnh nhân (almond), ăn hạt bí đỏ (pumpkin seeds)ăn cá béo, ăn hạt óc chó (walnuts) . Axit béo Omega-3 là chất mỡ cần có giúp đảm bảo màng tế bào thần kinh lành mạnh đủ để bảo vệ hệ thống thần kinh trung ương. (Axe, 2018)

Ăn nghệ và gừng đều đặn

Nghệ và gừng có công dụng cải thiện triệu chứng mất trí nhớ rất công hiệu theo kế tquả nghiên cứu (Sayer Ji, 2020). Hai loại củ này có thể tiêu thụ dưới dạng gia vị cho các món ăn. Chúng ta cũng có thể tiêu thụ riêng như thuốc bổ sung như sau: 1 muỗng cà fe bột nghệ trộn với dầu oliu (hay dầu hạt gai) và mật ong. Nhớ thêm 1 tí bột tiêu đen để tăng mức hấp thụ dinh dưỡng trong nghệ. Chúng ta có thể ăn 1 lát gừng dày 1 cm ăn với mật ong buổi sáng và tối.

Tiêu thụ nhiều nấm

Nghiên cứu khoa học xác nhận các loại nấm là thực phẩm tốt cho não. Một số nấm như nấm đông cô, nấm bờm sư tử … có thể giúp tái tạo các tế bào não bị thương tổn và kích thích dây thần kinh tăng trưởng . Nếu nấm tươi hoặc khô không có bán tại địa phương, bạn có thể mua chúng dưới dạng bổ sung dinh dưỡng.
Nếu có phương tiện và muốn đơn giản có thuốc bổ sung đặc chế chứa đủ chiết xuất bacopa, nấm bờm sư tử, ginkgo, alpha GPC và Huperzine A, là những dược thảo và nấm được xem là có công dụng giúp phục hồi trí nhớ chúng ta có thể mua Redimind ở https://www.nutreance.com/products/redimind có công hiệu và tiện lợi.

Ăn uống lành mạnh

Ăn nhiều trái cây  và rau cải tươi đa màu khác nhau, gạo lức, yến mạch, qui noa, hạt có dầu, dầu ô liu và dầu trái bơ, thỉnh thoảng ăn trứng, gà vịt chạy tự do và thịt cừu. Cần ăn đều đặn rau quả lên men như kim chi, sửa chua sống (live yogurt), dưa chua, táo lên men (táo cắt làm 12-16 miếng ngâm trong sửa chua sống 1-2 ngày), miso, natto….  Thức uống tốt cho trí nhớ ngoài trà rau đắng là nước dừa, trà xanh , cà phê (mỗi thứ 1-2 cốc 1 ngày thôi)  và nhiều nước lọc (Axe, 2018)

Hoạt động thể dục mỗi ngày

để đảm bảo máu chảy đủ mạnh lên khu vực não có chức năng học tập và ghi nhớ. Nếu được, nên chơi bóng bàn, cầu lông vì các môn thể thao nhẹ này đòi hỏi phải phối hợp mắt – tay, lấy quyết định, xử lý thông tin nhanh chóng và vận động tăng tuần hoàn máu. Nói chung, chúng ta cần vận động khoảng 30 phút mỗi ngày ít nhất 5 ngày một tuần (ví dụ như đi bộ, chạy, chạy bộ, nhảy dây, bơi lội, đi bộ nước, đạp xe …). Nên thay đổi hoạt động để tránh nhàm chán. Ngay cả làm việc nhà và làm vườn cũng là thể dục tốt. (Hyman, Axe )

Ngủ cho đủ và ngủ cho ngon

Cần đảm bảo có đủ giấc ngủ ngon (khoảng 7 giờ mỗi ngày) bằng cách tập thói quen ngủ lành mạnh. (Hyman, Axe)

Tích cực trong liên hệ gia đình, xã hội

để giữ cho bộ não của bạn  luôn linh hoạt.  Tích cực chuyện trò, tham gia sinh hoạt với  con cháu hoặc bạn bè hằng ngày là những hoạt động vô cùng cần thiết để bảo vệ trí nhớ. Chơi trò chơi đố vui với con cháu, đọc sách, kể chuyện xưa cho con cháu.

Tích cực vận dụng trí óc

bằng cách  tham gia vào các hoạt động thách thức đầu óc  như đọc tin tức, chơi cờ tây, cờ tướng, ráp hình, ráp chữ, trò chơi chữ, trò đố sudoku, học  khiêu vũ, học thuộc lòng lời hay ý đẹp, thơ văn yêu thích.

Súc miệng bằng dầu dừa mỗi ngày

để giảm ảnh hưởng tai hại của vi trùng P. gingivalis, – vi trùng nhiễm qua chứng sưng nướutrong cột tuỷ não (cerebral cortex) đối với  trí nhớ (Debora Mackenzie, 2019)

Xin lưu ý:

Bịnh suy sụp trí nhớ phát triển qua nhiều năm nên cũng cần nhiều thời gian để phục hồi trí nhớ. Chúng ta cần kiên nhẫn. Đừng bỏ cuộc khi không thấy kế quả sau một ngày, sau 1 tuần hay sau một tháng áp dụng cách trị này. Có thể phải cần 2-3 tháng mới thấy hiệu quả. Trí nhớ sẽ tiếp tục cải thiện nếu chúng ta kiên trì.

Tài liệu hướng dẫn này  này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến và  lời khuyên của bác sĩ.

Tham khảo

Akbari et al (2016). Effect of Probiotic Supplementation on Cognitive Function and Metabolic Status in Alzheimer’s Disease: A Randomized, Double-Blind and Controlled Trial. Front Aging Neurosci. https://dx.doi.org/10.3389%2Ffnagi.2016.00256

Axe, J, (2018) Alzheimer’s Natural Treatment Options & 7 Notable Breakthroughs.  https://draxe.com/health/alzheimers-natural-treatment/

Croteau et al (2018). Ketogenic Medium Chain Triglycerides Increase Brain Energy Metabolism in Alzheimer’s Disease [Abstract] . J Alzheimers Dis. 2018;64(2):551-561. doi: 10.3233/JAD-180202.

Debora Mackenzie (2019) We may finally know what causes Alzheimer’s – and how to stop it
https://www.newscientist.com/article/2191814-we-may-finally-know-what-causes-alzheimers-and-how-to-stop-it/

Goldman, R. & Lynch A. (2014) Memory Healer Program. http://memoryhealer.com/

Hyman (n.d.) 8 steps to reverse memory loss. https://thewomensalzheimersmovement.org/8-steps-to-reverse-memory-loss/

Price, A. (2016) Bacopa: The Brain-Boosting Alternative Treatment to Psychotropic Drugs. https://draxe.com/nutrition/bacopa/

Sayer Ji (2020) Regenerate- Unlocking your body’s Radical resilience through the new biology.  E-book ISBN: 978-1-4019-5640-0

Wegerer, J. (2014) Nutrition and Dementia: Foods That May Induce Memory Loss & Increase Alzheimer’s

https://www.alzheimers.net/foods-that-induce-memory-loss

Chỉ ăn thức ăn gốc thực vật không chế biến – có thể ngừa và trị được mọi thứ bệnh mãn tính.

Hiện nay hầu hết chuyên gia sức khoẻ thừa nhận tình trạng viêm lâu dài là nguyên nhân chính gây nên các bệnh mãn tính – từ cao huyết áp, ung thư, tiểu đường, suy tim đến suy trí nhớ. Ngày nào cũng ăn thịt, đường và thực phẩm chế biến hoăc ngày nào đầu óc, tình cảm cũng căng thẳng túi bụi thì tạo ra nhiều độc tố đưa đến chứng viêm trong cơ thể. Ăn nhiều quá – một tình trạng phổ biến nhất ở các xứ giàu có – càng làm tê hại hơn.
Các bác sĩ và chuyên gia y tế được phỏng vấn trong loạt video “Bí quyết y học tự nhiên” (Natural Health Secrets ) đồng ý rằng chế độ ăn uống thực phẩm gốc thực vật, ngủ nghỉ đủ và thể dục thích hợp là liệu pháp cơ bản chữa trị các bệnh mãn tính rất hữu hiệu.
Liệu pháp này tuy đơn giản nhưng không dễ thực hiện cho những ai đã quen với chế độ ăn uống nhiều thịt, nhiều đường, bánh ngọt, nước ngọt, nhiều dầu và đầu óc bận rộn cả ngày…

Nếu không thực hiện được đầy đủ từ đầu thì thay đổi từ từ sẽ dễ dàng hơn. Chúng ta có thể bắt đầu 1 ngày 1 tuần không ăn thịt cá, sữa bò… rồi từ từ tăng lên 2 ngày, 3 ngày , 4 ngày , 5 ngày 1 tuần. Cắt giảm được thịt cá, đường muối, bánh mì, bánh ngọt, nước ngọt mà tăng rau cải ngày nào thì giảm viêm trong người ngày đó, có thể làm khoẻ hơn, hoặc ít nhất không tệ hơn. Ăn càng thức ăn chống viêm nhiều hơn thức ăn gây viêm thì sức khoẻ tốt hơn và bịnh nếu có sẽ giảm nhanh hơn.
Sự hổ trợ trong gia đình cũng đóng vai trò then chốt giúp người bệnh. Nếu được mọi người cùng theo đuổi liệu pháp này để hổ trợ người thân trị bịnh và giúp mình ngừa bịnh thì kết quả sẽ đạt được nhanh chóng.

Sơ lược nguyên nhân gây viêm dài hạn.

Thực phẩm gốc động vật:
Thịt cá và sản phẩm gốc động vật nào cũng chứa nhiều vi sinh tiết ra nhiều độc tố (endotoxin). Ăn thịt sống hay chin đếu có nghĩa là ăn những độc tố đó. Mỡ bảo hoà trong thịt lại tăng lượng độc tố chuyển vào máu. Kết quả là tăng chứng viêm trong người (Greger, 2012). Vi sinh độc hại có sẵn trong cơ thể lại thích mội trường axit do thịt ăn vào tạo ra, nên ăn nhiều thịt mỡ sẽ làm vi sinh độc hại sinh sôi và tăng trưởng trong đường tiêu hoá, nâng cao mức lượng nội độc tố, gây thêm viêm đưa đến nhiều thứ bệnh (Minich D., 2017)

Thực phẩm chế biến:
Có nhiều người không ăn thịt hoặc ăn ít thịt nhưng ăn thực phầm chế biến nhiều đường và dầu thưc vật tinh chế (chứa quá nhiều omega 6) cũng bị nhiều chứng bịnh mãn tính kể cả tiểu đường, suy tim mạch, suy trí nhớ vì thực phẩm chế biến, đường, tinh bột và dầu thực vật tinh chế đều gây nên viêm.

Tình trạng căng thẳng
Sự căng thẳng tinh thần tình cảm lâu dài tăng mức hoc môn cortisol tới mức cơ thể không còn khả năng kiểm soát tình trạng viêm. Tình trạng viêm trong cơ thể cứ gia tăng, làm suy yêu hệ miễn nhiểm và gây ra nhiều bịnh mãn tính. (Carnegie Mellon University, 2012)

Thức ăn gốc thực vật không chế biến chống viêm:

Ngược lại thức ăn rau quả và hạt nguyên thô (whole), cùng với lối sống thư thái và khoan dung có ảnh hưởng chống viêm nên có thể chữa lành và ngăn ngừa các bịnh mãn tính.

Đúng vậy, không có cách nào giảm huyết áp hữu hiệu và nhanh bằng cách ngưng ăn thịt, thức ăn uống có sữa, trứng, đường, bột tinh chế và dầu tinh chế để chỉ ăn rau quả (đủ thứ màu) và các loại hạt chưa biến chế cùng với lối sống khoan dung thư thái.

Cách đó cũng là cách nhanh và hữu hiệu nhất để trị ung thư, tiểu đường, viêm khớp, loạn tiêu hoá, suy tim mạch, suy thận, suy gan, suy sụp trí nhớ theo kinh nghiệm của các bác sĩ và chuyên gia y tế trong loạt phỏng vấn trên.

Một số bằng chứng

Sau đây là một số trường hợp cụ thể do những bác sĩ và chuyên gia y tế trình bày trong loạt phỏng vấn “Natural health Secrets” (Jonathan Otto and Natural Health Secrets, 2019).

Bác sĩ Michael Klaper: (Tim mạch, tiểu đường, đau khớp, phì, lỡ da)
“ Tôi nhớ tới một bệnh nhân đàn ông gần 60 tuổi, chuyên viên vật lý trị liệu Động mạch ông ta nghẹt đến nỗi ông ta không thể đi bộ ngang qua sân 20 mét mà không ngừng nghỉ vì cơn đau ngực. Ngực ông đau đến nỗi ông tái xám cả người, và phải uống nitroglycerin. Thân thể ông ta không những thấy khổ sở, đáng lo, mà tạo cảm giác như ông ta sắp chết và chờ chết. Vậy mà sau khi giúp ông ta chỉ ăn uống thuần rau quả, một chế độ ăn uống nhẹ nhàng cho động mạch, mãng mỡ bám thành động mạch của ông ta bắt đầu rớt đi. Động mạch mở ra. Máu chảy mạnh. Sau 10 ngày ông ta đi bộ qua lại sân đó dể dàng không bị đau ngực nữa. Sau ba tuần, ông ta đi bộ khắp cả y viện, rồi leo lên đồi sau y viện. Ông ta sống lại. Bước đi mạnh mẽ và sắc mặt hồng hào trở lại. Thật là một chuyển biến ngoạn mục.”

“ Tôi nhớ một bệnh nhân khác tên Ken. Anh ta cao huyết áp, tiểu đường, đau khớp và da bị lở. Chúng tôi cho anh ta ăn thuần thức ăn thực vật (rau,quả, hạt, củ) không chế biến. Anh ta tiêu biểu tất cả các bệnh nhân khác và chúng tôi có thể bảo đảm bất cứ ai nghiêm túc theo chế độ ăn uống này cũng hết bịnh như anh Ken.
Chỉ trong 5-6 ngày và vài tuần, quý vị sẽ thấy thay đổi như anh Ken. Đúng vậy, chỉ sau ít ngày ăn thuần rau quả hạt không chế biến, họ bắt đầu bớt phì, động mạch mở ra, huyết áp giảm đi, khớp giảm đau, vãy nến trên da biến đi, phổi suyễn bớt khò khè và chứng nhức đầu cũng không còn. Họ trở nên rắn chắc, bình thường, khoẻ mạnh, mắt sáng ra, và không cần gói thuốc họ mang theo khi vào y viện nữa. Không cần thuốc huyết áp nữa, không cần thuốc tiểu đường nữa. Vì họ không còn bị tiểu đường , không còn cao huyết áp nữa.

“Tôi sung sướng thấy hàng trăm trường hợp vậy. Hiện giờ tôi là một trong những bác sĩ hạnh phúc nhất vì bệnh nhân của tôi khoè mạnh trở lại.
Khi nói về những thứ bệnh mãn tính liên quan đến viêm , rau xanh đậm màu phải là món đứng đầu bảng trong chế độ ăn uống của quý vị.
Tôi nói với bệnh nhân của tôi rằng màu xanh và màu vàng phải là màu ưa thích nhất của quý vị. Bữa ăn trưa, bữa ăn tối, ăn rau nào đó có màu xanh và màu vàng. Nên ăn nhiều rau xanh đậm như hoa cải xanh, cải xanh, bok choy, cải làng, dền xanh, măng tây. Đồng thời hãy ăn khá khá rau màu vàng như cà rốt, khoai lang, bí đỏ, khoai mở vàng…. Vì những thứ này chứa nhiều chất chống oxy hoá (antioxidant)”

(Bác sĩ Klaper tốt nghiệp Bás sĩ Y khoa năm 1972 tại Đại học Y khoa Illinois, học thêm chuyên khoa giải phầu, gây mê và chỉnh hình tại Đai học Bệnh viện British Columbia ở Vancouver và Nhi Khoa tại Đại học Bệnh viện California. Qua kinh nghiệp nghề nghiệp, BS Kapler nhận ra rằng nhiều bịnh tật trên các bịnh nhân của mình – như nghẹt động mạch, Cao huyết áp, mập phì, tiểu đường của người lớn , ngay cả một số loại viêm khớp, suyễn và nhiều bịnh quan trọng khác trở nên tệ hơn hoặc là hậu quả của chế độ ăn uống gồm nhiều dường, nhiều mỡ, nhiều muối, thực phẩm chế biến, thực phẩm gốc động vật thịnh hành ở Mỹ.

BS Klaper là Giám đốc Viện Giáo dục và Nghiên cứu Dinh dưỡng (Institute of Nutrition Education and Research) từ 1992 đến 2015 trong vai trò chỉ đạo nghiên cứu chú trọng về những người chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật. BS Kapler có làm việc tại NZ 3 năm và từ 2009 đến 2018 làm việc tại Trung Tâm Y tế “TrueNorth Health Centre” ở Santa Rosa, là trung tâm y tế chuyên sử dụng biện pháp nhịn ăn và chế độ thức ăn gốc thực vật toàn phần để cải thiện sức khoẻ, CA. Hiện nay BS Klaper thuộc Hội đồng Cố vấn cho Dự án “Plantrician” và “International Journal or Disease Reversal and Prevention”

BS Kim Williams (BS trưởng Tim mạch, Huyết áp, tiểu đường)
“ Khi theo dõi huyết áp những bệnh nhân bất đầu chế độ chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật, tôi thấy một phần ba giảm huyết áp rất nhiều, một phần 3 giảm trung bình còn một phần ba giảm nhẹ. Những người giãm huyết áp nhiều phải rất cẩn thận, vì sẽ tới lúc họ cần giảm liều lượng thuốc huyết áp. Nếu không theo dõi mỗi ngày để giảm thuốc họ sẽ bị nguy hiểm vì huyết áp của họ có thể đùng một cái giảm xuống còn 80/50 và bị choáng váng.
Tôi cũng đã thấy một số bệnh nhân sau khi chuyển sang chế độ ăn uống thuần gốc thực vật gặp rắc rối với thuốc insulin vì tình trạng tiểu đường đã cải thiện nhiều.
Vì vậy nếu quý vị đang cố gắng cải thiện sức khoẻ, xin hãy cộng tác với bác sĩ của mình để theo dõi tình hình kịp thời giảm thuốc uống.”
(BS Kim Williams là bác sĩ tại y viện tim mạch Rush Cardiology thuộc Đai Hoc Y khoa Rush, Oak Park, Chicago)

BS Klaper về bộ óc và trí nhớ:
“ Hiện nay ai cũng lo sợ – lo sợ rất đúng- là về già mình sẽ mất khả năng suy nghĩ và nhớ. Trước đây chúng ta không biết lý do tại sao nên nghĩ đó là diễn trình tuổi già. Nhưng càng nghiên cứu thì các khoa học gia càng thấy rõ không phải vì già mà mất trí nhớ. Có nhiều người trên 100 tuổi mà vẫn sáng suốt, nhạy bén và rõ ràng không suy giảm trí nhớ. Khi chúng ta xem kỹ những bịnh còn lại trong cơ thể, một tình trạng cơ bản cứ hiện lên. Đó là tình trạng viêm xãy ra trong các mô tế bào và tình trạng tuần hoàn máu chắc chắn ảnh hưởng đến sức khoẻ của cơ quan trong cơ thể. Khi nhìn tới não bộ, chúng ta bây giờ thấy tình trạng viêm có một vai trò quan trọng trong chứng trầm cảm và suy sụp trí nhớ, và sự tuần hoàn của máu nữa.”
“Không có gì có thể thay thế những động mạch trơn tru rộng đường cho máu chảy mang khí oxy và dưỡng chất đến mô não, và mọi tế bào cơ thể. Khi gặp người bị mất khả năng tinh thần, bác sĩ khám óc sẽ thấy rõ ràng là động mạch dẫn máu lên não bị nghẹt, và các mô tế bào bị viêm. Họ sẽ hỏi: Tạo sao vậy? Các bạn biết, có lẽ không phải vì vi khuẩn, cũng phải là vì các tia sang lạ từ vũ trụ. Mà chắc chắn là do thức ăn những người này tiêu thụ trong 60 năm, 70, năm, 80 năm ở xứ văn minh như Âu Mỹ – gồm toàn chất đạm động vật và sữa bò, dầu ăn và đường và hoá chất thực phẩm. Đây là hổn hợp độc tố chảy qua tế bào não ngày này qua ngày kia và qua những động mạch trong não. Và càng ngày càng nhiều bác sĩ và chuyên gia y tế đều đồng ý rằng đó là cách mà chủ nhân bộ não đó đã đối xử với não đó bao nhiêu năm qua. Và rốt cuộc nguyên nhân chủ chốt của bịnh mất trí nhớ là thức ăn không lành mạnh”.

“Khi nói chuyện với các sinh viên y khoa trẻ, tôi nói ‘Bạn không thể thực hành y khoa mà không để ý đến sự kiện này. Chính là thức ăn của bịnh nhân quý bạn đang thay đổi họ. Đây là sào huyệt của chứng viêm. Đây là chổ nằm của hệ miễn nhiễm. Đây là chỗ ung thư bắt đầu. Đây là chổ chứng tự miễn nhiễm khởi đầu, ở cấp độ DNA, và thức ăn chính là lực bật lên và tắt gen. Chúng ta không thể giả vờ là sự kiện này không xãy ra. Nó áp dụng cho toàn bộ dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của chúng ta.’
Vì thế, sức khoẻ khởi đầu bằng lối sống lành mạnh, bắt đầu với thức ăn lành mạnh, tức là thực phẩm gốc thực vật dạng thô. Không có thuốc tây nào, thuốc bổ sung nào, dược thảo nào có thể thay thế món xà lách, món xúp, rau cải, qui noa, trái cây, thực phẩm thực vật dạng thô. Đó là nền tảng sức khoẻ thứ nhất.”

Dr. Ayesha Sherzai:
“Hãy xem kết quả nghiên cứu trong thập niên 1990 khi BS Paul Giam ở Loma Linda so sánh sức khoẻ của những người chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật so với những người khác trong chương trình nghiên cứu của nhóm Seventh Day Adventist. Rõ ràng là những người không theo chế độ ăn thuẩn thực phẩm gốc thực vật mà ăn nhiều thức ăn gốc động vật kể cả thịt gà và cá có nguy cơ bị mất trí nhớ (Alzheimer’s) cao gấp đôi những người chuyên ăn thực phẩm gốc thực vật”.
( BS Ayesha Sherzai là 1 giám đốc chương trình phòng ngừa bịnh Alzheimer’s tại Trung Tâm y tế Đại học Loma Linda)

Dr. Peter Breggin (Bạch cầu lymphô mãn tính)
“Tôi xin kể một chuyện xãy ra trong nghề nghiệp bác sĩ tâm lý của tôi. Tôi không tin loại chuyện này. Tôi không tin mốt nhất thời. Tôi không tin phép lạ chữa bịnh. Tôi chống tất cả những thứ đó. Vấn đề là trở lại cách ăn uống lúc cơ thể chúng ta lớn lên.
Tôi có một người bạn, một giao sư Đại học. Chúng tôi có cùng quan diểm chính trị. Anh ta không cho ai biết, ngoại trừ bà xã anh ta, là anh ta bị bạch cầu lymphô bào mãn tính (chronic lymphocytic leukemia). Có lẽ anh ta phải sống với bịnh này suốt đời. Tôi thúc anh chuyển sang ăn thực phẩm thuần thực vật và giới thiệu anh với BS. Pam. Anh ta bắt đầu ăn thực phẩm toàn gốc thực vật không chế biến. Rồi anh ta hết bịnh bạch cầu lym phô bào mãn tính. Tôi không phải là người nhẹ dạ dễ tin đâu. Chế độ ăn uống chỉ gồm thực phẩm gốc thực vật có lý vì hầu như nó chỉ là thực vật. Tất cả xã hội có sức khoẻ tốt nhất là xã hội mà dân chúng ăn nhiều thực vật nhất. Pam không khuyên bạn chỉ ăn thực phẩm gốc thực vật, nhưng tôi nghĩ bà ấy nói đúng là càng ăn nhiều thực vật; và càng tránh sản phẩm sữa bò và thực phẩm chế biến thì càng có cơ hội thoát hậu quả bịnh tim, bịnh cao huyết áp, bịnh suyễn và càng có cơ hội phục hồi sức khoẻ.”

BS Pam Popper : (Huyết áp, suyễn, loét ruột già)
“Một trong những cộng tác viên kinh doanh của tôi là BS Peter Breggin, một bác sĩ tâm lý nỗi tiếng. Ông ta là người không bao giờ cho bệnh nhân mình uống thuốc tây trong 55 năm hành nghề. Ông ta tuyệt vời trong lãnh vực bịnh tâm thần nhưng lại không bao giờ để ý đến sức khoẻ sinh học. Ông ta bị suyễn, lúc nào cũng bị cảm lạnh và nhiễm trùng. Ông ta uống thuốc huyết áp dài dài và vợ ông ta bị lỡ loét ruột già (ulcerative colitis). Ông ta chú tâm vào bịnh tâm thần đến nỗi không có thì giờ chăm sóc sức khoẻ mình. Vì vậy khi Peter được 82 tuổi, ông ta quyết định thay đổi chế độ ăn uống. Ông ta sút 12 kí lô và nhìn trẻ hơn 20 năm trước. Ông ta không cón phải uống thuốc huyết áp, thuốc suyễn nữa. Bà vợ ông ta cũng thay đổi chế độ ăn uống và dứt binh lỡ loét ruột già đã hành hạ bà bao nhiêu năm.”
(BS Pam Popper là bác sĩ y học tự nhiên -naturopathic doctor- PhD và là tác giả sách- Food over medicine va sách : Solving America’s healthcare crisis)

BS. Peter Breggin:
“Sau 2 tuần ăn toàn thức ăn gốc thực vật không chế biến, tôi thấy yếu người. Tôi tự bảo mình: Ăn như vậy là tào lao. Nhưng vợ tôi (Ginger) bảo: Sao anh không thử đo huyết áp mình. Tôi nghe lời và thấy huyết áp tâm trương (systolic) xuống còn 100.
Vậy là tôi không còn bị cao huyết áp nữa. Mà chỉ cần có 2 tuần lễ với chế độ ăn uống chủ yếu là thực phẩm gốc thực vật không chế biến. Thật thú vị, Vì vậy tôi tiếp tục và sụt gần 30 cân (14 kg).
Vợ tôi bắt đầu chế độ ăn uống mới và sau 2 tuần lễ, bà ấy lần đầu tiên hết đau kể từ khi tôi quen biết bà ấy (tôi nhớ trước đó phải đưa bà ấy đi cấp cứu ít nhất 12 lần). “

Liana Werner-Gray: (Ung thư)
“Tôi lớn lên ở vùng Alice Springs ở giữa Úc châu. Được nuôi dưỡng cần thận nên tôi lớn lên khá khoẻ mạnh. Tuy nhiên khi lên Brisbane học Đại học, tôi bất đầu lao vào lối sống ăn nhanh ăn lẹ với đủ thứ thức ăn chế biến ở McDonald, Pizza, KFC, Doritos. Sáng trưa chiều tối lúc nào cũng ăn thức ăn tạp nhạp. Năm năm như vậy cho tới một ngày tôi cảm thấy có gì lạ lạ nổi lên ở cổ. Tôi đi bệnh viện khám mới biết là mình bị một khối ung thư bằng trái bóng bàn trong tuyến bạch cầu. Mới có 21 tuổi.
Tôi nhớ lại những gì học được từ thổ dân bản xứ. Tôi phải trở lại thiên nhiên, ăn thức ăn thật sự có dinh dưỡng và chữa lành thân mình. Tôi tự nhủ trong 365 ngày tôi sẽ chỉ ăn thức ăn trực tiếp ra từ đất.
Trong vòng 3 tháng, khối ung thư đường kính 3.7 cm tan mất, hoàn toàn biến mất. Vâng chỉ sau 3 tháng thay đổi chế độ ăn uống, và ngừng ăn 4 thứ có hại nhất là gluten (trong bột mì) đường trắng, sản phẩm sữa và thứ gì thay gen, không tự nhiên và tất cả chất bảo trì thực phẩm, bổ sung thực phẩm…. Đúng vây, tôi dẹp hết 4 thứ đó và thay thể những thứ tôi thèm ăn trước đó bằng thực phẩm tự nhiên gốc thực vật. Rồi tôi cũng bắt đầu ép nước rau quả (đặc biệt lúc nào cũng có giá hoa cải xanh – Broccoli sprouts và củ nghệ) để uống 6 lần 1 ngày, tôi cũng uống hổn hợp đất sét bentonite.
Chế độ ăn uống của tôi chỉ có vậy thôi. Sau 3 tháng khối ung thư biến mất và từ đó đế nay, sau 10 năm tôi vẫn khoẻ mạnh, không bị ung thư nữa. “

Steve V. (Bịnh đa xơ Multiple sclerosis)
“Tháng 9 năm 2014, mắt tôi có vấn đề. Sau một loạt khám nghiệm, bác sĩ cho tôi biết tôi bị bịnh đa xơ (MS – Multiple Scleroris). Một bác sĩ bạn tôi giới thiệu tôi tới BS Kahn. Bác sĩ Kahn nói rằng, Đây là một chứng bịnh thông thường mà người ta gọi là bịnh đa xơ hay MS nhưng thật ra nó là một vấn đề đường ruột. Mình phải sửa chữa đường ruột. Phải giảm hệ miễn nhiễm từ trạng thái quá cảnh gíac -thấy cái gì cũng là ngoại thể xâm lăng-xuống tình trạng binh thường.

Trước hết là phải thay đổi chế độ ăn uống, thứ hai cung ứng một ít thứ thuốc bổ sung dinh dưỡng mà thức ăn không cung cấp được cho để hạ hệ miễn nhiễm xuống tình trạng phòng vệ thấp hơn.

Sau sáu tháng, tôi hết bịnh. Tôi từng phải uống thuốc cholesterol, bây giờ không cần nữa. Tôi giãm 9 kí lô nhờ chế độ ăn uống này. Tôi có thể chơi dã cầu với các con tôi, là chuyện tôi không làm được trước đó.”

Dr. Alan Goldhamer: “ Chế độ ăn uống, ngủ, và thể dục là những gì chúng ta có thể làm để sống cho khoẻ mạnh. Phần lớn nhiệm vụ của chúng tôi là hướng dẫn, dạy người ta sống sao cho lành mạnh. Ăn thế nào, thể dục làm sao và cách đảm bảo nghỉ ngơi / ngủ đầy đủ. “
“ Chúng tôi cũng xuất bản một số tài liệu trên báo chí y học. Trường hợp mới nhất được đăng trên Tập san Y học Anh quốc (British Medical Journal) về một phụ nữ ung thư hạch lymphô trong 2 năm tới gia đoạn 3. Bà thực hiện 21 ngày nhịn ăn và khối ung thư của bà biến đi trong lúc nhịn ăn. 10 ngay ăn trờ lại, theo dõi trong 3 năm cho thấy bà ta qua khỏi ung thư lym phô bằng cách ăn thức ăn thuần gốc thực vật.

“ Phương pháp trị bịnh của chúng tôi không phải dễ dàng mà có vẻ nguy hiểm và cực đoan đôi với nhiều người vì nó đòi hỏi họ phải bỏ lối sống quen thuộc cố hữu trãi qua hàng bao nhiêu chục năm trong đời họ. Ăn uống lành mạnh, đi ngủ đúng giờ, tập thể dục thích hợp mỗi ngày là lối sống quá mức tưởng tượng của nhiều người”.
(BS Alan Goldhamer là sáng lập viên của trung tâm y tế TrueNorth Health Centre, tốt nghiệp Western States Chiropractic College in Portland, Oregon.)

Xin lưu ý: Bài viết này chỉ có mục tiêu phổ biến thong tin chứ không thay thế ý kiến của bác sĩ chăm sóc quý bạn.

Tham khảo:

  1. Carnegie Mellon University (2012) How stress influences disease: Study reveals inflammation as the culprit. ScienceDaily. https://www.sciencedaily.com/releases/2012/04/120402162546.htm
  2. Greger, M. (2012). Dead Meat Bacteria Endotoxemia. NutritionFacts.org
  3. Jonathan Otto and Health Secret, LLC (2019). Natural Health Secrets. Episode Transcripts. Hosted by Jonathan Otto.
  4. Minich, D. (2017) What you need to know about a high-fat diet. Huffpost. https://www.huffingtonpost.com/entry/what-you-need-to-know-about-a-high-fat-diet_us_595f22c4e4b0cf3c8e8d57b0
  5. Kapler, M. About Dr. Kapler. https://www.doctorklaper.com/about

Triệu chứng thiếu Vitamin B

It ai trong chúng ta được biết thiếu vitamin B là một trong những nguyên nhân gây nên nhiều chứng bịnh đáng ngại như suy trí nhớ (Alzheimer’s), mệt mỏi mãn tính, yếu sinh lực, lo âu, trầm cảm, dễ cáu, tâm tính tiêu cực, ngứa da, lỡ môi miệng… Ít có bác sĩ Tây y nào chỉ ra nguyên nhân này và giúp chúng ta trị tận gốc bằng cách bồi dưỡng vitamin B. Ngược lại nhiều thứ thuốc họ cho lại làm tình trạng thiếu vitmanib B tệ hơn. Bác sĩ Tây y đầu tiên giỏi dùng vitamon B chữa bịnh tôi biết là em vợ tôi BS Lê T Nguyệt – đã dùng Executive B Stress Formula (chủ yếu gồm vitamin B) để trị bịnh trầm cảm rất hữu hiệu cho một chị bạn và tình trạng yếu sức trong gia đình. Bác sĩ Tây y thứ hai là Bác sĩ Alan R. Gaby, tác giả sách Nutritional Medicine dạy môn dùng vitamin và khoáng chất để trị bịnh. Tôi mong thông tin dưới đây sẽ giúp cho quý bạn và người thân đang bị những triệu chứng thiếu vitamin B nhất là bịnh trầm cảm lâu dài, mỏi mệt, yếu sức và Alzheimer’s.

Vitamin B là một nhóm chất bổ thiết yếu cần có cho cơ thể hoạt động lành mạnh  phải được cung cấp từ bên ngoài vào vì cơ thể chúng ta không tự tạo ra chúng được.

Vitamin B đóng vai trò rất quan trọng cho sức khoẻ vì chúng có khả năng giúp biến đổi chất dinh dưỡng khác thành năng lượng hay sinh lực, bảo trì tình trạng chuyển hoá lành mạnh, yểm trợ chức năng thần kinh, chức năng của gan, sức khoẻ da, sức khoẻ mắt và sự phát triển thai nhi trong bụng mẹ.

Chúng ta cần có đủ vitamin B để phòng ngừa những triệu chứn mệt mỏi mãn tính, thiếu máu, suy yếu thần kinh (nhất là tình trạng tâm tính bất thường, lo âu, trầm cảm), yếu sức, suy sụp trí nhớ (kể cả Alzheimers’), da bịnh hoạn, suy tim..

Hổn hợp vitamin B (B Complex) có 8 loại vitamin B sau đây

  • vitamin B1 (còn gọi là thiamine)
  • vitamin B2 (còn gọi là riboflavin)
  • vitamin B3 (còn gọi là niacin)
  • vitamin B5 (còn gọi là a xit pantothenic )
  • vitamin B6
  • vitamin B7 (còn gọi là biotin)
  • vitamin B12
  • and folate (còn gọi là vitamin B9 hay là axit folic acid nếu dưới dạng phối chất nhân tạo -Synthetic)

Tám loại vitamin B này có vai trò và hoá tính tương tự nhưng mỗi thứ có chức năng độc đáo riêng.

Thiếu vitamin B có thể đưa đến biến chứng (complications)  giáp trạng (thyroid) và thượng thận (adrenal) tạo nên những triệu chứng tiêu cực như mệt mỏi, lên cân, sụt  ký, ngủ khó, cáu gắt, trầm cảm, lo âu, bất an…

Thông thường khi có triệu chứng thiếu vitamin B, các y sĩ chuyên vể dinh dưỡng thường cho bệnh nhân uống hổn hợp vitamin B (B complex) cùng với loại vitamin B có dấu hiệu thiếu hụt nghiêm trọng. Chẳng hạn như B complex 1 viên 1 ngày và 500 mg vitamin B3 một ngày trong trường hợp bệnh nhân lo âu và trầm cảm nghiêm trọng.

1. Vitamin B1

Vitamin B1 nằm trong 1 enzim giúp chuyển thức ăn thành năng lượng và đóng vai trò quan trọng cho thần kinh. Thiếu B1 sẽ gây ra triệu chứng:

  • Tê phù (Beriberi)  chủ yếu là yếu và teo cơ bắp với 3 trường hợp
    • Tê phù khô: (Dry beri beri) : yếu và teo bắp thịt cùng thần kinh điều khiển  tay  chân và có thể đau bắp chân
    • Tê phù ướt (wet beriberi):  tim lớn (cardiomegaly), tim đâp nhanh (tachycardia) đau tim bên mặt, khó thở và phù tay chân.
    • Tê phù cấp tính (acute beriberi) chủ yếu xãy ra cho trẻ em gây chứng biếng ăn, nôn mửa, nhiễm a-xit lac tic (từ sửa)

Những trường hợp sau đây thường đưa đến thiếu hụt B1:

  • Nghiện rượu
  • Những người bị suy tim ứ huyết (congestive heart failure) hoặc uống thuốc lợi tiểu (diuretic). Trong trường hơp này, liều chữa trị là uống 100 mg B1 hay nhiều hơn mỗi ngày.
  • Những người lớn tuổi
  • Và những người có hệ tiêu hoá yếu vì gan yếu, bịnh viêm đường tiêu hoá, ung thư . Chữa trị triệu chứng thiếu B1 trong trường hợp này cần 5-30 mg mỗi ngày trong 1 tháng hay lâu hơn tuỳ theo mức nghiêm trọng.

Vitamin B1 được phân phối rộng rãi trong thức ăn. Thức ăn giàu nhất B1 gồm thịt heo thịt bò, gan bò, cá hồi. Rau quả giàu B1 nhất là ngũ cốc nguyên cám (whole grains) và đậu hạt (legumes) như đậu đen.  Môi trường kiềm (alkaline) và sức nóng sẽ huỷ vitamin B1. Vì vậy nấu thức ăn chứa vitamin B1 trong nước sẽ làm mất đi vitamin B1. Nhiều thức ăn chế biến như ngũ cốc chế biến thường được độn vitamin B1, B2, B3 và chất sắt.

Phụ trợ B1 thường được cung cấp dưới dạng thiamine hydrochroride hay muối thiamine mononitrate.

Theo cơ quan y tế Mỹ thì mỗi ngày đàn ông nên tiêu thụ  1.2 mg và phụ nữ 1.1 mg . Phụ nữ có thai và cho con bú thì cần nhiều hơn: 1.4 mg vitamin B1 mỗi ngày .

Vitamin B1 không gây độc nếu tiêu thụ qua đường tiêu hoá. B1 dư thừa sẽ được thải ra qua đường tiểu. Không có  phản ứng có hại nào được ghi nhận, ngay cả trong trường hợp uống 500 mg một ngày.

2. Vitamin B2 (Riboflavin)

Vitamin B2 là thuộc một enzim  chuyển hoá thức ăn thành năng lượng. Nhưng B2 đặc biệt ảnh hưởng đến sức khoẻ thị giác và da,

Nếu không được cung cấp đủ B2 trong 3-4 tháng sẽ ó những triệu chứng:

  • lỡ hoăc nứt môi ngoài (cheilosisi) và khoé miệng (anguar stomatitis),
  • viêm đỏ lưỡi (glossitis- nhìn lưỡi láng và  đỏ sậm);
  • sưng (edema) và đỏ như máu (hyperemia) trong miệng
  • Da bị viêm đỏ
  • Viêm da bã nhờn (seborrheic dermatitis) xung quanh mũi.
  • Thiếu máu (amenia) và
  • Loạn thần kinh tay chân (peripheral nerve dysfunction -neuropathy)

Thiếu B2 trầm trọng sẽ làm giảm khà năng tổng hợp tạo ra vitamin B6 và B3 (niacin) từ tryptophan đồng thời cũng làm hư hại DNA và chu kỳ tế bào.

Những người uống quá nhiều rượu thường thiếu vitamin B2 cùng như những ai bị bệnh tiểu đường, yếu giáp trạng, bị chấn thương (thể chất, tinh thần cũng như tình cảm) và sống trong môi trường căng thẳng làm thay đổi sự chuyển hoá B2 (B2 metabolism).

Thông thường chì cần cung cấp 10 tới 20 mg mỗi ngày cho đến khi hết triệu chứng là giải quyết được tình trạng thiếu hụt B2.

Vitamin B2 có trong nhiều loại thực phẩm nhưng nhiều nhất là trong thức ăn gốc động vật, nhất là sữa và sản phẩm sữa. Gan súc vật rất giàu vitamin B2.

3.  Vitamin B3 (còn gọi Niacin)

Vitamin B3  thuộc một enzim chuyển hoá thức ăn thành năng lượng. Nó quan trọng cho sức khoẻ thần kinh, tiêu hoá và da.

Thiếu vitamin B3 sẽ sinh ra bịnh Pellagra (tiếng Ý có nghĩa là Da sần sùi) với triệu chứng  

  • Viêm da (dermatitis): lúc đầu giống như cháy nắng trên những vùng da phô ra nắng, như mặt, cổ, bàn tay bàn chân, khuỷ tay, đầu gối…
  • Thần kinh suy yếu kể cả nhức đầu, lãnh đạm, mất trí nhớ, viêm dây thần kinh, tay chân, tê liệt tay chân, rối trí, mất định hướng. ( Tạo nên chứng lo lắng, hoảng sợ, trầm cảm..)
  • Đường tiêu hoá bị biến chứng như
    • lỡ hoăc nứt môi ngoài (cheilosis) và khoé miệng (angular stomatitis),
    • viêm đỏ lưỡi (glossitis- nhìn lưỡi láng và  đỏ sậm)
    • Buồn nôn
    • Nôn mữa và tiêu chảy

Nếu không chữa trị có thể chết.

Thông thường chỉ cần uống 500 mg nicotinamide hay niacin mỗi ngày trong vài tuần lễ là đủ.

Xin lưu ý là tình huống thiếu vitamin B3 có thể xãy ra sau khi uống một số thuốc tây và khi khả năng hấp thụ B3 của cơ thể bị suy yếu. Những loại thuốc gây nên thiếu B3 gồm cả thuốc trị lao phổi isoniazid, thuốc trị ung thư mercaptopurine. Nên uống phụ trợ B3 sau hay trước khi uống những thứ thuốc này 2-3 giờ.

Uống nhiều rượu quá, tiêu chảy mãn tính, viêm đường ruột, ung thư đường ruột làm giảm khả năng hấp thụ B3 vì vậy cũng gây tình trạng thiếu Vitamin B3.

Thức ăn chứa nhiều nhất Vitamin B3 là hầu hết mọi thứ thịt và cá, đặc biệt là gan bò. Đâu hạt, ngũ cốc không tinh chế, hạt rau quả cũng chứa khá nhiều B3. Cà phê và trà cũng có B3. Rau cải xanh và sửa cũng có B3 nhưng ít hơn.

Dùng B3 như thuốc chữa bịnh có thể có một số phản ứng phụ không tốt,  nhất là với liều hơn 1 g một ngày, như ngứa da, tê tê, đau đầu, ợ nóng, buồn nôn, nôn mữa, hại gan,  đau gút, tăng đường trong máu.  Có dạng Vitamin B3 như Solgar no flush niacin, mới sản xuất có thể ít bị phản ứng xấu hơn nhưng vẫn có thể làm độc gan, đau đầu và gây rối tiêu hoá nếu dùng lâu.

4. Vitamin B5 (Pantothenic Acid)

Vitamin B5 là nằm trong 1 enzim giúp chuyển hoá thức ăn thành năng lượng

Thiếu B5 có thể gây ra những triệu chứng sau đây:

  • Hội chứng bàn chân thấy nóng như đốt (Burning feet syndrome). Hội chứng này gia tăng trong mùa nóng và giảm bớt trong mùa lạnh. Theo Groper & Smith (2013) uống calcium pantothenate sẽ chỉnh được  tình trạng này.
  • Nôn mửa
  • Mệt mỏi (fatigue),
  • Yếu sức
  • Bồn chồn không yên (restlessness)
  • Dễ cáu (irritability)

Suy dinh dưỡng có thể làm thiếu B5. Uống rượu nhiều, tiểu đường, viêm đường tiêu hoá tăng nhu cầu B5 nên cũng làm thiếu B5.

Bình thường, mỗi ngày chúng ta chỉ cần 5 mg B5 là đủ. Nhưng phụ nữ có thai và cho con bú cần trung bình 7 mg.

Mọi thứ thức ăn gốc thực vật cũng như động vật đều chứa vitamin B5. Tuy nhiên trong những thức ăn  chứa nhiều nhất vitamin B5 phải kể đến thịt, nhất là gan, long đỏ trứng gà, sửa chua, đậu hạt, khoai tây, nấm, bông cải xanh (broccoli).

Chưa có trường hợp ngộ độc vitamin B5 nào được ghi lại.  B5 an toàn ngay cả khi uống 10 g mội ngày trong 6 tuần. Tuy nhiên uống từ 15 đến 20 g một ngày có thể gây rối đường ruột, kề cả tiêu chảy.

5. Vitamin B7 (Biotin)

Vitamin B7 có chức năng quan trọng giúp biến chế đường glucose, chuyển hoá chất đạm, mỡ và chất bột (carbs). Nó cũng giúp chuyển vận khí carbon dioxide (CO2) . Theo Cơ quan An toàn thực phẩm Âu châu, B7 có vai trò đóng góp trong việc chuyển hoá dinh dưỡng, sản xuất năng lượng, chức năng thần kinh, chức năng tâm lý và bảo trì da, tóc cùng các màng nhờn. (Nordqvist, 2017,1).

Vitamin B7 được các vi sinh trong đường ruột tổng hợp thành và được hấp thụ từ đó. Vì thế, rất hiếm có trường hợp thiếu B7. Tuy nhiên nó có thể xãy ra cho những người có gen bị biến đổi (gene mutation)

Triêu chứng thiếu B7 gồm: (Gropper & Smith, 2013)

  • Trạng thái lờ phờ, hôn mê (lethargy)
  • Tê tay chân như bị kim chích (paresthesia)
  • Cơ bắp giảm trương lực (yếu xìu)
  • Trầm cảm
  • Bị ảo giác (hallucination)
  • Viêm da đỏ và có vãy xung quanh mắt, mũi và miệng
  • Biếng ăn
  • Buồn nôn
  • Rụng tóc và
  • Đau cơ bắp Nếu không trị chứng thiếu Vitamin B7 thì có thể đưa đến tử vong.

Theo Groper & Smith thì cứ uống không quá 10 mg B7 mỗi ngày là có thể dứt những triệu chứng trên.

Những người ăn nhiều trứng sống quá rất dễ bị thiếu B7 vì khả năng hấp thụ B7 bị suy giảm.

Những người bị viêm đường ruột hoặc uống rượu nhiều cũng suy giảm khả năng hấp thụ B7.

Thức ăn chứa nhiều nhất vitamin B7 gồm gan bò, đâu nành, lòng đỏ trứng gà, đâu hạt (legumes), hạt có dầu như đậu phụng, hạt hạnh nhân.  Nhu cầu B7 hàng ngày trung bình là 30 micro gram. Lưu ý là lòng trắng trứng gà nếu ăn sống sẽ cản không cho cơ thể hấp thụ B12 trong lòng đỏ. Ăn trứng luột chín lòng trắng thì không sao.

Vitamin B7 (biotin) an toàn. Chưa có trường hợp nào có người bị ngộ độc vì B7 ngay cả khi liểu lượng trên 100 mg một ngày.

 6. Vitamin B9 (Folate)

Vitamin B9 đóng vai trò then chốt trong quy trình sản xuất hồng cầu cũng như trong việc:

  • Tổng hợp và sửa chữa DNA và RNA.
  • Giúp phân bào và phát triển tế bào.
  • Tăng sức khoẻ trí óc  
  • Bảo trì thính giác của người lớn tuổi (Nordqvist, 2017,2)

Thiếu Vitamin B9 có thể đưa đến trình trạng

  • Thiếu máu vì hồng cầu quá lớn (megaloblastic macrocytic anemia)
  • Mệt mỏi (fatigue)
  • Yếu đuối (weakness)
  • Đau đầu (headaches)
  • Dễ cáu (irratibility)
  • Khó chú tâm
  • Hụt hơi thở
  • Và tim hồi hộp (heart palpitations)
  • Phụ nữ mang thai thiếu Folic acid có nguy cơ sanh con bị dị tật bẩm sinh (birth defects) và cũng có thể là nguyên nhân trẻ em bị chứng autism và Down syndrome.

Triếu chứng thiếu vitamin B9 thường làm lưỡi đỏ rực và làm mỏng màng ruột nên giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng và gây tiêu chảy.

Uống nhiều rượu quá,  viêm đường ruột và dùng một số thuốc tây như thuốc lợi tiểu furosemide, phenytoin, thuốc chống kinh phong, methotrexate (chữa phong thấp), cholestyramine (chữa mỡ máu cao) và sulfasalazine (trị viêm đường ruột) có thể gây nên tinh trạng thiếu B9. Nên uống B9 2-3 giờ trước hay sau khi uống các loại thuốc trên để tránh bởi ảnh hưỡng của thuốc.

Theo Groper & Smith thì cần 1-5 mg folate mỗi ngày để trị chứng thiếu B9. Tuy nhiên, 1mg axit folic nhân tạo là mức tối đa an toàn đối cho người lớn. Uống từ 0.8 – 5 mg axit folic mỗi ngày sẽ tăng nguy cơ ung thư và tử vong ung thư . Lượng B9 tương ương folate trong thức ăn trung bình được đề nghị ở mức 400 mcg  một ngày.

Theo bộ Y tế New Zealand, phụ nữ có nguy cơ thấp sinh con bị khiếm khuyết ống thần kinh NTD (Neural Tube Defects) – tức là tình trạng não và thần kinh thai nhi không phát triển bình thường, như Down syndrome) nên uống 800 mcg Folic Acid mỗi ngày ít nhất 4 tuần trước khi thụ thai và 12 tuần sau khi thụ thai để bảo đảm an toàn cho thai nhi khỏi bị dị tật bẩm sinh liên hệ đế cột sống và não bộ. Phụ nữ có nguy cơ sinh con NTD cao có thể cần phải uống đến 5 mg một ngày. (Ministry of Health)

1 mcg axit folic nhân tạo tương đương với 2 mcg B9 trong thưc ăn vì phụ trợ axit folic được hấp thụ gấp đôi so với B9 (folate) trong thức ăn.

Thức ăn chứa nhiều nhất Vitamin B9 là nấm, rau bi na  (spinach) mầm Brussels (Brussels sprout), hoa cải xanh (broccoli), tu níp, đâu bắp (okra), đâu phụng, đậu hạt (kể cả đâu đen, đậu đỏ, dâu tây, cam, chuối và gan. Thức ăn tươi có nhiều folate hơn là thức ăn chin vì sức nóng khi nấu ăn huỷ 50-60% vitamin B9. Nếu phải nấu thì nên làm nguội ngay thức ăn sau khi nấu với một ít nước nguội để giử lại B9.

7. Vitamin  B12

Vitamin B-12  đóng vai trò chủ yếu đối với chức năng não bộ và hệ thần kinh.  Nó cũng liên quan đến qui trình sản xuất hồng cầu và giúp tạo / điều tiết DNA. Công tác chuyển hoá trong mọi tế bào phải dựa vào B12 để tổng hợp axit mỡ và sản xuất năng lượng. Nó giúp cơ thể phóng thích năng lượng bằng cách giúp cơ thể hấp thụ vitamin B9.

Ở Mỹ, Viện Y tế quốc gia (NIH) khuyến khích thiếu niên và người lới tiêu thụ 2.4 mcg mỗi ngày. Phụ nữa có thai cần 2.6 mg mỗi ngày và phụ nữ cho con bú cần 2.8 mg một ngày. Uống Vitamin B12 nhiều hơn mức khuyến nghị không gây độc hại, Tuy nhiên lúc nào cũng nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi uống phụ trợ dinh dưỡng.

Một số thuốc tây có thể giảm khả năng hấp thụ vitamin B12 như metformin dùng cho bệnh tiểu đường, và thuốc trị lỡ bao tử. Một số thuốc kháng sinh như  chloramphenicol,  hay chloromycetin, cũng có thể ảnh hưởng đến việc hấp thụ vitamin B12. Vì vậy nên uống phụ trợ B12 và thuốc này xa nhau 2-3 tiếng đồng hồ.

Triệu chứng thiếu Vitamin B12 (Cobalamin) (Healthline, n.d,2)

  • Da lợt lạt (pale) hay vàng vọt (jaundice) vì thiếu máu do hồng cầu quá lớn (megaloblastic macrocytic anemia), giống như thiếu B9. Lý do là vì không có B12 thì quy trình chuyển hoá bình thường của coenzim folate không thực hiện được.
    • Mệt và yếu do không đủ hồng cầu đem oxy đến các tế bào cơ thể
    • Có cảm giác bị kim gai đâm chích ở tay chân. Vì thiếu B12 thì màng bọc dây thần kinh (myelin) không hoàn chỉnh.
    • Đi đứng dễ mất thăng bằng, nên cách đi đứng thiếu vững vàng . Đây là triệu chứng phần lớn người già gặp phải vì thiếu B12 mà không biết.
    • Viêm lưỡi (glossitis – lưỡi sung/ đỏ) và lỡ miệng (mouth ulcers)
    • Hụt hơi và thấy choáng váng do không đủ hồng cầu đem oxy đến các tế bào cơ thể. Nhưng  triệu chứng này có thể do nhiều nguyên nhân khác. Vì vậy nên hỏi ý kiến bác sĩ.
    • Thị giác khó chịu hoặc mờ vì dây thần kinh đến mắt bị hư do thiếu B12. Triệu chứng này biến mất khi dùng phụ trợ B12.
    • Thay đổi tâm tính (Mood changes) : Thiếu B1 có thể làm thiệt hại mô tế bào não và gây rối tín hiệu thần kinh nên làm tâm tính trở nên bất thường và suy giảm trí nhớ.

Nguyên do thiếu Vitamin B12 có thể là:

  • Không tiêu thụ đủ thức ăn chứa nhiều B12. Những người chỉ ăn rau quả dễ bị thiếu B12 vì rau qủa ít khi có B12.
  • Lá lách bị hư chức năng ngoại tiết. (impaired pancreatic exocrine function)
  • Chức năng bao tử bị hư hỏng – làm giảm hiệu năng qui trình hấp thụ vitamin B12 từ thức ăn. Tình trạng này thường xãy ra khi cơ thể bị chứng tự miễn nhiễm: cơ quan miễn nhiễm tấn công các tế bào màng bao tử như ngoại thể xâm lược.
  • Chức năng tiêu hoá ở ruột non, nhất là khúc cuối ruột non (ileum) bị hư hỏng làm suy giảm khả năng hấp thụ B12.
  • Đường ruột bị nhiễm ký sinh.  Giun sán có thể tranh giành B12 cho chúng và làm giảm B12 còn lại cho cơ thể. Thuốc tây dùng cho bịnh lỡ loét bao tử và bịnh hơi trào ngược lên thực quản (gastroesophageal reflux) thuộc loại chắn H2 và ức chế bơm proton (proton pump inhibitors) thường giảm khả năng hấp thụ B12 vì chúng tạo nên tình trạng vi sinh quá nhiều (bacterial overgrowth) trong ruột non. Những vi sinh dành ưu tiên sử dụng B12 cho chúng.

Thức ăn chứa nhiều vitamin B12 là thức ăn gốc động vật gồm thịt cá, phó-mat và nhất là sò hến, hào biển. Hấp thụ nhiều Vitamin B12 chưa có trường hợp nào được ghi là có hại, nhưng cũng không có lợi gì.

8. Vitamin B6 (Pyridoxine)

Hơn 150 phản ứng enzim trong cơ thể cần vitamin B6 để chế biến chất đạm, carbs và mỡ chúng ta ăn vào. Hệ thống miễn nhiễm và thần kinh cũng cần vitamin B6 để thực hiện chức năng của mình. (Healthline, n.d, 1). Gần đây B6 được khám phá là có tính chống viêm và chống oxit hoá. Vì vậy nó có thể giúp phòng ngừa những bịnh mãn tính như ung thư và bịnh tim mạch (Bird, 2017).

Hầu như ít ai thiếu vitamin B6, nhưng nếu thiếu những vitamin khác như B9 và B12 thì có thể thiếu B6 nữa.

Thiếu Vitamin B6 có thể gây những triệu chứng như sau: (Healthline, n.d., 1; NIH, n.d; Gropper & Smith, 2016)

  • Da nỗi đỏ từng vạt (Skin rashes) ngứa, có vãy và nhờn (seborrheic dermatitis) trên đầu, cổ, mặt, ngực trên. Tiêu thụ đủ vitamin B6 thường phục hồi da lại bình thường.
  • Môi bị nứt và đau ở khoé môi . Tiêu thụ đủ B6 bằng dinh dưỡng hay phụ trợ B6 có thể làm lành triệu chứng này.
  • Lưỡi đau và láng. Tiêu thụ thức ăn chứa nhiều vitamin B6 hoặc uống phụ trợ B6 có thể giúp hết triệu chứng này . Thiếu B9 và B12 cũng gây triệu chứng này.
  • Tâm tính thay đổi . Cần có B6 để tạo nên tín hiệu thần kinh điều khiển tâm tính. Vì thế thiếu B6 sẽ làm tâm tính bớt  tính tích cực, gây nên lo âu, trầm cảm , tiêu cực và thờ ơ.
  • Hệ miễn nhiễm yếu đi.. Thiếu B6 sẽ làm giảm số lượng kháng thể (antibodies), bạch cầu và những chất khác  tạo ra trong cơ thể để chống nhiễm trùng  làm cho cơ thể dễ bị bịnh.
  • Mệt mỏi và thiếu sinh lực. Cần cóVitamin B6  để tạo nên huyết cầu tố hemoglobin trong hồng cầu. Thiếu B6 đưa đến thiếu huyết cầu tố để đem oxy tới các tế bào. Vì thế thiếu B6 sẽ làm cơ thể thiếu máu, mệt mỏi và thiếu sinh lực. Triêu chứng thiếu máu này sẽ hết khi uống phụ trợ B6 dưới dạng “ pyridoxal 5’-phosphate (PLP hoặc P-5-P). Đây là dạng B6  năng động nhất (most active), so với B6 không năng động là pyridoxine hydrochloride (HCl).
  • Cảm giác đau như bị kim chích trên tay và chân. Vitamin B6 cũng cần cho hệ thống đưa tin thần kinh. Thiếu B6 có thể gây thiệt hại thần kinh gây cảm giác nóng bừng ở chân hoặc đau như kim chích ở tay chân và cũng có thể làm mất thăng bằng, đi đứng khó khăn. Uống đủ B6 PLP sẽ giúp thoát khỏi triệu chứng này. Tuy nhiên nếu cứ uống B6 dạng HCL liên tục có thể gây rốí thần kinh vì peridoxine HCl sẽ tranh giành và cản trở PLP trong cơ thể.  Sức khoẻ thần kinh sẽ phục hồi khi uống phụ trợ PLP nếu thần kinh bị hư hại vì thiếu B6.Ngược lại nếu thần kinh bị hư hại vì uống quá nhiều Pyridoxine HCl thì không thể phục hồi được. (Gropper & Smith, 2013)
  • Động kinh (seizure). Thiếu B6 có thể là một trong những nguyên nhân gây nên động kinh vì thiếu B6 thì cơ thể không sản xuất đủ chất phát tín hiệu làm dịu thần kinh Gabapentin. Hậu quả là cơ thể bị kích động quá mức.  Tình trạng này thường xãy ra cho trẻ sơ sinh dùng công thức dinh dưỡng thiếu B6, nhưng cũng có thể xãy ra cho người lớn.
  • Tăng nguy cơ tai biến mạch máu não (stroke), suy tim và bịnh mất trí nhớ Alzheimer’s vì chất homocysteine, một phụ chất phụ sinh ra trong quy trình chuyền hoá chất đạm, bị lên cao gây thiệt hại cho mạch máu và thần kinh. Cần có Vitamin B như B6, B9 và B12 để biến chế homocysteine thành những chất không độc. (Pietrzik  & Brönstrup ,1998)

Thức ăn chứa nhiều B6 nhất gồm

  • Thịt ức không da của gà tây rô ti
  • Thịt lưng heo rô ti
  • Thịt ức (bỏ da) gà luộc
  • Cá Hồi (salmon)
  • Trứng gà
  • Ớt ngọt (sweet red pepper) tươi
  • Chuối, khoai tây nướng luôn vỏ, avocado, mận khô (prune), hạt hoa hướng dương rang.
  • Trái cây (ngoại trừ chanh cam)

Nếu ăn đủ thịt, rau quả và hạt có dầu thì không sợ thiếu B6. Nếu ăn chay thì có thể cần uống them B6 vì, B6 trong rau quả hấp thụ ít hơn là trong thịt cá.

Xin lưu ý là tiêu thụ B6 quá nhiều có thể gây rối loạn thần kinh (neuropathy) nhất là B6 dạng Pyridoxine Hydrochloride . Liều B6 tối đa an toàn là 100 mg /ngày cho người lớn và nếu chọn được B6 dưới dạng PLP (pyridoxal 5’-phosphate) thì tốt hơn.

Lưu ý:

Bài này được trình bày với mục đích thông tin thôi chứ không thay thế ý kiến của y sĩ của người đọc.

Tham Khảo

Bird RP (2017). The Emerging Role of Vitamin B6 in Inflammation and Carcinogenesis [Abstract].

Adv Food Nutr Res. 2018;83:151-194. doi: 10.1016/bs.afnr.2017.11.004.

Gropper S.S. & Smith, J.L. (2013)  Advanced Nutrition and Human Metabolism. International Edition (6th edition). WADSWORTH CENGAGE Learning. Canada

Healthline (n.d. ,1) 9 Signs and Symptoms of Vitamin B6 Deficiency. Healthline.com

https://www.healthline.com/nutrition/vitamin-b6-deficiency-symptoms

Healthline  (n.d., 2) 9 Signs and Symptoms of Vitamin B12 Deficiency. Healthline.com

https://www.healthline.com/nutrition/vitamin-b12-deficiency-symptoms#section8

Minisry of Health. Folate/ Folic Acid . https://www.health.govt.nz/our-work/preventative-health-wellness/nutrition/folate-folic-acid#what_is_NTD

NIH (n.d.) Vitamin B6. Fact Sheet for Health Professional. National Institutes of Health. https://ods.od.nih.gov/factsheets/VitaminB6-HealthProfessional/

Nordqvist, C. (2017,1) Why do we need biotin, or Vitamin B7? MedicalNewsToday.  https://www.medicalnewstoday.com/articles/219718.php

Nordqvist, C. (2017, 2) What to know about folic acid. MedicalNewsToday.   https://www.medicalnewstoday.com/articles/219853.php

Pietrzik K, Brönstrup A . (1998) Vitamins B12, B6 and folate as determinants of homocysteine concentration in the healthy population. Eur J Pediatr. 1998 Apr.