Dược thảo và thức ăn

Tác dụng kỳ diệu của Dược thảo và thức ăn  

Khi bắt đầu học môn Dược thảo 1 (Herbal Medicine 1) tôi hơi ngán vì có hàng trăm thứ dược thảo. Mỗi dược thảo tôi phải học và nhớ tên khoa học, hàng chục thành phần cấu tạo và nhiều tác dụng chửa bịnh khác nhau. Mỗi tuần tôi học 5 dược thảo mới và làm trắc nghiệm 5 dược thảo học trong tuần trước. Ráng học thì đủ điểm trắc nghiệm, nhưng sau đó tôi quên hết. Mỗi sinh viên cũng được giao 4-5 dược thảo để nghiên cứu và nộp bài chuyên khảo ngắn gọn về dược thảo đó. Tôi được học cả một năm Dược thảo 2 nữa và có dịp thực tập kê toa dược thảo trong môn thực tập lâm sàng. Thành thật mà nói, dược thảo nào tôi có dùng tới thì mới nhớ chút chút thôi. Tuy nhiên, kết quả quan trọng là tôi biết đâu để tìm và tham khảo.

Lúc đầu tôi không mấy tin tưởng công hiệu của dược thảo. Nhưng khi sử dụng thì mới thấy nhiều dược thảo có công hiệu như thần dược. Tôi xin kể những trường hợp dùng dược thảo trong gia đình và người thân trước.

Trong những dược thảo tôi được giao nghiên cứu để góp vào tập chuyên khảo dược thảo của lớp có rau đắng (bacopa monnieri) và một loại rau tương tự thì là  (fennel).

Rau đắng

“Bacopa” hay “brahmi” là rau đắng tôi đã từng ăn khi còn nhỏ ở quê, có tên khoa học là bacopa monnieri. Tác dụng của nó bao gồm “chống động kinh” (anticonvulsion) và bổ óc (nervine tonic). Tôi nghiên cứu thêm xem có thể dùng cho cháu Natalie không. Thật may mắn tôi tìm ra một bài nghiên cứu so sánh công dụng chống động kinh của rau đắng với thuốc chống động kinh Tegretol mà bác sĩ chuyên khoa thần kinh cho Natalie uống mỗi ngày. Theo bài tường trình thì kết quả thử nghiệm lâm sàng cho thấy “rau đắng” có tác dụng tương đương với Tegretol mà không gây tác dụng phụ có hại như Tegretol.

Natalie uống Tegretol nhiều năm, nhưng vẫn không hết hẳn động kinh. Mỗi lần báo cho bác sĩ biết là cháu bị động kinh nhiều thì bác sĩ tăng liều lượng. Thuốc này có tác dụng làm ngủ, làm mệt, gây bón và làm cho môi khô và nứt. Bốn năm trước đây, bác sĩ cho Natalie uống 12 ml Tegretol 3 lần một ngày. Natalie bị môi nứt và khô đóng vảy thấy mà tội nghiệp. Nhưng tội hơn nữa là cả ngày nó ngủ lên ngủ xuống, đi học chẳng làm được gì cả. Than phiền là Natalie vẫn còn động kinh nhiều thì bác sĩ lại tăng lên 13 ml 3 lần một ngày. Tới liều này thì Natalie không còn tí sinh động nào nữa.

Tôi phải can thiệp. Cuối năm 2013, tôi viết thư báo cho Bác sĩ chuyên thần kinh (neurological paediatrician) của Natalie là tôi sẽ cho Natalie uống bột cao (extract powder) rau đắng và cứ 2 tuần giảm bớt 1 ml liều lượng Tegretol cho tới lúc còn 6 ml thôi. Tôi nêu lý do tại sao và kèm theo bài tường trình nghiên cứu kể trên. Tôi có gởi bản sao cho bác sĩ gia đình để bà ấy biết. Bác sĩ thần kinh của Natalie im lặng.

Tôi thực hiện chương trình như dự trù. Tình trạng động kinh của Natalie cải thiện và tiếp tục cải thiện. Nó dần dần sinh động trở lại chứ không ngủ gà ngủ gật. Môi cũng cải thiện và đến lúc liều thuốc Tegretol còn 6 ml thì môi gần như bình thường. Bệnh bón của nó có phần tốt hơn mặc dầu vẫn còn là vấn đề nan giải cho đến đầu năm nay, khi tôi tìm ra được thực đơn giúp cháu hết bón.

Dầu flaxseed – Công thức dinh dưỡng Budwig

Sau khi tình trạng động kinh của Natalie ổn định tốt đẹp, tôi lo là nếu Natalie phải vào bệnh viện, bệnh viện lại sẽ cho nó uống 13 ml Tegretol 3 lần một ngày như trong hồ sơ y tế. Như vậy thì tội nghiệp nó lắm. Tôi nêu lên vấn đề này với bác sĩ gia đình. Bà ấy bảo tôi viết thư cho bệnh viện và yêu cầu bênh viện chỉ áp dụng liều 6 ml Tegratol cho Natalie khi cần, đồng thời xác định mình sẽ chịu trách nhiệm về chứng động kinh của Natalie nếu tình trạng mất ổn định. Tôi làm theo và thấy yên tâm. Tôi và gia đình rất mừng vì 2 năm qua Natalie hiếm khi bị động kinh khi thức. Mỗi ngày cháu đi học về, chúng tôi đọc ngay trang tin tức cô giáo viết về sinh hoạt của cháu trong ngày. Chúng rất vui mừng mấy năm nay khi thấy cháu it khi bi động kinh ở trường.

Dầu vậy, mỗi ngày Natalie chỉ tích cực tham gia sinh hoạt học đường được vài ba tiếng đồng hồ. Cô giáo cho biết sau đó cháu không còn sức nên hết linh động. Khi về đến nhà, Natalie mệt, uể oải đến nổi chúng tôi không làm sao cho cháu cười được nữa.

Năm ngoái (2016) khoảng giữa năm, anh LQLong hỏi ý kiến tôi về Budwig Protocol (Công thức dinh dưỡng Budwig do Bác sĩ / Chuyên gia nghiên cứu dược phẩm Johanna Budwig, người Đức phát minh) được nêu lên trong Loạt Videos ” The Truth about Cancer”. Nhờ xem kỹ lại tôi thấy công thức này có tác dụng đưa omega 3 thẳng đến màng tế bào làm tăng cường khả năng hấp thụ oxy của các màng tế bào (cell membranes). Kết quả là sẽ tăng khí lực cho cơ thể (và giết chết các tế bào ung thư, vì tế bào ung thư không sống được trong môi trường nhiều oxy). Tôi nghĩ rằng Protocol này không chừng giúp Natalie tăng năng lực đủ để có thể tiếp tục tích cực sinh hoạt lâu hơn mỗi ngày. Tôi mua 250 ml dầu flax seed, trộn nhuyển 1 muỗng lớn (tablespoon) dầu flaxseed với 3 muỗng lớn kefir (một loại yogurt tươi) có sẳn, cho cháu ăn cùng với điểm tâm.

Buổi chiều cô giáo cho biết cả ngày Natalie linh động, tham gia tích cực được mọi sinh hoạt. Và tối hôm đó chúng tôi nghe cháu cười ròn rả khi xem Tom and Jerry. Thật là món dinh dưỡng thần kỳ. Từ đó, chúng tôi tiếp tục cho cháu uống 2 muỗng lớn dầu flaxseed trộn với kefir mỗi ngày và cháu có sức cười vui cả ngày.

Dược thảo hạ sốt andrographis

Hơn bốn năm nay ngày nào chúng tôi cũng cho Natalie uống tỏi bột Kyolic (công thức 103 mua từ Mỹ) nên cháu rất ít bị cảm cúm. Nếu có thì cũng nhẹ, không phải đi bệnh viện.

Có lần duy nhứt là cháu bị cảm sốt trong tháng 11 năm 2016. Vừa uống thuốc kháng sinh vừa uống Paracetamol bác sĩ cho, cơn sốt vẫn không giảm. Tối thứ bảy, cơn sốt lên 40,6 độ. Đắp nước đá lên trán thì nhiệt độ giảm xuống dưới 40 độ chút ít và cứ duy trì như vậy cho đến ngày hôm sau. Chờ đến 10 giờ sáng Chúa nhật, tôi ra Pharmacy mua một lọ thuốc bổ sung Go Vir-defence (Herbal supplement) có dược thảo Andrographis, là loại dược thảo có công dụng chống sốt (antipyretic), diêt vi trùng (antibacterial) và diệt vi khuẩn (antiviral). Về nhà cho Natalie uống một viên, nhiệt độ của cháu bắt đầu giảm và trong vòng 1 tiếng đồng hồ còn 38, 5 độ rồi dần dần hết sốt luôn. Con gái tôi phải thốt : “Thật là thần dược”.

Hổn hợp thông mạch tim đơn giản

Y học tự nhiên rất chú trọng đến những dược thảo và dược chất khá quen thuộc với mọi người. Tỏi, hành, gừng, chanh, nghệ, mật ong, tiêu, giấm táo … được sử dụng rất nhiều trong những toa thuốc y học thiên nhiên. Cách đây vài năm, nhà tôi được giới thiệu một hổn hợp thuốc thông mạch tim đã giúp cho nhiều người bị bệnh tim lấy lại sức. Hổn hợp thuốc này gồm nước tỏi, nước gừng, nước chanh, giấm táo và mật ong rất dễ làm. Nhà tôi giới thiệu lại cho anh bạn đã phải làm 3-4 bypass 10 năm trước và các mạch tim trên đà nghẽn trở lại. Anh bạn chịu uống liền và thấy ngay công hiệu của nó. Anh nói là từ khi uống mỗi ngày 1 muỗng lớn hổn hợp đó do bà xã chế biến, anh thấy khoẻ hơn nhiều. Anh cho biết mạch tim không có bypass hiện nay rất lành mạnh không có vấn đề gì nữa. Tôi nghĩ hổn hợp này cũng làm thông tất cả mạch máu và có thể giúp tránh stroke.

Trà hột thì là ( fennel ) – trị no hơi, sình bụng

Fennel và Dill là hai giống cây rất giống nhau và cả hai đều có tên “thì là” trong tiếng Việt. Nhưng thật ra hai giống cây này khác nhau, nhất là có mùi vị khác nhau. Ở NZ, fennel rất dễ trồng và khó diệt khi đã sống. Trong khi đó Dill rất khó trồng và trồng được thì khó sống qua năm sau.

Thật may mắn là y học tự nhiên chỉ nói đến fennel. Tôi tin chắc rằng ai cũng có lần bị sình bụng, bị no hơi. Không ít người bị chứng ợ nóng (heartburn) và trào ngược a-xít tiêu hoá (Acid reflux) rất khó chịu. Thấy sách nói hột “thì là” fennel có công dụng làm thoát hơi (carminative) đường ruột nên tôi dùng thử trà hột fennel khi bị no hơi.. Uống vào chừng năm phút sau là thấy hơi tìm đường thoát và nhẹ bụng ngay. Tôi chưa thấy thuốc tây nào công hiệu bằng trà hột fennel. Ai nghe tôi uống trà fennel khi bị no hơi hoặc bị acid trào ngược cũng đều công nhận là nó có tác dụng thần kỳ.

Rau đắng và thần kinh

Xin nói thêm về kinh nghiệm dùng rau đắng. Từ trung học, tôi thường bị chứng bịnh nặng đầu (tựa như một loại brain fog). Vì chứng bịnh này ít khi tôi có thể nói là có đầu óc minh mẫn hay tư duy rõ ràng. Khi biết rau đắng bổ óc, bổ thần kinh và thông trí (cognitive enhancing or mind clearing) tôi uống thử. Rau đắng có công hiệu tuyệt vời. Nó làm tôi thấy đầu óc nhẹ nhàng vô cùng. Tôi thốt lên: “Phải chi tôi biết công dụng của rau đắng khi còn đi học thì đở biết bao”.

Rau đắng cũng có thê giúp duy trì trí nhớ, nên một số thuốc trị hay ngừa Parkinson’s và Alzheimers, có chất thuốc rút ra từ rau đắng.

Rau đắng rất dễ trồng. Tôi dùng một cái bồn hoặc cái thùng plastic rộng và cạn. Bỏ đất dày đủ một tất, tôi trồng vài nhánh rau đắng và đổ nước vào. Hễ có nước là nó lớn và lan rộng nhanh chóng. Khi nó mọc nhiều, tôi cắt cành lá phơi khô hoặc sấy khô rồi cắt nhỏ để dành làm trà. Tôi dùng một muỗng nhỏ trà xanh với một muỗng nhỏ rau đắng khô và nước sôi là có một tách trà xanh và rau đắng ngon lành..

Đó là một số dược thảo và chất dinh dưỡng có công dụng thần kỳ mà tôi kinh nghiệm được.

Nhưng vì thân thể và sức khoẻ cùa mỗi người không ai giống ai tôi không dám nói là những dược thảo và chất dinh dưỡng đó cũng sẽ có công dụng thần kỳ cho mọi người. Có dùng thử mới có thể biết là chúng có giúp ích cho mình hay không. Ngay cả với cùng một người, không phải lúc nào một dược thảo cũng có tác dụng giống nhau.

Nguyễn Văn Tư – Auckland 2017

Thực tập

Thực tập lâm sàng

Chương trình năm thứ ba nặng nhất là “Môn Thực Tập Lâm Sàng 1” trong nữa năm đầu và “Thực Tập Lâm Sàng 2” trong sáu tháng cuối (Clinical Practice 1 and 2). Vì học bán thời gian nên đến năm thứ tư (2015) tôi mới bắt đầu môn này. Đến giữa năm sức khoẻ tôi yếu dần. Tôi chuẩn bị giải phẫu thay van tim nên phải dời “Thực tập lâm sàng 2 ” sang năm 2016.

Mỗi sinh viên thực tập “lâm sàng 1” với tất cả 8 bệnh nhân. Bốn bệnh nhân đầu là những sinh viên năm thứ nhất. Mỗi sinh viên thực tập phỏng vấn hội chẩn (consultation) hai bệnh nhân và quan sát bạn cùng lớp phỏng vấn hội chẩn 2 bệnh nhân khác.

Phần phỏng vấn có mục đích thu góp đầy đủ thông tin về sức khoẻ người bệnh từ lúc còn nhỏ đến hiện tại. Trước tiên là lý do đến khám bịnh, những vấn đề sức khoẻ đáng quan tâm, ước vọng và mức độ muốn thay đổi hiện trạng. Sau đó là chi tiết quá trình phát hiện những triệu chứng ảnh hưởng đến cuộc sống và sức khoẻ qua tất cả các hệ hoạt động của cơ thể. Tình hình tình cảm, tâm lý, khung cảnh sống, làm việc, gia đình, lịch sử bịnh tật và bịnh, chế độ ăn ngủ, thuốc uống và lịch sử sức khoẻ bịnh tật của cha mẹ, ông bà, anh em con cái đều được hỏi đến. Phần quan sát giúp học hỏi lẫn nhau để cải thiện kỹ năng phỏng vấn.

Ai cũng cố gắng làm xong phần phỏng vấn trong 90 phút để còn đủ giờ khám sức khoẻ toàn diện (holistic physical examination). Khi gặp bệnh nhân nói nhiều và có nhiều vấn đề thì 90 phút thường không đủ cho phần phỏng vấn. Phần khám sức khoẻ cũng gồm nhiều thứ lắm. Từ việc đo huyết áp, nhịp tim, nhịp thở, cách thở, lượng đường trong máu, xét thành phần nước tiểu, chiều cao, trọng lượng, vòng bụng, vòng mông đến xem xét (bên ngoài) những bộ phận có triệu chứng không bình thường cũng tốn rất nhiều thì giờ. Sang “thực tập lâm sàng 2” thì thời gian cả phỏng vấn lẫn khám sức khoẻ giảm xuống còn 90 phút.

Khi hành nghề, các y sĩ tự nhiên thường khám bịnh lần đầu và cho toa trong vòng 90 phút. Nhờ có thời gian dài 6 lần lâu hơn tiêu chuẩn khám bịnh ở phòng mạch bác sĩ, bệnh nhân có dịp trình bày mối quan tâm của mình đầy đủ hơn với y sĩ tự nhiên. Ngược lại nhờ có nhiều thì giờ phỏng vấn, y sĩ tự nhiên có thể truy ra những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ hiện tại của bệnh nhân và có cơ hội giúp bệnh nhân giải quyết tận gốc bệnh tật.

Khi thực tập “lâm sàng 1”, chúng tôi có nhiều thì giờ hơn bình thường. Sau lần hội chẩn đầu tiên 120 phút, bệnh nhân ra về tay không, nghĩa là chưa được chỉ dẫn phải làm gì cả, nhưng được hẹn 2 tuần sau trở lại. Lúc đó bệnh nhân mới được trình bày kế hoạch chăm sóc sức khoẻ (wellness plan), gồm 3 chỉ tiêu liên hệ đến chế độ ăn uống, nghỉ ngơi và vận động thể lực và một toa dược thảo.

Bốn bịnh nhân đầu là sinh viên năm thứ nhất nên phần lớn khoẻ mạnh, nếu sức khoẻ có vần đề thì cũng không quan trọng lắm. Dầu vậy, 2 sinh viên thực tập phỏng vấn và quan sát phải cùng nghiên cứu rồi cẩn thận viết ra một toa dược thảo thích hợp cho bệnh nhân. Để được giám thị thực tập chấp thuận, những đề nghị liên quan đến chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, vận động và công thức hổn hợp dược thảo phải bao gồm lý do, bằng chứng tác dụng và tính an toàn của mỗi tiểu mục kể cả thảo dược trong kế hoạch cải thiện sức khoẻ cho bệnh nhân.

Sau khi thực tập với 4 sinh viên năm thứ nhất, mỗi người chúng tôi bắt đầu thực tập với 4 bệnh nhân thực thụ do sinh viên tìm ra hoặc do trường tìm hộ qua quảng cáo.

Bệnh nhân đầu tiên của tôi là một cô đầm 45 tuổi và là chuyên gia tâm lý trị liệu (psychotherapist), xin gọi là cô Alice. Rủi cho tôi, bệnh nhân đầu tiên lại bị bịnh phụ nữ. Học bệnh lý hoc biết không ít tên bệnh, nhưng nhiều quá nên tôi quên những tên nào không quen thuộc. Vì vậy, khi Alice nói cô bị “Adenomyosis” (Lạc nội mạc trong tử cung) tôi chả nhớ đó là bệnh gì và đánh vần ra sao nên phải nhờ cô ấy đánh vần giùm.

Alice khai là 6 năm trước tự nhiên bị ra huyết quá nhiều khi có kinh và bác sĩ chẩn định là cô bị “lạc nội mạc trong tử cung”. Bốn năm sau, bác sĩ đặt vòng xoắn (IUD) cho cô thì lượng huyết kinh nguyệt trở lại bình thường. Nhưng vòng xoắn làm cho cô ta cảm thấy già, căng bụng như có thai nên sau một thời gian cô không dùng nữa. Lấy vòng xoắn ra thì kinh nguyệt gây xuất huyết quá nhiều và bất thường đến nổi cô ta không dám đi ra ngoài khi có kinh. Mất máu nhiều quá cơ thể mất hết sinh lực sau mỗi kỳ kinh. Bác sĩ không có thuốc trị nên đề nghị cắt bỏ tử cung (hysterectomy). Alice không chịu vì nghĩ rằng có thể có cách tự nhiên (natural methods) thay cho biện pháp cắt bỏ tử cung. Cô truy cập internet, lập ra danh sách đầy 1 trang giấy các dược thảo mà nhiều người khác đã dùng, rồi chọn mua vài ba thứ uống thử. Rốt cuộc cũng không cải thiện gì cả. Cô ta lại đặt kỳ vọng tôi có thể giúp cô trị bịnh này! (Tôi không thể không than thầm: Ô Hô Ai tai! mình có biết gì để giúp cô ta không?).

Trong 1 tuần tôi phải viết xong phần phân tích tình trạng của Alice, và đề nghị kế hoạch cải thiện sức khoẻ (Wellness Plan) trình lên giám thị kiểm tra. Phải nêu ra đầy đủ lý do và dẫn chứng tài liệu tham khảo đáng tin cậy để biện minh cho mỗi câu phân tích tình trạng của bệnh nhân và mọi đề nghị thì kế hoạch mới được bà giám thị chấp thuận.

Hai tuần sau, tôi trình bày kế hoạch này cho Alice. Nói tóm tắt, tôi đề nghị cô tập thể dục lại, tăng ăn rau quả có nhiều omega 3 và chất chống oxi hoá (antioxidant)/chống viêm (anti-inflammatory), và giảm uống rượu từ 12/14 ly xuống còn không quá 3 ly một tuần. Toa thuốc dược thảo gồm 4 thứ có tác dụng giảm xuât huyết kinh nguyệt, cân bằng hormone, bổ dưỡng tử cung, bổ gan, chống viêm, tăng cường hệ miễn nhiễm, tăng sức thích nghi áp lực (adaptogenic) và giảm co giựt (antispasmadic). Alice đồng ý làm theo kế hoạch và dùng hổn hợp dược thảo trong thời gian có kinh như chỉ dẩn. ( Dược thảo có dạng nướt cốt – liquid extract hay tincture). Công thức qui định liều lượng của mỗi thảo dược để cộng lại đủ 105 phân khối cho mỗi tuần).

Thật đáng công. Đến kỳ hẹn gặp lại một tháng sau, Alice vui vẻ cho biết là trong kỳ kinh nguyệt vừa qua lượng xuất huyết trở lại bình thường và ổn định.

Đáng công “trầy vi tróc vảy” vì tôi phải tốn rất nhiều thì giờ và công sức cả một tuần lễ mới soạn xong kế hoạch cải thiện sức khoẻ cho cô A và mỗi bệnh nhân trong kỳ thực tập 1. Kế hoạch cho Alice chỉ dài 31 trang vì trường hợp này không quá phức tạp và số thuốc đang sử dụng chỉ có 3 thứ. Một sinh viên trong lớp gặp phải tình trạng bệnh nhân phức tạp dùng tới 20 thứ thuốc phải viết kế hoạch trên 60 trang vì phải trình bày chi tiết mỗi thứ thuốc đang dùng, từ phương cách tác dụng trên cơ thể, chuyển hoá trên cơ thể, tất cả tác dụng phụ và tiềm năng tương tác với các dược thảo…

Mỗi một đề nghị phải được dẫn chứng tài liệu tham kháo đáng tin cậy. Chẳng hạn như khi tôi đề nghị Alice tập thể dục thì phải nêu lý do là thể dục có thể giúp giảm đau trên đùi và đầu gối liên hệ đến bịnh “lạc nội mạc trong tử cung” theo kết quả nghiên cứu và dẫn chứng nguồn tham khảo. Đề nghị tăng ăn rau quả cũng phải trưng dẫn tài liệu nghiên cứu năm 2004 ở Ý cho thấy ăn rau quả giúp các phụ nữ cải thiện bệnh “lạc nội mạc tử cung” trong khi ăn thịt thì bệnh tệ hơn. Đề nghị giảm uống rượu cũng phải kèm theo dẫn chứng nghiên cứu chứng minh rượu làm tăng hormone estrogens và làm yếu hệ miễn nhiễm.

Tương tự, kế hoạch phải trình bày mỗi thứ thảo dược được đề nghị với đầy đủ bằng chứng nghiên cứu xác định là nó có tác dụng cần thiết cho bệnh nhân và mức độ an toàn. Bài viết ” kế hoạch cải thiện sức khoẻ” cho Alice vì thế phải liệt kê 30 tài liệu tham khảo.

Tôi quên nói cho quý bạn biết là trường tôi học không bảo sinh viên chẩn đoán (make diagnosis) để xác định bênh nhân bị bệnh gì. Phần lớn bệnh nhân đến y viện thực tập đã được bác sĩ Tây y chẩn định và cho biết họ bị bệnh gì. Điều đó dĩ nhiên giúp ích rất nhiều. Tuy nhiên trong kế hoạch cải thiện sức khoẻ cho bịnh nhân, sinh viên phải liệt kê ra tất cả các thứ bịnh mà bệnh nhân có thể có, kể cả tại sao có thể có và tại sao không thể có (differential diagnosis).

Kế hoạch cải thiện (wellness plan) không phải chỉ có mục tiêu giảm trừ triệu chứng bịnh trong ngắn hạn mà chủ yếu phải có mục tiêu loại bỏ những độc chất gây bịnh, bồi bổ tăng cường chức năng của những cơ quan liên hệ để loại trừ tận gốc nguyên nhân gây triệu chứng bịnh trong dài hạn. Như trong trường hợp Alice, mục tiêu ngắn hạn là giảm xuất huyết (anti-haemorrhage) Còn mục tiêu dài hạn là loại những yếu tố gây viêm rồi bồi bổ gan, tử cung, tuyến thượng thận và hệ miễn nhiễm.

Bệnh nhân thứ tư của tôi, Beatrice, cũng là một cô đầm 47 tuổi, than phiền là ngủ không ngon, mệt mỏi và thấy không có động cơ/hứng khởi (motivation) làm gì cả. Hễ thức dậy giửa đêm thì cô không ngủ lại được mà có ngủ lại được thì sáng dậy thấy mệt mỏi chứ không thấy hồi sức. Cô bắt đầu đổ mồ hôi đêm và người nóng bừng (hot flushes) ba bốn lần một tuần.

Sau khi phân tách tất cả hoàn cảnh gia đình, việc làm, lịch sử sức khoẻ, tuổi tác của Beatrice, tôi đề nghị cô giảm uống trà đen, ăn nhiều sản phẩm đậu nành và hột có dầu, và tập thở yoga 20 phút khi thức dậy giửa đêm. Tôi cũng viết một toa dược thảo gồm withania, damania, sage và bacopa (rau đắng).

Hai tuần sau Beatrice trở lại sung sướng báo cho biết cô làm theo kế hoạch đó, ban đêm không còn đổ mồ hôi, hết nóng bừng người, sáng thức dậy thấy hồi sức lại, và phấn khởi (motivated). Thật đáng công “trầy vi tróc vảy” mất hơn 1 tuần lễ nghiên cứu kế hoạch sức khỏe cho cô ta.

Ca thực tập lâm sàng thứ ba có công hiệu nhanh chóng như vậy cũng liên hệ đến một cô đầm trẻ hơn tạm gọi là Catherine, khoảng 30 tuổi. Ca này xãy ra trong năm 2106 khi tôi trở lại học “Thực Tập Lâm sàng 2” và là một trong 3 ca thực tập cuối cùng mà tôi phải trình bày kế hoạch sức khoẻ trong vòng 30 phút sau phần hội chẩn.

Catherine bảo là cô đã đi nhiều bác sĩ mà chả được gì cả. Kết quả thử máu lúc nào cũng toàn hảo. Cô phải uống thuốc trầm cảm (depression) Efexor và tập thể dục mỗi ngày. Nhưng đêm nào cũng khủng khiếp đối với cô. Không biết vì lý do gì mà 2 năm rồi Catherine nói là đêm nào cô cũng bị ác mộng và đổ mồ hôi trộm trầm trọng. Mồ hôi đổ nhiều đến nỗi cô nói giường cô ướt mềm như bị thấm nhiều xô (buckets and buckets!) mồ hôi, đồng thời cô bức đứt tóc rất nhiều mỗi đêm. Cô cho tôi thấy tóc cô bị bức đứt gần hết hai bên mang tai. Tình trạng ác mộng và mồ hôi trộm nặng nề đến nổi cô không còn sức khi ngủ dậy. Cả ngày cô ở trong tình trạng dưỡng bịnh để lấy lại sức. Thuốc ngủ chẳng giúp gì được. Lúc nào cô ta cũng mệt mỏi.

Tôi đề nghị cô Catherine bắt đầu

1/ ăn uống đều đặn, ngồi bàn ăn đàng hoàng và ăn từ từ trong tư thế nghỉ ngơi, để thưởng thức bửa ăn,

2/ tập thở yoga, cố gắng chú tâm hiện trạng (mindfulness mediation) trước khi đi ngủ và

3/ ăn nhiều rau quả.

Khi trở lại một tuần sau, Catherine nói đã làm những biện pháp đó và cảm thấy vui vẻ có sức hơn, nhưng vẫn còn mồ hôi trộm và ác mộng như củ. Tôi khích lệ cô tiếp tục những thay đổi đó và trao cho cô một toa thuốc dược thảo gồm Rehmannia, Ziziphus, Withania và Gotu kola (rau má). Sở dĩ sau một tuần mới có toa dược thảo vì tôi phải nghiên cứu tìm ra thảo dược ngưng mồ hôi trộm mà không tương tác với thuốc ngừa thai Provera cô ta đang uống.

Tuần sau Catherine trở lại sung sướng nói rằng sau khi uống hổn hợp dược thảo, 4 đêm qua cô không còn mồ hôi trộm, ác mộng thì nhẹ hơn và cô có thể ý thức mình sắp bức tóc để tỉnh dậy kịp trước khi bức tóc. Bao nhiêu năm rồi cô chưa bao giờ thấy khoẻ như vậy sau khi ngủ dậy và khoẻ suốt cả ngày.

Kết qủa thực tập được như vậy thật đáng khích lệ. Tuy nhiên không phải tất cả các ca thực tập đều có kết quả tốt như thế.

Có hai ca “thực tập lâm sàng 1″ không có kết quả vì triệu chứng bịnh không nặng đủ để bệnh nhân quyết tâm tuân theo kế hoạch cải thiện sức khoẻ. Bệnh nhân trong 2 ca này không lấy thuốc, hoặc lấy mà không uống và cũng không thay đổi chế độ dinh dưỡng / hoạt động thể lực.

Hai ca khác trong kỳ ” Thực tập lâm sàng 2″ không có kết quả nhanh vì bịnh nhân bị bệnh mãn tính. Một người bị Hashimotos (tức là tuyến giáp trạng bị hệ miễn nhiễm tấn công) và một người vừa bị tiểu đường vừa bị suy yếu thần kinh, bị bắt buộc cách ly con cái từ mấy chục năm nay; và bị béo phì vì thuốc… Lớp thực tập chỉ có đủ thời gian cho 1 hoặc hai lần theo dõi trong vài ba tuần trong khi những bịnh này cần thời gian dài mới thấy kết quả.

Thật ra trong kỳ thực tập 2, sinh viên phải thực tập với 2 người cùng 1 bệnh mãn tính trong thời gian gần 3 tháng, với 8 lần gặp nhau kể cả 6 lần theo dõi. Hai bệnh nhân tôi chọn cho phần thực tập này bị bệnh tiểu đường lâu năm. Một người 30 tuổi chỉ bị tiểu đường loại 2, không ham uống thuốc tây vì nó có tác dụng phụ khó chịu. Một người 57 tuổi, vửa bị tiểu đường loại 2 vừa bị lớn lá lách (splenomegaly), vừa bị xơ gan (cirrhosis) nhiều năm… Tình trạng của hai người này cải thiện chậm chạp lúc ban đầu vì họ chưa sẳn sàng thay đổi chế độ ăn uống, nhưng sau 3 tháng cả hai đều vui và thoả mãn với kết quả chữa trị.

Thay lời kết

Phần trên tôi kể lại những gì phải làm và kết quả thực tập lâm sàng với lòng mong mỏi quý bạn biết rằng ngành y học tự nhiên (naturopathy) có cơ sở khoa học và dựa trên bằng chứng nghiên cứu, kể cả thử nghiệm lâm sàng (clinical trials) chứ không phải là tào lao.

Tôi mong là đọc xong ký sự này, quý bạn sẽ không ngần ngại tìm gặp y sĩ tự nhiên (naturopaths or naturopathic doctors) khi gặp phải hoặc muốn tránh những bịnh mãn tính, kể cả ung thư, mất trí nhớ … Họ có thể giúp quý bạn bằng cách chỉ dẫn/đề nghị những phương pháp thay đổi chế độ ăn uống, sinh hoạt, nghỉ ngơi và một số thảo dược thích hợp/ bổ sung cho thuốc tây để giúp quý anh chị có cuộc sống dể chịu và vui khoẻ hơn. Họ sẳn sàng trưng dẫn tài liệu nghiên cứu liên quan đến công hiệu của liệu pháp họ đề nghị nếu được yêu cầu.

Quý bạn có thì giờ cũng có thể truy cứu thử những công trình nghiên cứu sinh học lên quan đến bệnh mãn tính mình đang quan tâm trên trang Pubmed của Trung tâm Thông tin Kỹ thuật Sinh học Quốc gia của Hoa Kỳ (US National Centre for Biotechnology Information). Trang này chứa trên 26 triệu chú dẫn nghiên cứu liên quan đến sinh học kể cả dược tính, công dụng và an toàn cho tất cả dược thảo, rau quả và các chất phụ trợ dinh dưỡng. (https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed)

Y học tự nhiên có thể chưa nằm trong chính sách bảo hiểm y tế ở nhiều nơi, và chưa được nhà nước NZ hay Úc trợ cấp (subsidised). Dầu vậy tôi tin rằng sử dụng y học tự nhiên để có sức khoẻ tốt trong tuổi già là đáng đồng tiền. Sở dĩ chi phí lần hội chẩn đầu tiên cao hơn chi phí khám bịnh của bác sĩ là vì cuộc hội chẩn y học tự nhiên đầu tiên kéo dài 90 phút đến 2 giờ. Lâu như vậy mới có thì giờ nói ra đầy đủ lịch sử sức khoẻ, tình cảm và chế độ ăn uống làm việc.. của mình với y sĩ, tất cả đều có ảnh hưởng trên sức khoẻ. Tuy nhiên y học tự nhiên chỉ có ích lợi khi mình quyết tâm thay đổi chế độ ăn uống, sinh hoạt và nghỉ ngơi theo đề nghị của y sĩ, ít nhất trong thời gian sức khoẻ còn có vấn đề. Nếu chưa sẳn sàng thì không nên đặt kỳ vọng vào y học tự nhiên. Y học tự nhiên có thể có thần dược cho một số triệu chứng cấp tính, nhưng với bệnh mãn tính, công hiệu của y học tự nhiên cũng có thể thần kỳ nhưng hoàn toàn tuỳ thuộc vào quyết tâm làm chủ sức khoẻ của người bệnh.

Trang mạng yhoctunhien.online này nhằm cung cấp thông tin  về  dinh dưỡng và những liệu pháp y học tự nhiên hữu hiệu cho những chứng bịnh mãn tính thường gặp, đã được nghiên cứu và thử nghiệm, để giúp quý bạn chủ động bảo vệ sức khoẻ mình. Xin giới thiệu trang mạng này rộng rãi cho bạn bè mình. Xin cảm ơn .

Nguyễn văn Tư – Auckland