Bịnh lo lắng vì hậu quả thuốc tây – thiếu dinh dưỡng

Bệnh lo lắng mãn tính biểu hiện tình trạng bồn chồn, bức rức, lo sợ, lo lắng, bực dọc, khó ngủ và e ngại một cách quá mức và kéo dài. Người bệnh thường đổ mồ hôi, hồi hộp, đau ngực, mệt mỏi, nhức đầu, hụt hơi, và căng cơ bắp.

Có hai lọại nguyên nhân chính gây nên bịnh lo lắng: hậu quả thuốc tây và khủng hoảng tâm lý. (Gaby, 2017). Bài viết này sẽ chú ý đến nguyên nhân thứ nhất.

Liệu pháp tự nhiên gồm bồi bổ dinh dưỡng bằng thuốc bổ sung vitamin B, magnesium, vi sinh tốt, tăng bổ dưỡng trong việc ăn uống, thở sâu và tham gia vận đông thể lực.

Sơ lược liên hệ giữa lo lắng và một số dinh dưỡng cần thiết

Lo lắng là một trong những triệu chứng thiếu Vitamin B3, hoặc magnesium, hoặc vitamin B12 , hoặc B6, hoặc vitamin B9 (axit folic) (Gaby, 2017; Groper & Smith, 2013). Phần lớn tình trạng thiếu dinh dưỡng liên quan đến hậu quả của thuốc tây. Nếu không phải hậu quả của thuốc tây (nhất là thuốc trụ sinh) thì sự căng thẳng, khủng hoảng tinh thần … có thể làm cho vi sinh đường ruột mất thăng bằng, vi sinh tốt chết đi trong khi vi sinh độc hại sinh sôi lộng hành. Vi sinh tốt thường giúp cơ thể sản xuất hoặc hấp thụ dinh dưỡng, nhất là vitamin B kể cả vitamin B12. Mất đi vi sinh tốt là một trong những nguyên nhân gây tình trạng thiếu dinh dưỡng.

Một số thuốc tây có thể ngăn cản hay làm giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng nhất là vitamin B3, Magnesium, B12, B6, B9, làm cho cơ thể thiếu B3, B12, B6, B9 và magnesium. Hậu quả là gây chứng lo lắng.

Những thứ thuốc tây y sau đây có phản ứng phụ làm cạn những chất dinh dưỡng liên quan đến chứng lo lắng:

Thuốc kháng sinh (trụ sinh- antibiotics)

Penicillin
Amoxicillin/Clavulanic acid (Augmentin)
Cephalexin (Keflex)
Cefaclor (Ceclor)
Cefdinir (Omnicef)
Nalidixic Acid (NegGram)
Ciprofloxacin (Cipro)
Levofloxacin (Levaquin)
Moxifloxacin (Avelox)
Erythromycin
Azithromycin (Z-Pak/Tri-Pak/Zithromax)
Clarithromycin (Biaxin)
Sulfamethoxazole/trimethoprim (Bactrim/Septra)
Tetracycline
Minocycline (Minocin)
Doxycycline (Vibramycin)
Cycloserine (Seromycin)

Thuốc chống viêm (anti inflammatory drugs)

Corticosteroids (prednisone, prednisolone (Orapred),
Methylprednisolone (Solu-Medrol, Medrol),
Dexamethasone (Decadron)

Thuốc tim (cardiac glycosides)

Digoxin (Lanoxin)

Thuốc uống ngừa thai
Thuốc huyết áp (antihypertensives)

Furosemide (Lasix),
Bumetanide (Bumex),
Ethacrynic acid (Edecrin),
Torsemide (Demadex)
Chlorthiazide (Diuril),
Hydrochlorothiazide (Microzide)

Liệu pháp tự nhiên

Liệu pháp tự nhiên thường được dùng để trị chứng lo lắng vì thiếu dinh dưỡng do hậu quả của thuốc tây là uống

Thuốc bổ sung Niacimide B3 (1000– 3000 mg một ngày) ,

Magnesium (100-500 mg một ngày), Magnesium lactate và magnesium oxide được dùng trong những nghiên cứu tác dụng của magnesium cho bịnh lo lắng (healthline). Nhưng có thể magnesium dưới hình thức khác như magnesium citrate, magnesium chloride (Kubala, 2020).

Hổn hợp vitamin B có vitamin B12, B6 và B9 và vitamin C (Gaby, 2012; Kubala, 2020)

Thuốc bổ sung vi sinh tốt (probiotics). Thuốc bổ sung vi sinh tốt có thể dùng gồm Radiance Probiotics 100 billion, Lifestream Advanced Probiotics Mood & Immune (2 thứ này có bán ở Chemistwarehouse tại Úc và New Zealand) hoặc Innovixlabs Multi-strain probiotic Innovixlabs mood probiotic, Garden of Life Dr. Formulated Probiotics , Mood+ (có bán ở www.iherb.com) và những thuốc bổ sung vi sinh tố có Lactobacillus helveticus và Bifidobacterium longum, là hai dòng vi sinh được thử nghiệm có hiệu quả nâng cao tinh thần lạc quan (Messaoudi et al, 2011)

Tập thở sâu mỗi ngày, tham gia thể dục thể thao.

Xin lưu ý:

Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế chỉ dẫn của bác sĩ.

Tham khảo:

Gaby, A. (2017) Nutritional Medicine, Second Edition. Fritz Perlberg Publishing Concord.

Gropper, S. & Smith, J.L. (2013). Advanced Nutrition and Human Metabolism. 6th Edition. International Edition.Wadsworth, Cengage Learning.

Kubala, J. (2020) Magnesium for Anxiety: Is it effective? https://www.healthline.com/health/magnesium-anxiety

Messaoudi, M. et al (2011). Beneficial psychological effects of a probiotic formulation (Lactobacillus helveticus R0052 and Bifidobacterium longum R0175) in healthy human volunteers. Gut Microbes, Volume 2, 2011 – Issue 4. https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.4161/gmic.2.4.16108

Pharmacy Solutions. Drug induced nutrient depletion. Pharmacy Solutions. https://pharmacysolutionsonline.com/drug-induced-nutrient-depletion.php

 

Trầm cảm , vật vã vì nghiện và cai nghiện

Trầm cảm, vật vã vì nghiện rượu, cần sa hay ma tuý.

Nghiện rượu, cần sa hay ma tuý không những gây chứng trầm cảm mà gây còn những vật vã, rối loạn thần kinh, thay đổi tâm tính một cách đáng sợ.

Liệu pháp tự nhiên gồm vận đông thể lực, bồi dưỡng chất dinh dưỡng bị rượu ma tuý là cạn, kể cả vi sinh tốt đường ruột và liệu pháp tâm linh.

Ảnh hưởng của rượu và ma tuý trên cơ thể:

Rượu, cần sa, ma tuý làm cạn nhiều chất dinh dưỡng, khoáng chất, vi sinh tốt cần thiết trong cơ thể và thay vào đó bằng vi sinh xấu trong đường ruột với hậu quả gây hư hại cho não bộ. Nhiều người đối phó với tình trạng thất vọng, lo âu, căng thẳng, cô đơn, buồn phiền bằng cách uống rượu, hút cần sa hay hít ma tuý. Những thứ này có thể làm cho người dùng quên đi những buồn lo, chán nản khi mới uống. Nhưng chỉ trong vài tiếng đồng hồ, đâu lại vào đó, nên lại thèm uống và phải tiếp tục uống để giải sầu, giải lo buồn, chán nản. Không uống thì cái nan đề ban đầu trở nên tệ hơn, cộng thêm tình trạng vật vã, mất tự chủ, rối loạn mất trí do hậu quả tai hại của rượu và ma tuý trên thần kinh não bộ và cơ thể.

Vai trò của hệ vi sinh

Một số công trình nghiên cứu trong mười năm qua cho thấy có sự liên hệ rõ ràng giữa sự bất thăng bằng trong hệ vi sinh đường ruột với chứng rối loạn thần kinh như trầm cảm, lo âu và bệnh nghiện.

Đăc biệt, một công trình nghiên cứu quan sát 60 người nghiện rượu, trong đó có 26 người bị rò rỉ ruột vì hệ vi sinh có quá ít vi sinh tốt chống viêm. Sau 19 ngày cai rượu, 26 người này vẫn bị trầm cảm, lo âu và thèm rượu không chịu nỗi, trong khi đó 34 người có hệ vi sinh cân bằng bình thường hồi phục nhanh hơn, mức độ trầm cảm, lo lắng, thèm rượu trở lại như người bình thường không nghiện. (Leclercq S, Matamoros S, Cani PD et al. ). Kết quả cai nghiện ở những trại cai nghiện Việt nam và trên thế giới vì thế không có kết quả mong muốn khi không có biện pháp hồi phục sự cân bằng hệ vi sinh đường ruột, nghĩa là thiếu biện pháp bồi bổ vi sinh tốt (probiotics) cho đường ruột cho những người có bịnh mãn tính.

Vai trò bổ sung chất dinh dưỡng

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu lâm sàng cho thấy những người nghiện rượu, cần sa và ma tuý thiếu những chất dinh dưỡng sau đây: Magnesium, Zinc, vitamin D, Omega 3. Bổ sung những chất dinh dưỡng đó và Citicoline, Theanine, Omega 3, Acetyl-L-Carnitine, N-Acetyl-Cysteine (NAC) and/or Glutathione và Vitamin C giúp giảm lo lắng, trầm cảm và mức vật vả khi cai nghiện rất công hiệu (Fallis, 2017)

Liệu pháp tư nhiên vật chất

Liệu pháp tự nhiên sau đây được sử dụng để giúp bịnh nhân cai nghiện đối phó với sự đòi hỏi của cơ thể và rút ngắn thời gian cai nghiện.

1. Thể dục, vận động đều đặn mỗi ngày ngoài trời
2. Giải độc bằng cách – loại trừ đường, chất ngọt và phụ gia thực phẩm khỏi thức ăn, ăn nhiều thức ăn tươi hơn và giảm thức ăn chế biến.
3. Ăn nhiều bữa ăn nhẹ
4. Bồi sung vi sinh tốt bằng cách * uống bổ sung probiotic nhiều dòng như Innovixlabs Multi strain probiotic 50 billion, Radiance 100 Billion probiotic….* ăn đều đặn gia ua sửa chua, chứa vi sinh sống (probiotic yogurt – như sửa chua Hy lạp – Greek yogurt, kefir, gia ua kem dừa) và * ăn đều đặn thức ăn lên men như dưa chua kim chi, mi so, sauerkraut, đậu nành lên men kiều Nhật Natto…
5. Bổ sung chất chống oxit hoá có nhiều trong trà maicha, trà xanh, blue berries, nho đỏ đậm, đậu tây hình thận (kidney bean), cải xanh và khoai lang.
6. Ăn đầy đủ dinh dưỡng chứa – axit amino tyrosine tạo cảm giác thoả mãn (dopamine ) như thịt bò, thịt gà, thịt gà tây, phó mát (cheese), lòng đỏ trứng, chuối chín, – omega 3 và 6 như cá hồi, dầu avocado, dầu hạt linh (flaxeed) – spirulina – củ nghệ. (mytimerecovery, 2019)
7. Khi bắt đầu cai nghiện, uống bổ sung Citicoline, Theanine, Omega 3, Acetyl-L-Carnitine, N-Acetyl-Cysteine (NAC) and/or Glutathione, Vitamin D, Magnesium, Zinc, Vitamin C ( 500mg -3000 mg/ 1 ngày) có công hiệu đem lại kết quả mong muốn nhanh chóng và dễ chịu cho người cai nghiện. Không có thuốc bổ sung thì ăn nhiều lòng đỏ trứng và gan bò (chứa coline), uống trà xanh, trà đen (Theanine), dầu cá (omega 3), hạt bí đỏ, hạt hạnh nhân (magnesium, zinc) phơi nắng (vitamin D) nhiều nước chanh, hoa cải trắng/ xanh, bắp cải (vitamin C) Nhưng thuốc bổ sung mạnh hơn và có kết quả nhanh hơn. (Fallis, 2021).

Liệu pháp tâm linh

Sức khoẻ toàn diện của mỗi người chúng ta không phải chỉ có phần thể lực mà còn phần tâm trí và tâm linh.
Bệnh nghiện là chứng bệnh liên quan đến sức khoẻ toàn diện của chúng ta. Nó có ảnh hưởng đến thể lực- mệt mỏi, vật vả. Nó ảnh hưởng đến tâm trí: rối loạn, không suy nghĩ sáng suốt, không chú tâm dược. Nó ảnh hưởng đến tâm linh: không có sự bình an, mà lo lắng, sợ hãi, chán đời, tuyệt vọng… chao đảo, mất niềm tin lành mạnh. Bệnh nghiện cũng phát xuất không phải chỉ từ tình trạng suy kém thể lực và thiếu dinh dưỡng mà còn phát xuất từ tâm linh và niềm tin thiếu lành mạnh.

Kết quả 1 công trình nghiên cứu năm 2005 cho thấy những người 60-70 tuổi ở Mỹ có niềm tin tín ngưỡng ít bị trầm cảm , ít chán đời trong hoàn cảnh bịnh tật hơn là những người không có tín ngưỡng.
Một cuộc nghiên cứu khác năm 2013 cho thấy những bệnh nhân được điều trị trầm cảm và tự hại mình có kết quả tốt hơn khi có niềm tin nơi Thượng đế. Tuy nhiên, cũng có sự khác biệt giữa niềm tin lành mạnh tích cực và niềm tin tiêu cực thiếu lành mạnh. Người có niềm tin tiêu cực thiếu lành mạnh thì bị trầm cảm nhiều hơn và cuộc sống thiếu an bình hơn.
Theo Giáo sư Kenneth Pargament tại Đại học Bowling Green State, nếu người nào tin Thượng đế là Đấng Yêu thương, nhân từ khoan dung thì tâm tư vui thoả (vì họ không phải sợ hãi, lo lắng). Trái lại người nào tin rằng Thượng đế có bản chất ngăm đe, trừng phạt hay không thể nương cậy thì niềm tin này gây bất an và lo sợ nên có ảnh hưởng xấu trên sức khoẻ thể lực cũng như tâm linh người đó (Smith, 2017).

Theo TS Harold Koenig, Giám đốc Trung Tâm Tâm Linh, Thần học và Sức khoẻ tại Trung Tâm Y khoa Đại học Duke, thì một trong những lý do tại sao những người có niềm tin lành mạnh dễ dàng đối phó những căng thẳng và nghịch cảnh hơn người khác vì niềm tin đó cho họ thấy mục đích và ý nghĩa của cuộc sống kể cả những nghịch cảnh xãy ra cho họ.

Các trại cai nghiện ma tuý nhà nước ở Việt nam vừa thiếu liệu pháp dinh dưỡng, vừa thiếu liệu pháp tâm linh nên hiệu quả rất thấp. 80% những trại viên nghiện trở lại sau khi trở về nhà. (bbc, 2017).

Ngược lại một số trại cai nghiện tôn giáo, đặc biệt trại cai nghiện Tin lành có hiệu quả đến 55% (Rfa, 2020)

Xin ghi lại kinh nghiệm của Bà Nguyễn thị Hồng Vân có chồng nghiện ma túy đã trải qua nhiều lần cai nghiện ở các trung tâm cai nghiện nhà nước và cuối cùng dứt nghiện ở một trung tâm cai nghiện Tin lành.

Năm 21 tuổi bà yêu một người từng nghiện ma tuý, và quyết định lấy anh ta, nghĩ rằng mình có thể giúp anh cai nghiện bằng chính tình yêu của mình. Bà kể:

Nhưng suốt sáu năm đầu lập gia đình, tất cả những gì tôi hy vọng đều tan biến, cuộc sống của gia đình tôi dần chuyển thành địa ngục, nhà cửa tan hoang vì những đồ đạc trong nhà có giá trị có thể bán được không còn. Gia đình tôi đã đi rất nhiều nơi để đưa anh đi cai nghiện, đã tìm đủ các loại thuốc để giúp anh cai nhưng vẫn không được “.

Tôi nghĩ nếu có con, anh ấy sẽ yêu con, và chắc chắn là anh ấy sẽ thay đổi. Nhưng sự việc trái ngược hẳn điều tôi suy nghĩ. Lúc Quỳnh Anh mới sinh được một tháng tuổi, anh về nhà đòi tiền. Anh bắt ép tôi và mẹ phải đưa tiền, anh mới trả con lại.

Sau ngày đó, gia đình tôi quyết định để anh vào cai nghiện tại trại cai nghiện của nhà nước một năm. Đi một năm về được vài tháng anh nghiện trở lại. Gia đình tôi không có cách nào khác phải đưa anh đi tiếp.

Sau những lần đi cai nghiện bắt buộc trở về, anh như không còn nhân tính nữa. Trên môi anh luôn là những lời thô tục, cục cằn, giận dữ.

Một ngày trong tháng 11 năm 2006, mẹ chồng tôi đã tình cờ gặp một người bạn của anh, cũng nghiện ma túy nặng. Mẹ rất ngạc nhiên sao trông khuôn mặt anh này khác hẳn, rất sáng và tác phong lạ lùng, đến chào mẹ tôi thay vì trước đây toàn lảng tránh với khuôn mặt lấm lét (vì có nhiều lần bị mẹ tôi mắng chửi về việc rủ rê chồng tôi). Mẹ tôi quyết định đi đến nhà gặp mẹ của bạn anh để tìm hiểu sự thật. Tại đó, mẹ đã nghe lời làm chứng về quyền năng biến đổi của Chúa trên đời sống anh bạn. Đến tối, có một nhóm người đã đến nhà tôi và nói về Chúa Giê-xu cho chúng tôi. Chúng tôi còn biết được là không chỉ có anh bạn đó mà còn có rất nhiều người đã được Chúa giải cứu, có người được một năm, hai năm, có người được cứu khỏi cả bảy năm rồi. Nghe những lời chứng kỳ diệu ấy, tối hôm đó, cả nhà tôi đã quỳ gối mời Chúa ngự vào lòng, bước vào đời sống, làm Đấng Cứu Rỗi và làm Chủ đời sống của chúng tôi. Chúng tôi cầu xin phép lạ và sự chữa lành của Chúa sẽ thực hiện trên gia đình mình.

Sau đó, chồng tôi đã được Mục sư Ngô Tấn Sĩ người đã lập ra Trung Tâm Giải Cứu Gia Đình Tái Sinh tại Bình Long cho vào sống trong trung tâm. Mục sư đã nuôi dưỡng anh bằng cách dạy Kinh Thánh cho anh mỗi ngày. Mục sư cũng rất ngạc nhiên khi thấy ngay những ngày đầu bước vào trung tâm, anh cứ mải miết đọc và học Kinh Thánh. Sau này, anh kể lại, “Sau 14 ngày đọc và học Lời Chúa, Chúa đã biến đổi anh cách kỳ diệu. Những tư tưởng trong đầu anh cũng được kiểm soát. Anh không thể nói dối được, không thể nói tục được nữa. Có lúc, anh cố đánh vần ra một từ tục tĩu để nói, cũng không nói được. Anh không hút thuốc lá, cũng như không uống rượu được nữa… Lời Chúa đã biến đổi anh.” Nghe anh kể mà tôi cảm thấy kinh sợ, Đức Chúa Trời lạ lùng quá, kỳ diệu quá! Chỉ có Ngài mới làm được những điều kỳ diệu mà nhà tù, song sắt, trại cai nghiện, và cả đến tình yêu của gia đình cũng không thể làm được.
..
Từ một người nghiện ma túy, nghiện rượu, thuốc lá, cờ bạc, ăn chơi trác táng… bây giờ anh không còn nghiện những thứ đó nữa. … Trên môi anh bây giờ không còn những lời cay đắng, hung dữ, thô tục; thay vào đó là những lời ngọt ngào, dịu dàng, nhân hậu, và nụ cười thật hiền từ. Từ một con người không biết yêu thương ai, giờ đây Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Ngài vào lòng để anh yêu mến Chúa, yêu thương cha mẹ vợ con, và yêu thương nhiều người khác nữa. “

Xin xem trọn lời kể của bà Hồng Vân ở

NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN: ƯỚC GÌ CHÚNG TÔI BIẾT CHÚA SỚM HƠN!

Xin lưu ý:

Bài viết này chỉ có mục dích thông tin chứ không thay thế chỉ dẫn của y bác sĩ.

Tham khảo:

Fallis, J. (2021) 9 supplements proven to help you overcome addiction and withdrawal. Optimal Living Dynamics.
https://www.optimallivingdynamics.com/blog/9-nutrients-proven-to-help-you-overcome-addiction-and-withdrawal-nutrition-recovery-vitamins-minerals-amino-acid-symptoms-supplements-diet-substance-drug-abuse-syndrome-cravings-opiate-alcoholism-food

Leclercq S, Matamoros S, Cani PD et al. Intestinal permeability, gut-bacterial dysbiosis, and behavioral markers of alcohol-dependence severity. PNAS October 21, 2014 111 (42) E4485-E4493; first published October 6, 2014; https://doi.org/10.1073/pnas.1415174111

Smith, R. S. (2017) How do Religious Beliefs Affect Our Health and Well-being? Couple Family Clinic. https://coupleandfamilyclinic.com/how-do-religious-beliefs-affect-our-health-and-well-being/

 

Trầm cảm do trình trạng căng thẳng lâu dài.

Tình trạng căng thẳng lâu dài, thiếu vận động và ăn uống thiếu chất xơ là 3 nguyên nhân chính làm mất thăng bằng hệ vi sinh đường rụột, làm giảm vi sinh tốt tăng vi sinh xấu, nghĩa là đường ruột có quá nhiều vi sinh xấu và ít vi sinh tốt.
Vi sinh tốt giúp cơ thể tạo vitamins, tổng hợp sinh axit amino (đạm) thiết yếu, giúp hấp thụ dinh dưỡng/ khoáng chất, tạo enzim tiêu hoá, hoá giải độc tố, tạo kháng sinh…. Trong khi đó, vi sinh xấu giành vitamins, gìành dinh dưỡng, làm cạn dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất, thải độc tố… thay thế tín hiệu, chất truyền dẫn thần kinh vui sướng bằng tín hiệu truyển dẫn thần kinh rối loạn, căng thẳng… Tình trạng căng thẳng lầu dài vi thế cũng làm cạn chất dinh dưỡng và khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cơ thể.

Kết quả nghiên cứu tổng hợp 7 thử nghiệm lâm sàng với những bịnh nhân bị trầm cảm nhiều (major depression) cho thấy triệu chứng trầm cảm được cải thiện một cách đáng kể trong mọi thử nghiệm dùng bổ sung vi sinh tốt (prebiotic và/hoặc probiotic) để chữa trị trầm cảm, bất kể mức độ trầm cảm nặng hay nhẹ, bất kể có thêm bịnh khác hay không và bất kể thời gian chữa trị ngắn hay dài (Noonan, Zaveri, Macaninch & Martyn, 2020). Những dòng vi sinh được dùng trong 7 thử nghiệm này gồm hoặc Lactobacilus plantarum 299 (2 x 10 tỉ CFU/1 ngày trong 11 ngày) hoặc Lactobacillus helveticus và Bifidobacterium longum (10 tỉ/ngày) hoặc Clostridium butyricum MIYAIRI 588 (40-60mg /ngày) hoặc Lactobacilus casaei, Lactobacillus acidophilus, Lactobacillus bulgarigus, Lactobacillus rhamnosus, Bifidobacterium breve, Bifidobacterium longum, Streptococus thermophilus và thức ăn Fructo-oligosaccharide cho vi sinh (prebiiotic) hoặc Lactobacillus acidophilus, Bifidobacterium bifidum, và Streptoccocus thermophiles (2 tỉ CFU tất cả /ngày) hoặc Lactobacillus acidophilus, Lactobacillus casei, Bifidobacterium bifidum (mỗi dòng 2 tỉ/ ngày).

Kết quả nghiên cứu y học cũng cho thấy người vận động / thể dục đều đặn có nhiều loại và lượng vi sinh tốt trong đường ruột hơn là những người không vân động/ thể dục và lượng vi sinh tốt trong người có thể tăng 40% nhờ thể dục (Morea, 2017).
Theo Bác sĩ Miller ở Đại học Harvard, vận động thể dục cũng là một liệu pháp trị trầm cảm có hiệu lực. Vì thể dục giúp phát triển tế bào thần kinh trong não (hippocampus), cải thiện sự kết nối các tế bào thần kinh, nên giúp giải toả chứng trầm cảm. (Harvard Medical School, 2021).
Thư giãn bằng cách thở sâu bằng bụng cũng cần thiết để giảm căng thẳng và giảm trầm cảm.

Liệu pháp tự nhiên trị trầm cảm vì căng thẵng trong cuộc sống vì vậy gồm

1/ Bổ sung đa vitamin B, vitamin C và khoáng chất khi còn bị căng thẳng. Những bổ sung dưới dạng Stress Formula, hay Stress Support có thể sử dụng cho mục đích này.
2/ uống bổ sung vi sinh tốt. có chứa một hay nhiều dòng vi sinh kể trên,
3/ vận động thể dục đều đặn mỗi ngày
4/ thư giãn bằng cách thở sâu bằng bụng 4-5 lần mỗi ngày mỗi lần 3-5 phút.
5/ ăn nhiều rau quả đa dạng có nhiều chất xơ mỗi ngày để giúp vi sinh tốt tăng trưởng.

Xin lưu ý:

Bài viết này chỉ có mục  đích thông tin chứ không thay thế chỉ dẫn của bác sĩ.

Tham khảo:

Harvard Medical School (2021). Exercise is an all-natural treatment to fight depression. https://www.health.harvard.edu/mind-and-mood/exercise-is-an-all-natural-treatment-to-fight-depression

Morea, J. (2017) Is Gut Health the key to a Good Night’s Sleep? Take care of the friendly flora within to help the sleep you need. Thrive Global. https://medium.com/thrive-global/is-gut-health-the-key-to-a-good-nights-sleep-414e9e7df545

Noonan S., Zaveri M., Macaninch E. & Martyn K. (2020). Food & Mood: a review of supplementary prebiotic and probiotic interventions in the treatement of anxiety and depression in adults. BMJ Nutrition, Prevention and Health.
https://nutrition.bmj.com/content/early/2020/06/09/bmjnph-2019-000053

 

Bảo vệ Ruột già, trực tràng, gan và đường tiêu hoá khỏi ung thư

Bảo vệ ruột già, trực tràng và đường tiêu hoá khỏi ung thư

Trong số những người tôi quen biết bị tử vong vì ung thư, thì nhiều nhất là bị ung thư trực tràng hay ruột già. Điều này thật ra không có gì là lạ, một phần vì số người bị ung thư đường ruột chiếm 25% (1 phần tư) tổng số bịnh nhân ung thư và 27% số người chết vì ung thư trên thế giới năm 2020 (Globalcan 2020, WHO) . Và một phần vì ung thư trực tràng và ung thư ở các bộ phận tiêu hoá thường không thể hiện triệu chứng nào cả trong những giai đoạn đầu. Khi phát hiện thì đã đến lúc khá trể.

Khi việc phát hiện ung thư đường tiêu hoá không phải đơn giản, thì phòng ngừa là cách an toàn nhất, nếu có thể được. Nghiên cứu y học gần đây cho thấy chúng ta có thể tránh và chống  ung thư trực tràng và ung thư ở các bộ phận tiêu hoá khác khi có tập hợp vi sinh đường ruột (gut microbiota) lành mạnh. Chúng ta có thể cải thiện tập hợp vi sinh đường ruột cách bổ sung vi sinh tốt (uống probiotics) cùng với chế độ dinh dưỡng lành mạnh, sinh hoạt thể lực đều đặn và lối sống tinh thần tình cảm thư thái, tích cực, lành mạnh. Nếu đã bị ung thư đường tiêu hoá, thì cách phòng ngửa ung thư đường tiêu hoá cũng giúp tăng hiệu quả phương pháp hoá trị, xạ trị và giải phầu nhờ giảm các tác dụng phụ bất lợi của những phương pháp đó.

Cách phòng chống ung thư đường tiêu hoá

Trước khi bắt đầu phòng chống ung thư bằng cách tự nhiên, không dùng thuốc chúng ta cần nắm vững nền tảng của phương pháp này. Có nắm vững thì chúng ta mới thực hiện cách ăn uống và lối sinh hoạt cần thiết để đạt được mục đích mong muốn cách hữu hiệu. Sau đây là những điều chúng ta cần nắm vững:

  1. Tin và hiểu rằng cơ thể chúng ta được tạo ra một cách tuyệt vời. Nó có cơ chế tự chữa lành những hư hỏng (bịnh tật) khi có điều kiện thích hợp. Ngược lại, điểu kiện/môi trường bất lợi kéo dài sẽ làm cho nó hư hỏng ( binh tật mãn tính). Muốn phòng chống bịnh mãn tính kể cả ung thư, chúng ta cần phục hồi và bảo tồn điều kiện thích hợp cho nó tự chữa lành.
  2. Chúng ta cần kiên trì vì cơ thể cần thời gian để loại bỏ các yếu tố bất lợi đã tich luỹ nhiều năm và phục hồi trạng thái lành mạnh. Thông thường sau 3 tháng chúng ta mới thấy công hiệu rõ ràng, mặc dầu có trường hợp sớm hơn tuỳ theo tình trạng mỗi người. Vì vậy đừng bỏ cuộc.
  3. Chúng ta cần hiểu rằng để phòng chống bịnh mãn tính, nhất là ung thư, chúng cần lọai trừ những yếu tố tạo nên môi trường, điều kiện bất lợi và có hại cho cơ thể. Những yếu tố đó nằm trong thực phẩm và thức uống chúng ta tiêu thụ hằng ngày, không khí chúng ta thở, sự căng thẳng tinh thần, tình cảm (xúc cảm tiêu cực – kể cả lo lắng, tức giận, ghen ghét, …), âm thanh ồn ào, tình trạng thiếu ngủ, thiếu nghỉ ngơi, thiếu vận động thể lực của mình (xin xem bài viết Lối sống bình thản, thư thái là chìa khoá sức khoẻ). Việc loại bỏ những yếu tố / môi trường có hại này là việc thiết yếu cần thực hiện cách nghiêm túc, chứ không phải tuỳ tiện và xem thường.

Đi vào chi tiết hơn, chúng ta cần loại/ tránh ăn thịt đỏ, thịt chế biến, thực phẩm chế biến kể cả các loại dầu thực vật tinh chế, ngũ cốc tinh chế – như cơm trắng, bún/ mì làm bằng bột gạo trắng, bánh mì trắng, sản phẩm bột mì trắng (refined grains)- bánh kẹo ngọt.

Thứ nhất, tại sao cần tránh ăn thịt? Vì thịt và sản phẩm gốc động vật nào cũng chứa nhiều vi sinh tiết ra nhiều độc tố (endotoxin). Ăn thịt sống hay chín đếu có nghĩa là ăn những độc tố đó. Mỡ bảo hoà trong thịt lại tăng lượng độc tố chuyển vào máu. Kết quả là tăng chứng viêm trong người (Greger, 2012). Vi sinh độc hại có sẵn trong cơ thể lại thích mội trường axit do thịt ăn vào tạo ra, nên ăn nhiều thịt mỡ sẽ làm vi sinh độc hại sinh sôi và tăng trưởng trong đường tiêu hoá, nâng cao mức lượng nội độc tố, gây thêm viêm đưa đến nhiều thứ bệnh (Minich D., 2017). Chứng viêm kéo dài thường gây nên ung thư ( Coussens, M.L. & Werb, Z., 2002)

Thứ hai, chúng ta cần hiểu rằng hầu hết dầu thực vật tinh chế (khác với dầu thực vật ép lạnh) có hại cho sức khoẻ vì 1. chúng có quá nhiều axit béo ômega 6 so với ômega 3 nên gây viêm cho cơ thể đưa đến những bịnh của thời đại như là tiểu đường, cao huyết áp, ung thư, mất trí nhớ, phong thấp… 2. Chứa nhiều hoá chất dùng trong qui trình sản xuất có hại cho cơ thể và 3. Các dầu này thoá hoá sinh ra chất độc có hai cho cơ thể khi dùng để nấu ăn (từ 70 độ C hay 158 độ F) gây ra nhiều bịnh mãn tính như ung thư, tim mạch và bịnh tâm thần. Dầu bắp (corn oil) dầu hạt bông (cotton seed oil), dầu đậu nành, dầu hạt hoa hướng dương (sunflower seed oil), dầu phụng (peanut oil) dầu canola tinh chế, dầu hạt nho (grapeseed oil) là những dầu thực vật tinh chế không nên dùng. (Hyman, 2016; Patterson et al, 2012; Sifferlin , 2018).

Thứ ba, chúng cần hiểu là nên tránh thức ăn chế biến vì chúng luôn luôn có hoá chất bảo quản nên có hại cho đường ruột.

Thứ tư, âm thanh ồn ào, kích động lâu dài có ảnh hưởng gây căng thẳng thần kinh đưa đến tình trạng mất ngủ, mệt mỏi, đau tim, suy yếu thần kinh.. (Australian Academy of science, 2021) https://www.science.org.au/curious/earth-environment/health-effects-environmental-noise-pollution. Một trong những hậu quả của căng thẳng thần kinh là làm mất thăng bằng hệ vi sinh đường ruột, do đó có thể gây ung thư như đã nói ở trên.

  1. Chúng ta cần hiểu rằng để cho cơ thể tự chữa lành, chúng ta cần tạo môi trường/ điều kiện thich hợp cho nó, nghĩa là cần ăn uống lành mạnh, cần nghỉ ngơi và ngủ đầy đủ, cần đều đặn vận động thể lực, cần nghe âm thanh/ âm nhạc êm nhẹ,  cần hoà mình với thiên nhiên đều đặn…. Và đây là việc thiết yếu phải làm cách nghiêm túc thích thú không thể coi nhẹ.

Thứ nhất, chúng ta cần tạo cho cơ thể trạng thái bình thản, thư thái càng nhiều càng tốt để có tối đa thời gian và năng lượng dồn cho công tác chữa lành cơ thể.  Cách hữu hiẹu nhất là dành nhiều thì giờ nghỉ ngơi, tập thở sâu bằng bụng, nuôi dưỡng liên hệ tình cảm gia đình và xã hội lành mạnh, xây dựng tấm lòng khoan dung, tha thứ, nhân ái, thương yêu, một tâm tình biết ơn, và một lối sống tích cực quan tâm giúp đở người khác.

Thứ hai, trong đường ruột chúng ta lúc nào cũng có những vi sinh trục lợi (opportunistic bacteria and viruses). Khi chúng ta mạnh khoẻ, số lượng những vi sinh này rất thấp nên hệ thống miễn nhiễm chúng ta không phát hiện. Ngược lại khi bi căng thẳng lâu dài, hoc môn căng thẳng cortisol, epinephrine, norepinephrine được tiết ra tràn lan tạo điều kiện thuận lợi cho những vi sinh trục lợi này nhanh chóng sinh trưởng gấp bội, trong khi vi sinh tốt bị thất sủng. Vi sinh trục lợi (xấu) này tiết ra chất độc. Những chất độc này lại làm cho cơ thể tiếp tục sản xuất thêm hoc môn căng thẳng (cortisol…)  Cơ thể chúng ta bị một vòng lẩn quẩn độc hại kiềm chế. Tình trạng này làm hỏng màng ruột non, gây ra rò rỉ đường ruột,  tạo điều kiện cho chất độc lipopolysaccharides lẻn vào cơ thể gây nên hầu hết các bịnh mãn tính như tiểu đường, trầm cảm, Alzheimer’s, Parkinson’s, bịnh tim, cao huyết áp, ung thư v.v. (Krishnan, 2020).

Thứ ba, theo kết quả nghiên cứu, những người vận động thề dục đều đặn có nhiều loại và lượng vi sinh tốt trong đường ruột hơn là những người không hoạt động. Và lượng vi sinh tốt trong người có thể tăng 40% nhờ thể dục. (Monda et al , 2017; Morea, 2017).

Thứ tư, ăn uống lành mạnh đơn giản không có gì phức tạp. Chúng ta chỉ cần nhớ ăn thật nhiều thức ăn chưa chế biến (hạt thô như gạo lức, yến mạch thô, hạt có dầu thô..), ăn thức phẩm  lên men (như sửa chua – yogurt sống, kim chi, rau cải lên men, natto, miso), thât nhiều rau quả củ tươi đa màu, rau thơm, và tránh ăn đường, tránh ăn thịt, tránh dầu tinh chế, tránh thức ăn bột chế biến khi có thể tránh được và uống đủ nước lọc. Ăn uống lành mạnh cũng có nghĩa là ăn uống từ từ, nhai thật kỹ trước khi nuốt, không ăn nhiều quá, và ăn trong khung cảnh nghỉ ngơi, thư dãn. (Axe, 2018). Xin xem bài “ Chỉ ăn thức ăn gốc thực vật không chế biến có thể ngừa cà trị được mọi thứ bệnh mãn tính” https://wp.me/p94GZh-1kU

Chúng ta cũng cần biết rằng trong đường ruột chúng ta có một tập đoàn vi sinh với hàng tỉ tỉ vi trùng, vi khuẩn, nấm vi mô sống trong đó. Tập đòan vi sinh này đóng vai trò quan trọng đối với sức khoẻ chúng ta, từ hệ miễn nhiễm đến sức khoẻ của não bộ và sinh hoạt toàn diện của cơ thể. Cơ thể lành mạnh khi tập đoàn này có khoảng 85% vi sinh là vi sinh tốt. Vi sinh tốt là vi sinh giúp phân hoá các phân tử thực phẩm lớn thành nhiên liệu cần thiết cho cơ thể. Chúng cũng giúp sản xuất vitamin và giúp bảo vệ cơ thể khòi bịnh tật. Ngoài ra, vi sinh (vi trùng) tốt còn một vai trò rất quan trọng là nhờ sinh sôi nhanh chóng chúng kiềm chế vi sinh (vi trùng) xấu.

Khi lượng vi sinh xấu cao hơn 15% thì hệ vi sinh mất thăng bằng, có thể  gây ra nhiều tình trạng rối loạn trong cơ thể và ung thư. Vì vậy, làm sao gia tăng loại và lượng vi sinh tốt trong đường ruột để lập lại thăng bằng và bảo trì tập đòan vi sinh đường ruột là quan trọng trong việc phòng chống bịnh mãn tính, nhất là ung thư.

Thật may mắn là ai nấy trong chúng ta củng có thể lập lại và bảo trì một hệ vi sinh đường ruột lành mạnh bằng cách ăn uống lành mạnh, thể dục đều đặn với lối sống bình thản hiền hoà, nghỉ ngơi, thư dãn đầy đủ như đã trình bày ở phần trên.

Khi có triệu chứng hệ tiêu hoá không ổn như thường xuyên bị bón, hoặc tiêu chảy, hoặc lúc tiêu chảy, lúc bón, hoặc hay ợ chua, hoặc hay no hơn , đầy bụng, đau bụng..   nhất là sau khi ăn rau cải sống, và thực phẩm thực vật khác, đó là dấu hiệu cho biết ruột chúng ta bị hư hại và vi sinh trùng trong đó thiếu en-zim cần có để biến chế (chuyển hoá) chất bột (carbs) và xơ trong thức ăn đó. Có nghĩa là chúng ta không có đủ loại vi sinh tốt cần có trong ruột. Cách cấp tốc làm giải quyết tình trạng không tiêu, no hơi đầu bụng này là uống en zime tiêu hoá (digestive enzyme). Nhưng điều đáng mừng là chúng ta có thể giúp đường ruột chữa lành bằng cách từ từ ăn thêm nhiều loại rau quả và củ chứa chất xơ (bắt đầu ít tù từ tăng lên dần) mà không bị khó chịu. Nói tóm lại, từ từ ăn nhiều loại rau quả củ khác nhau là (=) ăn thêm nhiều loại chất xơ khác nhau tức là (=) tạo phát triển nhiều loại vi sinh trùng tốt, (=) tạo nên hệ vi sinh đường ruột thăng bằng lành mạnh (=) tăng sản xuất mỡ chuổi ngắn (=) kết quả là sức khoẻ tốt toàn diện (Shea, 2020). Điển hình là một trái táo có khoảng 1 trăm triệu vi sinh tốt đa loại (Wassermann, Müller, Berg, 2019).

Khi bị ung thư đường ruột hay bất cứ ung thư loại nào khác, hệ vi sinh đường ruột chúng ta  bị mất thăng bằng trầm trọng, và đường ruột bị hư hại trầm trọng. Chúng ta có thể giúp phục hồi và chữa lành đường ruột nhanh hơn bằng cách uống bổ sung vi sinh tốt gây giống (spore probiotics).  Loại vi sinh này giúp diệt vi sinh trục lợị, không những nuôi dưỡng vi sinh tốt mà còn giúp tăng đa dạng vi sinh tốt (nên gọi là spore probiotics – spore có nghĩa là seed, hạt giống).  Chúng ta có thể mua Youtheory Spore probiotic ở iherb.com.  Sản phẩm này có 3 dòng vi sinh gây giống là Bacillus clausii, Bacillus subtilis và Bacillus coagulans. (Krishnan, 2020) Nếu không tiện mua Youtheory spore probiotics đó thì cũng có thể thay thế nó bằng cách ăn kim chi, sửa chua, dưa cải và natto mỗi ngày vì B. coagulans có rất nhiều trong  kim chi , sửa chua, dưa cải. Còn B. subtilis thì có trong natto (đậu nành lên men của Nhật).

Cách phòng ngừa hữu hiệu ung thư đường ruột vì thế không thể thiếu thói quen ăn đa loại thức ăn lên men.

  1. Nếu đã được bác sĩ chẩn đoán là mình bị ung thư trực tràng, ung thư ruột già , ung thư gan, hay ung thư tuỵ tạng.. chúng ta cũng nên biết những loại vi sinh sau đây có tác dụng diệt tế bào ung thư theo các kết quả nghiên cứu lâm sàng để chọn thêm thuốc bổ sung vi sinh tốt thích hợp nếu muốn (Karolina Kazmierczak-Siedlecka et al. , 2020; Nicoletti A., Pompili M. […] and Ponziani, F.R. , 2019):
  • Ung thư trực tràng, ruột già:

L. rhamnosus, Bifidobacterium adolescentis, Lactobacillus casei, L. acidophilus, Bacillus polyfermenticus , Bifidobacterium animalis

  • Ung thư bao tử:

B. bifidum, L. acidophilus, L. rhamnosus, L. salivarius, B. lactis, B. animalis , L. casei, L. reuteri, B. breve, Bacillus subtilus. L. gasseri.

  • Ung thư tuỵ tạng.

L. Plantarum, B. longum, L. bulgaricusS. thermophilus, L. paracasei.

  • Ung thư gan:: L. rhamnosus, B. subtilis, Bacillus coagulans (Javanmard A. et al , 2018).

Xin lưu ý:

Tài liệu này chỉ có mục tiêu thông tin chứ không thay thế sự chỉ dẫn của bác sĩ chăm sóc sức khoẻ cho bạn.

Tham khảo:

Coussens, M.L. & Werb, Z. (2002). Inflammation and cancer. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2803035/pdf/nihms163568.pdf

Greger, M. (2012). Dead Meat Bacteria Endotoxemia. NutritionFacts.org

Globalcan 2020. WHO. https://gco.iarc.fr/today/data/factsheets/cancers/40-All-cancers-excluding-non-melanoma-skin-cancer-fact-sheet.pdf

Hyman, M. (2016) Why oil is bad for you. https://drhyman.com/blog/2016/01/29/why-oil-is-bad-for-you/

Karolina Kazmierczak-Siedlecka et al. (2020). Gastrointestinal cancers: the role of microbiota in carcinogenesis and the role of probiotics and microbiota in anti-cancer therapy efficacy. Cent Eur Immunol. 2020. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7882408/

Krishnan, K. (2020). Microbiome and Your Parasympathetic State. Parasymnpathetic Summit 2020 etranscript. Pages 217-230

Javanmard A. et al (2018). Probiotics and their role in gastrointestinal cancers prevention and treatment; an overview. Gastroenterology and Hepatology From Bed to Bench. ©2018 RIGLD, Research Institute for Gastroenterology and Liver Diseases https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6204245/pdf/GHFBB-11-284.pdf

Minich, D. (2017) What you need to know about a high-fat diet. Huffpost. https://www.huffingtonpost.com/entry/what-you-need-to-know-about-a-high-fat-diet_us_595f22c4e4b0cf3c8e8d57b0

Monda, V. et al (2017). Exercise Modifies the Gut Microbiota with Positive Health Effects. Oxidative Medicine and Cellular Longevity. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5357536/

Morea, J. (2017). Is Gut Health The Key To A Good Night’s Sleep?Take care of the friendly flora within to help get the sleep you need. Thrive Global. https://medium.com/thrive-global/is-gut-health-the-key-to-a-good-nights-sleep-414e9e7df545

Nicoletti A., Pompili M. […] and Ponziani, F.R. (2019) Going with the gut: probiotics as a novel therapy for hepatocellular carcinoma. Hepatobiliary Surg Nutr. 2019 June: 8(3): 295-297. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6561884/

Patterson, E., Wall, R., Fitzegerald, G.F., Ross, R.P. & Stanton, C. (2012). Health Implications of High Dietary Omega-6 Polyunsaturated Fatty Acids. Review Article. Journal of Nutrition and Metabolism. Volume 2012, Article ID 539426, 16 pages. http://dx.doi.org/10.1155/2012/539426

Shea, T. (2020). The power behind diversity of plants. Foodnerd.

Sifferlin , A. (2018). The 10 best and worst Oils for your health. Time. http://time.com/5342337/best-worst-cooking-oils-for-your-health/

Wassermann B., Müller H., Berg G. (2019) Front. Microbiol., 24 July 2019 | https://doi.org/10.3389/fmicb.2019.01629

 

 

 

 

 

Quả me ngọt: giảm đường máu và bảo vệ sức khoẻ tuyệt vời ( Amazing Tamarind for diabetes and overall health)

 

Quả me: thức ăn trị tiểu đường giảm đường máu và bảo vệ sức khoẻ tuyệt vời, kể cả tim mạch, huyết áp, máu mỡ, rối loạn tiêu hoá, lỡ bao tử, táo bón, tiêu chảy, kiết lỵ, trĩ nội ngoại, trị viên khớp, trị loãng xương, hệ miễn nhiễm và triêu chứng quá mập.

Ngày 12 tháng 9 năm 2020, TS Kỹ sư Thanh, trong nhóm Cựu Sinh Viên Việt nam ở New Zealand trước 1975, chia sẻ kinh nghiệm tình cờ uống nước me như sau (dịch từ nguyên văn tiếng Anh):

“ Bốn ngày trước đây, tôi uống một ly nước trái cây làm từ trái me ngọt. Mùi vị cũng được và tôi không nghĩ đến chuyện đó nữa cho tới khi đo lượng đường trong máu và để ý thấy mức đường máu giảm từ 140 xuống 96 mg/dL. Tôi sững sờ và bắt đầu lên mạng internet tìm hiểu thêm về trái me. Kinh ngạc với những gì tôi tìm ra, tôi quyết định ngừng uống Metformin, là thuốc tiểu đường tôi thường phải uống 2000mg mỗi ngày, và thay thế bằng nước trái me. Mức đường máu của tôi trung bình là 130 mg/dL từ đó.”

Bà Hienvy chia sẻ lại thông tin này trên facebook. Anh (hay em trai) bà thử làm theo và lượng đường máu của ông ta giảm xuống một cách tuyệt vời. (Hien Vy posted this information on her facebook. Her brother tried them and his sugar has dropped to an amazing level)

Một bà khác viết lời bình luận trên Facebook của Hien Vy như sau:
“ mình làm nước me cho ông xã uống được 3 ngày thì thấy có kết quả lắm, khi trước có thuốc nhưng vẫn cứ 170, 180 và ngày rồi thì 140, 130 và hôm nay 110. Cảm ơn chị nhiều”

Đó là kinh nghiệm và thông tin tuyệt vời cho những người đang khổ sở vì tiểu đường. That is wonderful news for those of us suffering from diabetes.
(For non Vietnamese readers please read the benefits of sweet tamarind at https://www.livestrong.com/article/516215-the-benefits-of-sweet-tamarind  on change to English at language button)

Điều đáng ngạc nhiên là công dụng trị tiểu đường không được phổ biến rộng rãi trên mạng internet.

Đặc biệt, công dụng này không được đề cập trong các trang mạng và sách vở y học Viêt nam. Theo trang mạng thầy thuốc của bạn thì Viêt nam chỉ dùng trái me để giải nắng, giúp tiêu hoá, lợi trung tiện và nhuận tràng (Việt nam). Ở Thái lan người ta chỉ dùng trái me để Trị bệnh rối lọan mật, sốt rét, giúp tiêu hoá. Còn ở Trung Quốc thì trái me chỉ được dùng trị viêm dạ dày mạn tính, thực tích, tiêu hoá không bình thường, đau khối cục ờ bụng, đàm ấm, nôn mửa khi có thai, trẻ con cam tích, bệnh giun đũa, dự phòng trúng nắng. (https://amp.thaythuocuaban.com/vithuoc/me.htm) và (https://caythuoc.org/cong-dung-cua-qua-me.html)
Tuy nhiên, trong trang mạng y học Ấn độ https://www.ayurvedum.com /6-tamarind-benefits-health/ giảm đường máu được nêu là một công dụng của me và người Ấn độ đã từng dùng me để kiểm soát đường máu.

Nhiều công trình nghiên cứu y khoa về dược tính và thành phần dinh dưỡng của me đã được thực hịện.

Làm sao me ngọt giúp trị tiểu đường:

Theo báo cáo trong Tập san Báo cáo khoa học (Scientific Reports) tháng 6 năm 2015, Me có tính chống viêm rất mạnh và chống oxit hoá, rất có ích cho những người bị tiểu đường. Chuyên gia dinh dưỡng Casey Seiden ở New York xác nhận “Trái me có dồi dào chất dinh dưỡng rất bổ ích cho đường máu như magnesium, thiết yếu cho việc điều hoà đường máu vì làm tăng độ nhạy insulin. Trái me còn chứa nhiều potassium và hợp chất polyphenol như flavonoid, cả hai đều quan trọng giúp chống viêm , chống oxit hoá và cải thiện chức năng tim mạch (Kerr, 2019; Kuru, 2014). Kết quả nghiên cứu trên chuột cho thấy chất flavonoid và polyphenol trong me giúp phục hồi “tế bào beta” trong lá lách bị hư hại, nhờ đó tăng sản suất insulin, cải thiện hấp thụ đường trong cơ thể và giảm đường máu. (Sole & Srinivasan, 2012). Có lẽ nhờ cơ chế này mà công hiệu trị tiểu đường của Me bền lâu.

Thêm vào đó, me ngọt có chỉ số đường huyết thấp (low glycemic index). Ngọt nhưng me ngọt có mức glucose thấp và không thay đổi theo thời gian. Vì vậy các nhà nghiên cứu kết luận rằng me ngọt là một trong những lựa chọn tốt nhất cho những người có mức đường huyết bất bình thường không kiểm soát được. (Passos et al, Food and Science Technology , 2015)

Kết qủa nghiên cứu hoá chất thực vật cho thấy trái me là môt thức ăn rất bổ dưỡng, chứa nhiều carb, hầu hết chất đạm thiết yếu và dồi dào vitamin (nhất là vitamin B) cũng như khoáng chất quan trọng cho sức khoẻ. Sau đây là những lợi ích khác cho sức khoẻ khi ăn thường xuyên me ngọt:

Giúp xương rắn chất không bị loãng: Me ngọt có dồi dào magnesium, potassium, Phốt pho, và nhiều khoáng chất quan trọng cho xương như can xi, đồng, sắt và kẽm. Vì vậy ăn me đều đều sẽ giúp xương rắn chắc, mạnh và tránh được nạn loãng xương khi về già. (Kerr, 2019)

Cải thiện tiêu hoá.
Nhờ có nhiều chất xơ, và những hợp chất polyphenols chủ yếu là procyanidin, epicatechin and polymeric tannins, chống viêm, chống oxy hoá nên me ngọt giúp cải thiện tiêu hoá, trị rối loạn tiêu hoá (IBS), chống táo bón, tiêu chảy, kiết lỵ (dysentery), chống trỉ (piles), trị lỡ loét bao tử (peptic ulcer) và ngăn ngừa ung thư ruột già. Axit malic, axit tartaric và potassium trong me ngọct giúp nhuận trường. (Kerr, 2019)

Tăng cường hệ miễn nhiễm:
Với nhiều hợp chất polyphenol, vitamin C, betacarotne, vitamin là những chất chống oxy hoá, cộng thêm chất chống viêm và kháng sinh, Me ngọt giúp tăng cường hệ miễn nhiễm, bảo vệ cơ thể tránh được nhiều bệnh mãn tính và cảm cúm (Kerr, 2019)

Bảo vệ tim mạch, điều hoà huyết áp:
Me ngọt chứa can xi, magnesium, và potassium là những khoáng chất cần thiết để bảo vệ tim và điều hoà huyết áp.
• Can xi giúp mạch máu thu trương theo nhu cầu và giúp ngừa cao huyết áp. Me ngọt là nguồn can xi tốt hơn hầu hết các trái cây khác.
• Magnesium trong me ngọt không những giúp điều tiết hàng trăm hệ thống hệ thống cơ thể, kể cả huyết áp, đường máu, chức năng cơ bắp và thần kinh, mà còn cần có để giúp mạch máu thư giãn. Tim là bộ phận cần magnesium nhiều nhất. Thiếu magnesium tim không hoạt động đúng chức năng được.
• Potassium trong me ngọt giúp bảo trì cân bằng chất lỏng trong cơ thể, tức là yếu tố ảnh hưởng huyết áp. Nó cũng cần trong cho cơ bắp làm việc, kể cả thư giãn thành ống mạch máu. Ngoài ra, potassium cần có mặt để chuyển tin giữa óc và tim để tránh nhịp tim bị rối loạn. (Kerr, 2019)

Giảm mỡ máu
Ăn me ngọt giúp giảm mức máu mỡ xấu (LDP cholesterol) và mỡ triglyceride nên cải thiện mạch máu hổ trợ tim. Nghiên cứu trên chuột thí nghiệm gợi ý là me chứa những chất đạm có khả năng chế hoá mỡ và giúp bảo vệ tim, đồng thời chất xơ trong me làm giảm múc hấp thụ cholesterol vào máu. (Lim et al, 2018)

Giảm đau, chống viêm cải thiện viêm khớp
Theo báo cáo kiểm kê các nghiên cứu về dược tính chống viêm và giảm đau trên báo Integr Med Res tháng 9 năm 2019, kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng chứng minh rằng việc dùng me để trị đau nhức trong cơ thể và chống những bịnh do viêm gây nên như thấp khớp (arthritis) là có cơ sở khoa học. Công hiệu này có thể là nhờ me chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học (bioactive compounds) khác nhau gồm cả alkaloids, flavonoids, tannins, phenols, saponins, and steroids.
Đặc biệt, hột me có công dụng đảo ngược và ngăn cản sự hư hại xương và sụn do viêm khớp gây ra. (Sandaram et al, 2015)

Giảm mỡ giúp kiểm soát chống bệnh lên cân quá mức.

Một số nghiên cứu cho biết me ngọt có thể giúp chống (trị) triệu chứng lên cân quá mức và có thê giảm cân. Đặc biệt hột me có thể chứa một hợp chất ức chế được trypsin, một enzyme phân hoá (breakdown) chất đạm (Carvalho et al., 2016) Người ta thí nghiệm cho thấy hợp chất này trong hạt me làm giảm cân chuột nhờ giúp chúng ăn bớt đi (Ribeiro et al, 2015)

Với những lợi ích tuyệt vời như trên của me ngọt, người nào ăn me ngọt thường xuyên chắc sẽ lúc nào cũng khoẻ mạnh, không hề bịnh tật. Bà H. Vy được đề cập ở phần đầu đã nói rằng: “Tôi ưa thích me ngọt và có thể ăn mỗi lần cả hộp me. Không biết có phải vậy mà đến tuổi này (67) tôi chưa phải uống viên thuốc nào cả”.

Xin cẩn thận.
Nếu đang dùng thuốc theo toa bác sĩ, nhất la thuốc loãng máu, thuốc chống viêm, thuốc tiểu đường, thuốc giảm đau, chúng ta cần hỏi ý kiến hay thông báo cho bác sĩ trước khi dùng thức ăn thiên nhiên như me ngọt để trị bịnh. Bác sĩ có thể phải theo dõi để giảm thuốc.
Thứ hai, ăn hay uống quá mức cái gì kể cả me ngọt, nước lạnh, vitamin… cũng không có lợi cho sức khoẻ. Nếu ăn me ngọt chúng ta cũng chỉ nên ăn vừa phải (4-5 trái một ngày) nhưng đều đặn thì có lợi tốt nhất.

Mua me ngọt ở đâu.
Ở Mỹ và Viêt nam , Me ngọt chắc không khó tìm.
Đây là thứ me ngọt của Thái lan có bán ở Mỹ
Riêng ở NZ thì có thể mua sweet dried tamarind online ở https://www.asiangrocer.co.nz/product/409-dried-tamarind-sweet-seedless-hoshi-150g

Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục tiêu thông tin chứ không thay thế chỉ dẫn của bác sĩ chăm sóc quý bạn.

Tham khảo:

Carvalho F. et al (2016). A Trypsin Inhibitor from Tamarind Reduces Food Intake and Improves Inflammatory Status in Rats with Metabolic Syndrome Regardless of Weight Loss. Nutrients. https://www.mdpi.com/2072-6643/8/10/544

Kerr, G. (2019). The benefits of sweet tamarind. Livestrong.com https://www.livestrong.com/article/516215-the-benefits-of-sweet-tamarind/

Komakech, R., Kim, Y., Matsabisa, G.B. & Kang, Y. Anti-inflammatory and analgesic potential of Tamarindus indica Linn. (Fabaceae): a narrative review. Integr Med Res. 2019 Sep;8(3):181-186. doi: 10.1016/j.imr.2019.07.002. Epub 2019 Jul 23.

Kuru, P. (2014) Tamarindus indica and its health related effects. Asian Pacific Journal of Tropical Biomedicine. Volume 4, Issue 9, September 2014, Pages 676-681
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2221169115300885#bib25

Lim, C.Y. et al (2018) The hypolipidemic effects of Tamarindus indica fruit pulp extract in normal and diet‐induced hypercholesterolemic hamsters are associated with altered levels of serum proteins. Electrophoresis. Analytical Science Advances. https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1002/elps.201800258
https://doi.org/10.1002/elps.201800258

Passos et al (2015) . Glycemic index and glycemic load of tropical fruits and the potential risk for chronic diseases. Food Sci. Technol (Campinas) vol.35 no.1 Campinas Jan./Mar. 2015.
https://doi.org/10.1590/1678-457X.6449

Ribeiro et al (2015) Trypsin inhibitor from tamarindus indica L. seeds reduces weight gain and food consumption and increases plasmatic cholecystokinin levels. Clinics ( Sao Paulo)
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/25789523/

Sandaram et al (2015). Tamarind Seed (Tamarindus indica) Extract Ameliorates Adjuvant-Induced Arthritis via Regulating the Mediators of Cartilage/Bone Degeneration, Inflammation and Oxidative Stress. [Abstract] Sci Rep. 2015. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/26059174/

Sole, S.S. & Srinivasan, B.P. (2012) Aqueous extract of tamarind seeds selectively increases glucose transporter-2, glucose transporter-4, and islets’ intracellular calcium levels and stimulates β-cell proliferation resulting in improved glucose homeostasis in rats with streptozotocin-induced diabetes mellitus. Nutrition Research
Volume 32, Issue 8, August 2012, Pages 626-636.