Quả me ngọt: giảm đường máu và bảo vệ sức khoẻ tuyệt vời ( Amazing Tamarind for diabetes and overall health)

 

Quả me: thức ăn trị tiểu đường giảm đường máu và bảo vệ sức khoẻ tuyệt vời, kể cả tim mạch, huyết áp, máu mỡ, rối loạn tiêu hoá, lỡ bao tử, táo bón, tiêu chảy, kiết lỵ, trĩ nội ngoại, trị viên khớp, trị loãng xương, hệ miễn nhiễm và triêu chứng quá mập.

Ngày 12 tháng 9 năm 2020, TS Kỹ sư Thanh, trong nhóm Cựu Sinh Viên Việt nam ở New Zealand trước 1975, chia sẻ kinh nghiệm tình cờ uống nước me như sau (dịch từ nguyên văn tiếng Anh):

“ Bốn ngày trước đây, tôi uống một ly nước trái cây làm từ trái me ngọt. Mùi vị cũng được và tôi không nghĩ đến chuyện đó nữa cho tới khi đo lượng đường trong máu và để ý thấy mức đường máu giảm từ 140 xuống 96 mg/dL. Tôi sững sờ và bắt đầu lên mạng internet tìm hiểu thêm về trái me. Kinh ngạc với những gì tôi tìm ra, tôi quyết định ngừng uống Metformin, là thuốc tiểu đường tôi thường phải uống 2000mg mỗi ngày, và thay thế bằng nước trái me. Mức đường máu của tôi trung bình là 130 mg/dL từ đó.”

Bà Hienvy chia sẻ lại thông tin này trên facebook. Anh (hay em trai) bà thử làm theo và lượng đường máu của ông ta giảm xuống một cách tuyệt vời. (Hien Vy posted this information on her facebook. Her brother tried them and his sugar has dropped to an amazing level)

Một bà khác viết lời bình luận trên Facebook của Hien Vy như sau:
“ mình làm nước me cho ông xã uống được 3 ngày thì thấy có kết quả lắm, khi trước có thuốc nhưng vẫn cứ 170, 180 và ngày rồi thì 140, 130 và hôm nay 110. Cảm ơn chị nhiều”

Đó là kinh nghiệm và thông tin tuyệt vời cho những người đang khổ sở vì tiểu đường. That is wonderful news for those of us suffering from diabetes.
(For non Vietnamese readers please read the benefits of sweet tamarind at https://www.livestrong.com/article/516215-the-benefits-of-sweet-tamarind  on change to English at language button)

Điều đáng ngạc nhiên là công dụng trị tiểu đường không được phổ biến rộng rãi trên mạng internet.

Đặc biệt, công dụng này không được đề cập trong các trang mạng và sách vở y học Viêt nam. Theo trang mạng thầy thuốc của bạn thì Viêt nam chỉ dùng trái me để giải nắng, giúp tiêu hoá, lợi trung tiện và nhuận tràng (Việt nam). Ở Thái lan người ta chỉ dùng trái me để Trị bệnh rối lọan mật, sốt rét, giúp tiêu hoá. Còn ở Trung Quốc thì trái me chỉ được dùng trị viêm dạ dày mạn tính, thực tích, tiêu hoá không bình thường, đau khối cục ờ bụng, đàm ấm, nôn mửa khi có thai, trẻ con cam tích, bệnh giun đũa, dự phòng trúng nắng. (https://amp.thaythuocuaban.com/vithuoc/me.htm) và (https://caythuoc.org/cong-dung-cua-qua-me.html)
Tuy nhiên, trong trang mạng y học Ấn độ https://www.ayurvedum.com /6-tamarind-benefits-health/ giảm đường máu được nêu là một công dụng của me và người Ấn độ đã từng dùng me để kiểm soát đường máu.

Nhiều công trình nghiên cứu y khoa về dược tính và thành phần dinh dưỡng của me đã được thực hịện.

Làm sao me ngọt giúp trị tiểu đường:

Theo báo cáo trong Tập san Báo cáo khoa học (Scientific Reports) tháng 6 năm 2015, Me có tính chống viêm rất mạnh và chống oxit hoá, rất có ích cho những người bị tiểu đường. Chuyên gia dinh dưỡng Casey Seiden ở New York xác nhận “Trái me có dồi dào chất dinh dưỡng rất bổ ích cho đường máu như magnesium, thiết yếu cho việc điều hoà đường máu vì làm tăng độ nhạy insulin. Trái me còn chứa nhiều potassium và hợp chất polyphenol như flavonoid, cả hai đều quan trọng giúp chống viêm , chống oxit hoá và cải thiện chức năng tim mạch (Kerr, 2019; Kuru, 2014). Kết quả nghiên cứu trên chuột cho thấy chất flavonoid và polyphenol trong me giúp phục hồi “tế bào beta” trong lá lách bị hư hại, nhờ đó tăng sản suất insulin, cải thiện hấp thụ đường trong cơ thể và giảm đường máu. (Sole & Srinivasan, 2012). Có lẽ nhờ cơ chế này mà công hiệu trị tiểu đường của Me bền lâu.

Thêm vào đó, me ngọt có chỉ số đường huyết thấp (low glycemic index). Ngọt nhưng me ngọt có mức glucose thấp và không thay đổi theo thời gian. Vì vậy các nhà nghiên cứu kết luận rằng me ngọt là một trong những lựa chọn tốt nhất cho những người có mức đường huyết bất bình thường không kiểm soát được. (Passos et al, Food and Science Technology , 2015)

Kết qủa nghiên cứu hoá chất thực vật cho thấy trái me là môt thức ăn rất bổ dưỡng, chứa nhiều carb, hầu hết chất đạm thiết yếu và dồi dào vitamin (nhất là vitamin B) cũng như khoáng chất quan trọng cho sức khoẻ. Sau đây là những lợi ích khác cho sức khoẻ khi ăn thường xuyên me ngọt:

Giúp xương rắn chất không bị loãng: Me ngọt có dồi dào magnesium, potassium, Phốt pho, và nhiều khoáng chất quan trọng cho xương như can xi, đồng, sắt và kẽm. Vì vậy ăn me đều đều sẽ giúp xương rắn chắc, mạnh và tránh được nạn loãng xương khi về già. (Kerr, 2019)

Cải thiện tiêu hoá.
Nhờ có nhiều chất xơ, và những hợp chất polyphenols chủ yếu là procyanidin, epicatechin and polymeric tannins, chống viêm, chống oxy hoá nên me ngọt giúp cải thiện tiêu hoá, trị rối loạn tiêu hoá (IBS), chống táo bón, tiêu chảy, kiết lỵ (dysentery), chống trỉ (piles), trị lỡ loét bao tử (peptic ulcer) và ngăn ngừa ung thư ruột già. Axit malic, axit tartaric và potassium trong me ngọct giúp nhuận trường. (Kerr, 2019)

Tăng cường hệ miễn nhiễm:
Với nhiều hợp chất polyphenol, vitamin C, betacarotne, vitamin là những chất chống oxy hoá, cộng thêm chất chống viêm và kháng sinh, Me ngọt giúp tăng cường hệ miễn nhiễm, bảo vệ cơ thể tránh được nhiều bệnh mãn tính và cảm cúm (Kerr, 2019)

Bảo vệ tim mạch, điều hoà huyết áp:
Me ngọt chứa can xi, magnesium, và potassium là những khoáng chất cần thiết để bảo vệ tim và điều hoà huyết áp.
• Can xi giúp mạch máu thu trương theo nhu cầu và giúp ngừa cao huyết áp. Me ngọt là nguồn can xi tốt hơn hầu hết các trái cây khác.
• Magnesium trong me ngọt không những giúp điều tiết hàng trăm hệ thống hệ thống cơ thể, kể cả huyết áp, đường máu, chức năng cơ bắp và thần kinh, mà còn cần có để giúp mạch máu thư giãn. Tim là bộ phận cần magnesium nhiều nhất. Thiếu magnesium tim không hoạt động đúng chức năng được.
• Potassium trong me ngọt giúp bảo trì cân bằng chất lỏng trong cơ thể, tức là yếu tố ảnh hưởng huyết áp. Nó cũng cần trong cho cơ bắp làm việc, kể cả thư giãn thành ống mạch máu. Ngoài ra, potassium cần có mặt để chuyển tin giữa óc và tim để tránh nhịp tim bị rối loạn. (Kerr, 2019)

Giảm mỡ máu
Ăn me ngọt giúp giảm mức máu mỡ xấu (LDP cholesterol) và mỡ triglyceride nên cải thiện mạch máu hổ trợ tim. Nghiên cứu trên chuột thí nghiệm gợi ý là me chứa những chất đạm có khả năng chế hoá mỡ và giúp bảo vệ tim, đồng thời chất xơ trong me làm giảm múc hấp thụ cholesterol vào máu. (Lim et al, 2018)

Giảm đau, chống viêm cải thiện viêm khớp
Theo báo cáo kiểm kê các nghiên cứu về dược tính chống viêm và giảm đau trên báo Integr Med Res tháng 9 năm 2019, kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng chứng minh rằng việc dùng me để trị đau nhức trong cơ thể và chống những bịnh do viêm gây nên như thấp khớp (arthritis) là có cơ sở khoa học. Công hiệu này có thể là nhờ me chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học (bioactive compounds) khác nhau gồm cả alkaloids, flavonoids, tannins, phenols, saponins, and steroids.
Đặc biệt, hột me có công dụng đảo ngược và ngăn cản sự hư hại xương và sụn do viêm khớp gây ra. (Sandaram et al, 2015)

Giảm mỡ giúp kiểm soát chống bệnh lên cân quá mức.

Một số nghiên cứu cho biết me ngọt có thể giúp chống (trị) triệu chứng lên cân quá mức và có thê giảm cân. Đặc biệt hột me có thể chứa một hợp chất ức chế được trypsin, một enzyme phân hoá (breakdown) chất đạm (Carvalho et al., 2016) Người ta thí nghiệm cho thấy hợp chất này trong hạt me làm giảm cân chuột nhờ giúp chúng ăn bớt đi (Ribeiro et al, 2015)

Với những lợi ích tuyệt vời như trên của me ngọt, người nào ăn me ngọt thường xuyên chắc sẽ lúc nào cũng khoẻ mạnh, không hề bịnh tật. Bà H. Vy được đề cập ở phần đầu đã nói rằng: “Tôi ưa thích me ngọt và có thể ăn mỗi lần cả hộp me. Không biết có phải vậy mà đến tuổi này (67) tôi chưa phải uống viên thuốc nào cả”.

Xin cẩn thận.
Nếu đang dùng thuốc theo toa bác sĩ, nhất la thuốc loãng máu, thuốc chống viêm, thuốc tiểu đường, thuốc giảm đau, chúng ta cần hỏi ý kiến hay thông báo cho bác sĩ trước khi dùng thức ăn thiên nhiên như me ngọt để trị bịnh. Bác sĩ có thể phải theo dõi để giảm thuốc.
Thứ hai, ăn hay uống quá mức cái gì kể cả me ngọt, nước lạnh, vitamin… cũng không có lợi cho sức khoẻ. Nếu ăn me ngọt chúng ta cũng chỉ nên ăn vừa phải (4-5 trái một ngày) nhưng đều đặn thì có lợi tốt nhất.

Mua me ngọt ở đâu.
Ở Mỹ và Viêt nam , Me ngọt chắc không khó tìm.
Đây là thứ me ngọt của Thái lan có bán ở Mỹ
Riêng ở NZ thì có thể mua sweet dried tamarind online ở https://www.asiangrocer.co.nz/product/409-dried-tamarind-sweet-seedless-hoshi-150g

Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục tiêu thông tin chứ không thay thế chỉ dẫn của bác sĩ chăm sóc quý bạn.

Tham khảo:

Carvalho F. et al (2016). A Trypsin Inhibitor from Tamarind Reduces Food Intake and Improves Inflammatory Status in Rats with Metabolic Syndrome Regardless of Weight Loss. Nutrients. https://www.mdpi.com/2072-6643/8/10/544

Kerr, G. (2019). The benefits of sweet tamarind. Livestrong.com https://www.livestrong.com/article/516215-the-benefits-of-sweet-tamarind/

Komakech, R., Kim, Y., Matsabisa, G.B. & Kang, Y. Anti-inflammatory and analgesic potential of Tamarindus indica Linn. (Fabaceae): a narrative review. Integr Med Res. 2019 Sep;8(3):181-186. doi: 10.1016/j.imr.2019.07.002. Epub 2019 Jul 23.

Kuru, P. (2014) Tamarindus indica and its health related effects. Asian Pacific Journal of Tropical Biomedicine. Volume 4, Issue 9, September 2014, Pages 676-681
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2221169115300885#bib25

Lim, C.Y. et al (2018) The hypolipidemic effects of Tamarindus indica fruit pulp extract in normal and diet‐induced hypercholesterolemic hamsters are associated with altered levels of serum proteins. Electrophoresis. Analytical Science Advances. https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1002/elps.201800258
https://doi.org/10.1002/elps.201800258

Passos et al (2015) . Glycemic index and glycemic load of tropical fruits and the potential risk for chronic diseases. Food Sci. Technol (Campinas) vol.35 no.1 Campinas Jan./Mar. 2015.
https://doi.org/10.1590/1678-457X.6449

Ribeiro et al (2015) Trypsin inhibitor from tamarindus indica L. seeds reduces weight gain and food consumption and increases plasmatic cholecystokinin levels. Clinics ( Sao Paulo)
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/25789523/

Sandaram et al (2015). Tamarind Seed (Tamarindus indica) Extract Ameliorates Adjuvant-Induced Arthritis via Regulating the Mediators of Cartilage/Bone Degeneration, Inflammation and Oxidative Stress. [Abstract] Sci Rep. 2015. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/26059174/

Sole, S.S. & Srinivasan, B.P. (2012) Aqueous extract of tamarind seeds selectively increases glucose transporter-2, glucose transporter-4, and islets’ intracellular calcium levels and stimulates β-cell proliferation resulting in improved glucose homeostasis in rats with streptozotocin-induced diabetes mellitus. Nutrition Research
Volume 32, Issue 8, August 2012, Pages 626-636.

 

 

 

Phòng chống Covid-19 bằng tỏi vitamin C và sửa chua yogurt tươi

Nhìn thống kê nhiễm bệnh và tử vong vì Covid-19, chúng ta thấy tỉ lệ nhiễm bệnh và tử vong từ nước này sang nước khác, từ bang này sang bang khác không giống nhau. Trong khi tỉ lệ tử vong trung bình trên thế giới đến ngày 21 tháng 8 là 3.5% thì quốc gia có tỉ lệ tử vong / nhiễm bịnh cao nhất có lẽ là Ý (13.8%) kế đến là Pháp (13.1%) và Anh (12.6%). Thấp nhất có lẽ là Singapore (0.04%). Các nuớc Đông Nam Á tương đối có tỉ lệ tử vong khá thấp so với các nước Âu tây. Tỉ lệ tử vong trung bình ở Mỹ là 3.1% mặc dầu tỉ lệ giữa các bang rất khác nhau, như 8.3% ở New Jersey, 7.2% ở New York và 1.8% ở Cali.

Một lý do chính ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm bệnh và tỉ lệ tử vong là khả năng miễn nhiễm của dân chúng. Điều đáng ngạc nhiên là tất cả nỗ lực đều dồn vào việc tìm thuốc chủng ngừa Covid-19 trong khi không thấy ai trên hệ thống truyền thông chính đề cập đến nhu cầu tăng cường khả năng miễn nhiễm của dân chúng.

Trong khung cảnh này, tốt nhất là mỗi người chúng ta phải tự lo tăng cường khả năng miễn nhiễm chống bệnh cho mình, để gíup mình ít có nguy nhiễm covid-19 nếu có tiếp xúc với người bịnh. Hoặc nếu có bị lây nhiễm thì cũng chống được và nhanh chóng khỏi bịnh.

Theo kết quả công trình nghiên cứu của 16 khoa học gia Việt nam thuộc 10 Đại học trong nước ( Bui thi Phuong Thuy et al, 2020) đăng trên ACS Omega ngày 31 tháng 3 năm 2020, tỏi với 17 hợp chất organosulfur là một nguồn dược liệu tự nhiên quý giá chống vi khuẩn SARS-CoV-2 (hay Covid-19). Công trình nghiên cứu này phát hiện những hợp chất organosulfur trong tỏi có tác dụng ức chế (inhibit) các thụ thể ACE2 (ACE2 receptor) của các tế bào cơ thể. Thụ thể (hay trạm tiếp thu) ACE2 là cửa ngỏ chính cho vi khuẩn Covid 19 nhiễm vào cơ thể. Khi ACE2 bị ức chế thì Covid-19 không thể nhiễm vào cơ thể.

Trước đây cũng đã có nhiều nghiên cứu thử nghiệm chứng minh tỏi có tác dụng ngừa chống cảm cúm (đặc biệt vi khuẩn influenza B, herpes loại 1, loại 2, virut rhino và Coxsackie), cảm lạnh, ngừa ung thư, giảm huyết áp, thông mạch máu. Ngoài ra đã có thử nghiệm lâm sàng tại Nga cho thấy bột tỏi còn giúp ngừa chứng khó thở cấp tính ở trẻ em. (Sobenin et al, 2011)

Vì vậy, chúng ta có thể phòng chống covid-19 một cách hữu hiệu bằng cách ăn tỏi mỗi ngày, hoặc uống 1 muỗng canh hổn hợp tỏi gừng chanh dấm táo và mật ong để vừa chống ngừa vovid-19, vừa bảo vệ tim mạch, huyết áp, cảm cúm và tiểu đường (xin xem cách nấu ) http://www.yhoctunhien.online/bai-thuoc-toi-gung-chanh-dam-tao-va-mat-ong-thong-tim-mach/

Thêm vào đó, nếu mỗi ngày cơ thể được bồi dưỡng đầy đủ vitamin C qua thức ăn rau quả hoặc thuốc bổ sung vitamin C cơ thể có khả năng phục hồi nhanh chóng khi bị nhiễm trùng/ khuẩn vì vitamin C tăng khả năng miễn nhiễm (Carr & Maggini, 2017)

Chúng ta, nhất là những người lớn tuổi cũng cần giúp cơ thể tăng thêm sức đề kháng vi khuẩn covid -19 bằng cách ăn nhiều (120 ml trở lên) yogurt tươi mỗi ngày (Daniells, 2017; Lee et al, 2017)

Xin lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay chỉ dẫn của bác sĩ.

Tham khảo

Bui Thi Phuong Thuy et al. (2020). Investigation into SARS-CoV-2 Resistance of Compounds in Garlic Essential Oil. CS Omega 2020, 5, 14, 8312–8320Publication Date: March 31, 2020
https://doi.org/10.1021/acsomega.0c00772

Carr & Maggini (2017). Vitamin C and Immune Function. Nutrients https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5707683/

Daniells (2017). Study supports probiotic yogurt’s immune boosting effects. Dairy Reporter.com https://www.dairyreporter.com/Article/2017/06/13/Study-supports-probiotic-yogurt-s-immune-boosting-effects

G. Gebreyohannes and M. Gebreyohannes (2013) Medicinal values of garlic: A review. AcademicJournals. https://www.academia.edu/31197554/Medicinal_values_of_garlic_A_review_International_Journal_of_Medicine_and_Medical_Sciences

Sobenin et al (2011). THE EFFECTS OF TIME-RELEASED GARLIC POWDER TABLETS ON ACUTE RESPIRATORY DISEASES IN CHILDREN. Medical and Health Science Journal

Click to access 201110312159_05_MHSJ_Vol9_Issue5_Sobenin_et_al_Garlic_tablets_acute_respiratory_diseases_pp.31-37.pdf

 

Cập nhật cách phục hồi trí nhớ – Bằng thuốc bổ sung vi sinh đường ruột (Probiotics)

Tuần rồi tôi nghiên cứu xem probiotics có thể giải quyết bịnh dị ứng, bệnh mất ngủ, nhức đầu không. Kết quả rất đáng khich lệ.
Tôi mới nghĩ: như vậy probiotics chắc có thể giúp phục hồi trí nhớ.
Tôi tìm kiếm và đúng y như mình nghĩ..
Đã có thử nghiệm lâm sàng cho thấy probiotics có công hiệu phục hồi trí nhớ 28 % chỉ sau 12 tuần khi 30 trong 60 người bị Alzheimer’s nặng ( trí nhớ chỉ còn 8.5/30 theo tiểu trắc nghiệm tình trạng tinh thần – mini-mental state exam) trong khi 30 người không uống probiotics thì suy sụp thêm 5% trí não. Họ chỉ dùng 4 dòng ( strains ) Lactobacillus acidophillus, L. Casei, L. Fermentum và Bifidobacterium Bifidum mỗi thứ 2 billion CFU mà kết quả đã tốt như vậy.

Vì vậy tôi xin cập nhật cẩm nang phục hồi trí nhớ, đưa biện pháp uống probiotics lên hàng đầu.
Xin quý bạn bỏ cẩm nang hôm trước , rồi dùng và phổ biến cẩm nang mới này.
Trong cẩm nang mới có link tới báo cáo kết quả thử nghiệm trên nếu quý bạn muốn xem. Dưới đây là Bài Cách Phục Hồi Trí nhớ bằng dinh dưỡng dưới dạng PDF:

CÁCH PHỤC HỒI TRÍ NHỚ – BẰNG DINH DƯỠNG ( Cho Bệnh nhân Alzheimer’s)-

Càng ngày càng nhiều người trên thế giới bị bịnh mất trí nhớ, nhất là người lớn tuổi. Chế độ ăn uống và sinh hoạt thiếu lành mạnh cùng với thuốc tây là nguyên nhân chính gây nên tình trạng suy sụp và mất trí nhớ. Bài hướng dẫn này tổng hợp nhiều thông tin có chứng cứ khoa học có thể giúp chúng ta chống bịnh mất trí nhớ một cách cụ thể, đơn giản và phù hợp với mình. (Bài cập nhật 24 tháng 7 năm 2020)

Ngừng những thứ có hại

  • Ngừng ăn các thứ này: thức ăn thức uống có thêm đường, sản phẩm sửa bò, thức ăn chế biến, dầu thực vật tinh chế như dầu dậu nành, dần canola, dầu cám, dầu bắp, dầu hạt hướng dương, dầu phộng, bánh mì trắng, bánh ngọt, kẹo, gạo trắng, sản phẩm bột mì và sản phẩm bột gạo trắng, bột ngọt. Đây là những thức ăn thức uống gây viêm. (Wegerer, 2014)
  • Tránh uống thuốc có statins. Thay vào đó ăn mỗi ngày 1 trái táo có tác dụng giảm mỡ máu như statin mà có lợi cho não thay vì làm hại não như statin
  • Tránh những thuốc ức chế bơm proton (Proton Pump inhibitors hay PPI) chống ợ hơi như Nexium, Prilosec, Prevacid, thuốc bổ sung Can xi, thuốc giảm đau như ibuprofen, Tylenol là những thuốc có thể làm suy giảm trí nhớ (Sayer Ji, 2020).

Bồi dưỡng não bộ

Uống bổ sung probiotics (vi sinh đường ruột)

Cần uống mỗi ngày Probiotics it nhất 60 tỉ CFU với ít nhất 10 dòng vi sinh Lactobacillus và Bifidobacterium để hồi phục số lượng vi sinh hiền và trấn áp vi sinh độc trong đường ruột. Kết quả là sẽ nhanh chóng giảm viêm trong não và giúp phục hồi trí nhớ. Năm 2016 kết quả thử nghiệm lâm sàng ngẫu biến (randomised), mù đôi (double-blind) và có kiểm sóat (controlled) vơi 60 người bị Alzheimer’s nặng cho thấy sau 12 tuần những người uống probiotics 4 dòng 2 tỉ CFU mỗi dòng (strain)/ngày phục hồi 28% trí nhớ trong khi những người không uống tiếp tục suy giảm trí nhớ thêm 5% ( Akbari et al. , 2016).

Tăng cường Vitamin B

Thiếu vitamin B3 thường đi đôi với triệu chứng mất trí nhớ, mệt mỏi, trầm cảm và lo âu. Thiếu B12 gây chứng mất trí nhớ, lo lắng và khó chịu. Thiếu B6 tăng nguy cơ tai biến mạch máu não, suy tim và mất trí nhớ. Trong thực tế tất cả vitamin B đều cần hổ trợ cho nhau trong chức năng của chúng. (Triệu chứng thiếu vitamin B).Vi sinh đường ruột khi trở lại phong phú và cân bằng sẽ giúp cơ thể rút đủ vitamin B từ thức ăn.

Liều bồi dưỡng vitamin B nên dùng: 1 viên nang hổn hợp vitamin B (B complex) liều mạnh 1 lần một ngày. Chúng ta cần chọn lựa thứ có chất lượng tốt đáng tin cậy. Loại nào có B6 dưới dạng P5P (còn gọi là PLP) thì tốt hơn là B6 dưới dạng pyridoxine hydrochloride (HCL) ví dụ như B-Complex Plus của Bác sĩ Hyman.
Đối với người bị Alzheimer’s nghiêm trọng, chúng ta có thể bổ sung thêm vitamin B 12, B6 và B9 với liều lượng sau đây -theo nghiên cứu của ĐH Oxford – để ngăn chặn co rút não: * 0, 5 milligrams vitamin B12 một ngày * 20 mg B6 một ngày và * 0,8 mg axit folic (hoặc B9) một ngày. .

Tiêu thụ rau đắng (bacopa monnieri)

Kết quả nghiên cứu cho thấy rau đắng có thể cải thiện trí nhớ, giảm lo âu , trầm cảm và làm nhẹ đầu óc (giảm triệu chứng nặng đầu) tăng khả năng chú ý, chú tâm, học hỏi và ghi nhớ (Price, 2016). Có thể ăn rau đắng sống trộn dầu ô liu như sà lách, hoặc phơi khô làm trà uống mỗi ngày 1-2 lần chung với trà xanh.
Đối với trường hợp bị mất trí nhớ (Alzheimer’s ) trầm trọng chúng ta có thể dùng thêm 300-500 mg chiết xuất rau đắng mỗi ngày, 2000 IU Vitamin E và 1.000-4.000 mg chiết xuất nấm bờm sư tử – lion ‘s mane (chứa tối thiểu là 15% beta glucan).

Ăn 3 muỗng canh (45-50 phân khối) dầu dừa mỗi ngày

Dầu dừa chứa 60% triglyceride chuỗi hạng trung (MCT), là loại dầu cung cấp năng lượng cho não bộ, khi não bộ thiếu đường glucose vì cơ thể người mất trí nhớ thiếu bén nhạy với insulin (insulin resistant). (Croteau et al, 2019) Có thể ăn dầu dừa với cháo yến mạch, canh rau, cafe, trà xanh. Chỉ nên ăn dầu dừa nguyên chất ép lạnh (cold pressed extra virgin coconut oil)

Uống Dầu hạt thì là đen (Black cumin seed oil)

Một muỗng nhỏ ( 5 phân khối) dầu hạt thì là đen hoà với 1 muỗng nhỏ mật ong hoặc một số nước cam tươi trước giờ ngủ, có tác dụng cải thiện và gia tăng trí nhớ và giúp dễ ngủ/ ngủ ngon. ( Xin xem bài dầu hạt thì là đen )

Tiêu thụ nhiều dầu ô mê ga 3

Uống thuốc bổ sung dầu cá, ăn hạt lanh (flaxseeds) và dầu hạt lanh, ăn hạt gai (hemp seeds) dầu hạt gai, ăn hạt hạnh nhân (almond), ăn hạt bí đỏ (pumpkin seeds)ăn cá béo, ăn hạt óc chó (walnuts) . Axit béo Omega-3 là chất mỡ cần có giúp đảm bảo màng tế bào thần kinh lành mạnh đủ để bảo vệ hệ thống thần kinh trung ương. (Axe, 2018)

Ăn nghệ và gừng đều đặn

Nghệ và gừng có công dụng cải thiện triệu chứng mất trí nhớ rất công hiệu theo kế tquả nghiên cứu (Sayer Ji, 2020). Hai loại củ này có thể tiêu thụ dưới dạng gia vị cho các món ăn. Chúng ta cũng có thể tiêu thụ riêng như thuốc bổ sung như sau: 1 muỗng cà fe bột nghệ trộn với dầu oliu (hay dầu hạt gai) và mật ong. Nhớ thêm 1 tí bột tiêu đen để tăng mức hấp thụ dinh dưỡng trong nghệ. Chúng ta có thể ăn 1 lát gừng dày 1 cm ăn với mật ong buổi sáng và tối.

Tiêu thụ nhiều nấm

Nghiên cứu khoa học xác nhận các loại nấm là thực phẩm tốt cho não. Một số nấm như nấm đông cô, nấm bờm sư tử … có thể giúp tái tạo các tế bào não bị thương tổn và kích thích dây thần kinh tăng trưởng . Nếu nấm tươi hoặc khô không có bán tại địa phương, bạn có thể mua chúng dưới dạng bổ sung dinh dưỡng.
Nếu có phương tiện và muốn đơn giản có thuốc bổ sung đặc chế chứa đủ chiết xuất bacopa, nấm bờm sư tử, ginkgo, alpha GPC và Huperzine A, là những dược thảo và nấm được xem là có công dụng giúp phục hồi trí nhớ chúng ta có thể mua Redimind ở https://www.nutreance.com/products/redimind có công hiệu và tiện lợi.

Ăn uống lành mạnh

Ăn nhiều trái cây  và rau cải tươi đa màu khác nhau, gạo lức, yến mạch, qui noa, hạt có dầu, dầu ô liu và dầu trái bơ, thỉnh thoảng ăn trứng, gà vịt chạy tự do và thịt cừu. Cần ăn đều đặn rau quả lên men như kim chi, sửa chua sống (live yogurt), dưa chua, táo lên men (táo cắt làm 12-16 miếng ngâm trong sửa chua sống 1-2 ngày), miso, natto….  Thức uống tốt cho trí nhớ ngoài trà rau đắng là nước dừa, trà xanh , cà phê (mỗi thứ 1-2 cốc 1 ngày thôi)  và nhiều nước lọc (Axe, 2018)

Hoạt động thể dục mỗi ngày

để đảm bảo máu chảy đủ mạnh lên khu vực não có chức năng học tập và ghi nhớ. Nếu được, nên chơi bóng bàn, cầu lông vì các môn thể thao nhẹ này đòi hỏi phải phối hợp mắt – tay, lấy quyết định, xử lý thông tin nhanh chóng và vận động tăng tuần hoàn máu. Nói chung, chúng ta cần vận động khoảng 30 phút mỗi ngày ít nhất 5 ngày một tuần (ví dụ như đi bộ, chạy, chạy bộ, nhảy dây, bơi lội, đi bộ nước, đạp xe …). Nên thay đổi hoạt động để tránh nhàm chán. Ngay cả làm việc nhà và làm vườn cũng là thể dục tốt. (Hyman, Axe )

Ngủ cho đủ và ngủ cho ngon

Cần đảm bảo có đủ giấc ngủ ngon (khoảng 7 giờ mỗi ngày) bằng cách tập thói quen ngủ lành mạnh. (Hyman, Axe)

Tích cực trong liên hệ gia đình, xã hội

để giữ cho bộ não của bạn  luôn linh hoạt.  Tích cực chuyện trò, tham gia sinh hoạt với  con cháu hoặc bạn bè hằng ngày là những hoạt động vô cùng cần thiết để bảo vệ trí nhớ. Chơi trò chơi đố vui với con cháu, đọc sách, kể chuyện xưa cho con cháu.

Tích cực vận dụng trí óc

bằng cách  tham gia vào các hoạt động thách thức đầu óc  như đọc tin tức, chơi cờ tây, cờ tướng, ráp hình, ráp chữ, trò chơi chữ, trò đố sudoku, học  khiêu vũ, học thuộc lòng lời hay ý đẹp, thơ văn yêu thích.

Súc miệng bằng dầu dừa mỗi ngày

để giảm ảnh hưởng tai hại của vi trùng P. gingivalis, – vi trùng nhiễm qua chứng sưng nướutrong cột tuỷ não (cerebral cortex) đối với  trí nhớ (Debora Mackenzie, 2019)

Xin lưu ý:

Bịnh suy sụp trí nhớ phát triển qua nhiều năm nên cũng cần nhiều thời gian để phục hồi trí nhớ. Chúng ta cần kiên nhẫn. Đừng bỏ cuộc khi không thấy kế quả sau một ngày, sau 1 tuần hay sau một tháng áp dụng cách trị này. Có thể phải cần 2-3 tháng mới thấy hiệu quả. Trí nhớ sẽ tiếp tục cải thiện nếu chúng ta kiên trì.

Tài liệu hướng dẫn này  này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến và  lời khuyên của bác sĩ.

Tham khảo

Akbari et al (2016). Effect of Probiotic Supplementation on Cognitive Function and Metabolic Status in Alzheimer’s Disease: A Randomized, Double-Blind and Controlled Trial. Front Aging Neurosci. https://dx.doi.org/10.3389%2Ffnagi.2016.00256

Axe, J, (2018) Alzheimer’s Natural Treatment Options & 7 Notable Breakthroughs.  https://draxe.com/health/alzheimers-natural-treatment/

Croteau et al (2018). Ketogenic Medium Chain Triglycerides Increase Brain Energy Metabolism in Alzheimer’s Disease [Abstract] . J Alzheimers Dis. 2018;64(2):551-561. doi: 10.3233/JAD-180202.

Debora Mackenzie (2019) We may finally know what causes Alzheimer’s – and how to stop it
https://www.newscientist.com/article/2191814-we-may-finally-know-what-causes-alzheimers-and-how-to-stop-it/

Goldman, R. & Lynch A. (2014) Memory Healer Program. http://memoryhealer.com/

Hyman (n.d.) 8 steps to reverse memory loss. https://thewomensalzheimersmovement.org/8-steps-to-reverse-memory-loss/

Price, A. (2016) Bacopa: The Brain-Boosting Alternative Treatment to Psychotropic Drugs. https://draxe.com/nutrition/bacopa/

Sayer Ji (2020) Regenerate- Unlocking your body’s Radical resilience through the new biology.  E-book ISBN: 978-1-4019-5640-0

Wegerer, J. (2014) Nutrition and Dementia: Foods That May Induce Memory Loss & Increase Alzheimer’s

https://www.alzheimers.net/foods-that-induce-memory-loss

Rau Mầm: Một nguồn rau bổ sung ưu việt

Tại Việt nam, rau quả trên thị trường thường nhiễm thuốc trừ sâu cao hơn mức quy định an toàn. Thêm vào đó nông dân và hầu hết nhà sản xuất nông nghiệp dùng nhiều thứ hoá chất để giúp rau quả mau lớn, trông tươi đẹp hấp dẫn người mua nhưng khi tiêu thụ thì gây hại cho sức khoẻ người dùng. Tìm được một nguồn cung cấp rau quả, sạch, rau quả hũu cơ, không hoá chất vì thế thật là khó  khăn. Ngay cả ở những nước phát triển Tây phương, tìm được nguồn rau sạch, rau hữu cơ cũng không dễ.

Chúng ta có thể giải quyết phần nào vấn đề này bằng cách tự trồng rau mầm, mua rau mầm hoặc mua bột rau mầm trên thị trường. Rau mầm không những giúp bổ sung nguồn rau hữu cơ cho chúng ta mà còn mang cho chúng ta nhiều dinh dưỡng nhiều hơn và tốt hơn dinh dưỡng trong hạt/đậu, và nhiều dinh dưỡng hơn rau quả trưởng thành. Thức ăn từ hạt/đậu chưa nẩy mầm chứa nhiều phản dinh dưỡng và chất độc có thể gây nhiều khó khăn cho hệ thống tiêu hoá đưa đến nhiều bịnh hoạn. Quy trình nẩy mầm không những giải trừ những chất phản dinh dưỡng và chất độc này mà còn gia tăng chất lượng dinh dưỡng so với hạt /đậu nguyên . Vì thế, rau mầm là nguồn đạm, nguồn chất bổ vitamin và khoáng chất ưu việt từ thực vật.

Ngoài nguồn rau mầm và bột rau mầm trên thị trường, xin giới thiệu quý bạn cách tạo rau mầm đơn giản tại gia để bảo đảm cho mình một nguồn rau bổ sung hữu cơ.

Rau mầm

Rau mầm là hạt hay đậu đã nẩy mầm với mầm mới lú ra hoặc dài đến 50-60 ly. Nó là kết quả của quy trình ngâm hạt hoặc đậu sống trong một thời gian , thông thường từ 8 đến 24 giờ (tuỳ theo loại hạt và đậu) rồi để cho chúng nẩy mầm trong môi trường ấm (chẳng hạn như trong nhà bếp) trong thời gian từ 2 đến 8 ngày (tuỳ loại hạt/đậu).

Tại sao ăn rau mầm tốt hơn ăn hạt và đâu không nẩy mầm.

Hạt và đậu chứa nhiều chất bổ dưỡng, nhất là chất đạm, vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên chúng cũng chứa nhiều chất kháng dinh dưỡng độc hại cho cơ thể. Quá trình nẩy mầm giúp loại bỏ hay vô hiệu hoá tác dụng của những chất kháng dinh dưỡng này đồng thời gia tăng số lượng chất dinh dưỡng  như calcium, sắt, kẽm và chất đạm có thể hấp thụ.

Axit phytic là chất kháng dinh dưỡng trong mễ cốc, các loại hạt và đậu. Nếu không khử nó thì axit phytic kết hợp với can xium, magnesium, đồng, sắt, và chất kẽm trong dường ruột làm cản trở sự hấp thụ của chúng vào cơ thể. Vì vậy khi mễ cốc, các loại hạt và đậu không được chuẩn bị đúng cách sẽ đưa đến tình trạng thiếu khoáng chất, và suy yếu xương. Axit phytic còn cản trở chức năng của các en-zim (enzim là 1 chất do vi-sinh tiết ra có công dụng làm xúc tác tạo ra một phản ứng sinh hoá) tiêu hoá amylase (phân hoá chất bột)  trypsin và pepsin (phân hoá chất đạm). Ngoài axit phytic, hạt và đậu chưa nẩy mầm còn chứa nhiều chất tương tự kháng dinh dưỡng như

Polyphenols có tác dụng ngăn cản cơ thể tiêu hoá và hấp thụ chất đồng, sắt, kẽm và vitamin B1 cũng như enzim, chất đạm và chất bột trong thức ăn rau quả.

Chất ức chế enzim như tannin, gluten làm cản trở quá trình tiêu hoá, gây dị ứng và bịnh tâm thần.

Lectin và saponins, gây hư hại màng đường ruột làm rỏ rỉ ruột, và gây những loại bịnh tự miễn nhiễm (autoimmune disorders) và triệu chứng giống như trúng độc thực phẩm và phản ứng miễn nhiễm gây đau khớp và phát ban (rashes).

Lợi ích của quy trình nẩy mầm:

Nghiên cứu thử nghiệm xác định quy trình nẩy mầm đem lại những ích lợi sau đây.

  • Tăng hấp thu chất dinh dưỡng

   Lượng B12, Sắt, Magnesium, kẽm, vitamin C, Vitamin E, chất chống oxy hoá (antioxidants) axit ferulic và axit vanillic , vitamin A gia tăng rất nhiều qua quá trình ngâm và nẩy mầm. Những chất dinh dưỡng này kể cả chất đạm cũng dễ hấp thụ hơn.

  • Làm cho thức ăn dễ tiêu hoá hơn.

Nhiều người bị rắc rối tiêu hoá và viêm khi ăn mễ cốc, đậu, hạt có dầu và hạt nhỏ vì en zim tiêu hoá bị những chất chống dinh dưỡng đề cập ở trên trói tay. Một lợi ích chính của quy trình nẩy mầm là cởi trói en-zim tiêu hoá, tăng cường hiệu năng của bộ tiêu hoá. Nó cũng giúp tăng tập hợp vi sinh tốt trong đường ruột. Những người bị tiểu đường hoăc có nguy cơ bị tiểu đường ăn rau mầm có thể phòng ngừa và giảm triệu chứng tiểu đường cách công hiệu.

Đem rau mầm làm rau lên men (như làm cải chua kiểu Viêt nam) lại càng bổ dưỡng bộ tiêu hoá nhiều hơn nữa nhờ tăng loại và lượng vi sinh tốt trong đường tiêu hoá.

  • Giảm chất kháng dinh dưỡng và axit phy tic.

Quy trình nẩy mầm trừ giảm những chất gây ung thư và kháng dinh dưỡng trong hạt/đậu như axit phytic, tannins, gluten, lectin, saponin. Chất gây ung thư (carcinogens , aflatoxins) tự nhiên có trong thức ăn thực vật, như đậu phụng, hạnh nhân (almond), bắp và nhiều hạt có dầu (nuts) khác bị trừ giảm qua quá trình nẩy mầm.

  • Tăng lượng đạm khả dụng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy quy trình nẩy mầm làm tăng lượng đạm, kể cả đạm thiết yếu như lysine và tryptophan nhưng lại giảm gluten. Không những vậy thôi, đạm trong rau mầm dễ hấp thụ và tiêu hoá hơn. Rau mầm nhiều đạm nhất là giá đậu xanh, đậu đỏ, đậu đen, đâu dẹp lentils, đậu gà (chick peas hay garbanzo beans trong hình) và đậu xanh hạt tròn (peas).

Đậu gà (Chickpeas)
Đậu dẹp (lentils)
Đậu hà lan (peas)
  • Tăng lượng chất xơ.

Ăn rau mầm vì vậy giúp cơ thể tống thải cặn bả và chất độc hữu hiệu hơn, giải trừ táo bón.

  • Phân hoá gluten để tiêu hoá dễ dàng hơn.

Kết quả nghiên cứu cho thấy quy trình nẩy mầm giảm trừ đạm gluten rất nhiều trong lúa mì trong khi đó lại tăng lượng folate (vitamin B9) và chất xơ tiêu hoá. Bột mì từ hạt lúa mì nẩy mầm ngày càng gỉam thêm gluten trong khi đó lại gia tăng tính khả dụng của tổng lượng đạm, chất béo và đường.
Vì vậy ăn bánh mì, pasta.. làm bằng bột hạt nẩy mầm (sprouted grain bread ) có lợi cho sức khoẻ hơn là ăn sản phẩm bằng bột thường.

  • Giúp giảm trừ những chất gây dị ứng khác

Trong hạt và đậu, nhất là đậu phộng và đậu nành có nhiều chất gây dị ứng cho nhiều người. Vì vậy, đậu phụng, đậu nành nẩy mầm không những bổ dưỡng hơn mà còn an toàn hơn là đâu phụng, và đậu nành.

  • Có thể tăng en-zim, chất kháng oxit hoá và chống ung thư

Kết quả một công trình nghiên cứu năm 2007 cho thấy sau khi cho hạt kiều mạch (buckwheat) nẩy mầm trong 48 giờ, lượng hổn hợp chống oxit hoá gọi là rutin tăng hơn 10 lần , và sản xuất thêm môt chất chống oxit hoá là quercetin.

Hoa cải xanh (broccoli) được hàng ngàn công trình nghiên cứu công nhận là loại rau chứa nhiều nhất chất chống ung thư, đặc  biệt là chất sulforaphane. Tuy nhiên, rau mầm broccoli 3-5 ngày chứa nhiều gấp 10-100 lần sulforaphane so với hoa cải xanh trưởng thành  Vì vậy, kết quả nghiên cúu cho thấy 30 gm ( 1 ounce) rau mầm broccoli chứa một lượng sulforaphane tương đương với 700 gm (1.5 lbs) hoa cải broccoli. (Sara Ding, 2019).

Nếu muốn biết cụ thể lợi ích của rau mầm broccoli, nhất là trong việc giúp chúng ta chống trừ ung thư, xin xem lời chứng của hai mẹ con Rosy (mẹ)  và Imogen (con) lành binh ung thư vú và ung thư da chỉ nhờ uống nước xay rau mầm broccoli (https://juicing-for-health.com/broccoli-sprout-juice-healed-cancer).

Cách sản xuất rau mầm tại gia

Trên youtube có nhiều videos chỉ dẫn cách tạo rau mầm như giá đậu xanh, đậu đỏ.. chúng ta có thể xem và chọn lựa cách nào tiện lợi nhất cho mình. Tuy nhiên, ở những quốc gia như Mỹ, Canada, Australia, New Zealand quý bạn có thể mua bộ khay trồng rau mầm (kitchen sprouter) rất tiện lợi và gọn gàng có thể để trên bàn bếp.

Bộ khay rau mầm

Loại này có thể mua ở Walmart https://www.walmart.com/search/?query=sprouter tại Mỹ, Bunnings tại New Zealand và Úc.

Ở quốc gia khác, quý bạn tìm trên mạng internet chổ bán bộ khay trồng rau mầm này với từ “sprouter” hoăc tương đương.

Ở New Zealand, nơi bán hạt làm rau mầm là www.kingsseeds.co.nz. Quý bạn có thể tìm nơi bán hạt làm rau mầm trên mạng internet nơi mình sống, chẳng hạn như ở Mỹ thì dùng từ “sprouting seeds”

https://www.walmart.com/search/?query=sprouting%20seeds

Cách trồng rau mầm bằng bộ khay rau mầm:

Những bộ khay làm rau mầm luôn luôn kèm theo cách sử dụng. Đại khái là

  • rải 1 muỗng canh (15-20 gm) hạt vào mỗi khay. Mỗi khay một loại hạt hoặc 1 loại hạt nhiều khay.
  • Chồng khay lên nhau. Khay hứng nước nằm dưới cùng. 4 khay trên có lổ nhỏ cho nước chảy xuống khay bên dưới. Đặt bộ khay trên bàn nhà bếp nơi nào thuận tiện cho mình và không
  • Đổ nước lạnh sạch gần đầy khay trên cùng.
  • Mỗi ngày tưới nước khoảng 3 lần. Trước khi tưới nước, nhớ đổ nước ra khỏi khay dưới cùng.
  • Sau 3-4 ngày rau mầm dài đủ thì có thể bỏ vào hộp cất tủ lạnh để sử dụng.
  • Trước khi sử dụng, rửa sạch dưới vòi nước.
  • Rửa sạch bộ khay cho lần trồng kế tiếp.

Yếu tố an toàn:

Khi trồng rau mầm hay giá, chúng ta cần để ý:

Hạt, đậu bán cho người tiêu dùng nấu ăn nếu nhập cảng có thể bị chiếu bức xạ không nẩy mầm được nữa, hoặc bị xịt hoá chất bảo quản. Hạt bán trên thị trường để canh tác trồng trọt thường được phủ hoá chất bảo quản, không nên dùng tạo rau mầm để ăn. Vì vậy tốt nhất là chọn hạt sống hữu cơ chuyên dùng cho sản xuất rau mầm.

Khi mua nên cho người bán biết mục  tiêu của mình, người bán có thể đưa cho mình hạt thích hợp nhất.

Rửa sạch thau, lọ, bình dùng cho quy trình nẩy mầm để bảo đảm không bị nấm hay vi trùng sinh sôi trong đó. Sau mỗi lô rau mầm, chúng ta cũng cần rửa sạch dụng cụ bằng xà phòng, bảo đãm không còn nấm vi sinh bám trên dụng cụ.

Dầu vậy, trong quá trình tạo rau mầm, nấm vi sinh và vi trùng có thể sinh sản trên hạt hoặc đậu ẩm ướt. Vì vậy trước khi ăn rau mầm chúng ta cũng cần rửa thật kỹ rau mầm, nhất là nếu ăn sống. Nếu không, rau mầm sống có thể gây nên triệu chứng trúng độc như tiêu chảy, kiết lỵ, nôn mữa.

Trụng rau mầm trong nước sôi vài ba phút trước khi ăn vẫn là cách an toàn nhất.

Cách ăn khác là ghế hạt nẩy mầm (mầm dài không quá 5 ly) với cơm, hoặc nấu chè thay vì dùng hạt chưa nầy mầm.

Chúng ta cũng có thể dùng rau mầm làm dưa chua bằng cách ngâm rau mầm trong nước  mặn ngọt hợp khẩu vị cho rau lên men (chứ không phải ngâm dấm). Cách này càng làm tăng dinh dưỡng của rau mầm với vi sinh tốt cho cơ thể.

Nếu thường xuyên đi du lịch, hoạc đi du lịch trong thời gian lâu, chúng ta dĩ nhiên không thể trồng rau mầm để tiêu thụ. Nhưng chúng ta có thể mua và đem theo bột ăn liền làm bằng đậu nẩy mầm , hoặc tìm ăn bánh mì làm bằng bột hạt nẩy mầm (sprouted grain breads). Chúng ta có thể tìm nơi bán bột hạt nẩy mầm, bột đậu nẩy mầm trên mạng amazon.com dùng từ “sprouted bean powder” hoặc “sprouted broccoli powder” hoặc “sprouted nut powder”.

Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế tư vấn y tế.

Tham khảo

Ding, S. (2019). BROCCOLI SPROUTS KILL CANCER GROWTH, HEAL CHRONIC DISEASES, FIGHT INFLAMMATION

Gupta, H.O. (1994) Protein quality evaluation of sprouted maize.Plant Foods Hum Nutr. 1994 Jul;46(1):85-91. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/7971791

Levy, J. (2018) Sprout Guide: How to Sprout Grains, Nuts & Beans

Lorenz K. (1980)
Cereal sprouts: composition, nutritive value, food applications. Crit Rev Food Sci Nutr. 1980;13(4):353-85. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/7002472