Sống thư thái là chìa khoá sức khoẻ

Lối sống bình thản, thư thái là chìa khoá sức khoẻ –theo kinh nghiệm dân gian và khoa học xác nhận.

 Bài viết này xin tóm tắt kết quả nghiên cứu khoa học cho biết tại sao sống bình thản thư thái thì dồi dào sức khoẻ trong khi căng thẳng, lo âu dai dẳng gây nhiều bịnh hiểm nghèo. Và làm sao có thể sống thư thái cho khoẻ mạnh.

Tục ngữ Việt nam có câu “ Một nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ”.

Kinh thánh cũng có câu: “ Lòng vui mừng là phương thuốc hay. Còn tinh thần chán nản làm suy yếu sức khoẻ” (Châm ngôn 17:23).

Trong thực tế cuộc sống có quá nhiều yếu tố làm cho chúng ta không thể cười, không thể vui vẽ mừng rỡ nhiều như mình muốn. Ai sống cũng phải đối phó những tình huống khó khăn. Chính những khó khăn đó giúp chúng ta học và phát triển tài năng sinh sống. Thông thường khi khó khăn đã được giải quyết hoặc qua đi, chúng ta trở lại thư thái. Chính lúc căng thẳng đối diện nan đề, cơ thể dồn hết năng lực vào trí óc, tim và cơ bắp để đối đầu giải quyết. Chức năng tiêu hoá, giải độc, đề kháng, tái tạo và chữa lành đều phải ngưng lại.

Tuy nhiên nếu ở trong tình trạng căng thẳng hơn 20 % hay 5 giờ mỗi ngày thì cơ thể không đủ thì giờ và năng lượng) để tiêu hoá tới nơi tới chốn, giải độc, bảo trì và chữa lành các bộ phận thiết yếu. Kết quả là cơ thể bị đủ thứ bệnh tật. Trạng thái căng thẳng quá nhiều làm cho  thần kinh mất thăng bằng, làm cho tập hợp vi sinh đường ruột mầt cân bằng và là nguyên nhân chính gây các bệnh tật lâu năm khó chữa.

Ai cũng dễ dàng bị căng thẳng dai dẳng vì công việc, bổn phận gia đình, căng thẳng vì tình cảm, căng thăng vì xung đột liên hệ xã hội và môi trường sinh hoạt. Trẻ em và thanh thiếu niên thì có thể bị áp lực học hành đủ mọi thứ để kịp bạn bè, để vừa lòng cha mẹ, hoặc trong trạng thái sợ hãi vì bị bắt nạt ở trường.

Khi trẻ em sống căng thẳng dài dài trong tuổi còn thơ thì sức khoẻ bị ảnh hưởng trầm trọng suốt đời (Song, 2020),  không kể đến trường hợp bị bịnh tâm thần sớm đến nỗi càng ngày càng nhiều thanh thiếu niên ở những nước phát triển tìm cách tự kết liễu đời mình khi chưa tới tuổi trưởng thành.

Theo kinh nghiệm dân gian qua hàng ngàn năm được khoa học xác nhận thì chúng ta có thể gíup cơ thể chuyển trạng thái thần kinh căng thẳng (giao cảm)  sang trạng thái thư giãn (đối giao cảm) bằng nhiều cách rất đơn giản (không cần phải làm tất cả) như

  • Thở sâu và chậm bằng bụng 5 phút sáng sớm và cứ sau vài tiếng đồng hồ trong ngày
  • Đi chân không trên bãi cỏ hay đường đất, bãi cát 5-10 phút 1 ngày để hội nhập với từ trường trái đất, và giảm căng thẳng.
  • Rửa mặt nước thật lạnh sáng sớm và sau khi làm việc.
  • Tắm nước lạnh một vài phút sau khi tắm nước ấm xong.
  • Xức 1 chút dầu tinh chất (essential oil) đinh hương (clove) trộn với 1 chút dầu tinh chất chanh (lime ) phía sau dái tai mỗi ngày 3 lần trước bữa ăn.
  • Mỗi ngày để thì giờ cảm tạ những điều tốt mới xãy đến hoặc người khác mới làm cho mình, nói lên cảm ơn vói Thượng đế, Ơn Trên và những người đã cho mình những điều tốt, kể cả lời nói tử tế, khích lệ, chỉ bày cho mình..
  • Giải toả căng thẳng, nhất là căng thẳng tình cảm, lo âu, sợ hãi, chán nãn, tuyệt vọng… với một người chịu lắng nghe với sự cảm thông mà không chỉ trích, không chê trách. Việc này rất quan trọng đối với trẻ em đang lo bị cha mẹ la rầy, bị bạn bè chê cười hoặc bắt nạt.
  • Cầu nguyện
  • Làm việc thiện lành có ích cho người khác, gồm cả ý nghĩ tốt, lời nói tử tế, nhẹ nhàng, chịu lắng nghe, cảm thông, khích lệ, giúp đở bằng việc làm và công sức, tài chánh đối với người thân trong gia đình cũng như với người lạ…
  • Tập Thái cực quyền
  • Tập tỉnh tâm hay thiền.
  • Xoa bóp thư giãn– nhất là xoa bóp toàn thân.
  • Phục hồi hệ vi sinh đường ruột lành mạnh nếu đang bị bịnh kinh niên bằng cách uống spore probiotics, và nhiều ăn rau quả đa dạng mỗi ngày.

Căn bản khoa học:

Theo y khoa hiện đại, cơ thể chúng ta có một hệ thống thần kinh tên là Hệ thần kinh tự chủ ( Autonomous Nervous System) điều khiển tất cả các cơ chế tự động trong người, là những cơ chế chúng ta không ý thức kiểm soát như nhịp tim, huyết áp, tiêu hoá, hít thở, hoạt động của tế bào và ngay cả thân nhiệt.

Jodi Cohen trong bài “Bằng cách nào Trạng thái Đối giao cảm là then chốt của sức khoẻ” (How the Parasympathetic State is Critical to Your Health)  tóm tắt cách đơn giản như sau

‘Hệ thần kinh tự chủ có hai hệ nhánh là

  1. Hệ thần kinh Thư thái hay Đối giao cảm (Parasympathetic nervous system) còn gọi trạng thái “Nghỉ ngơi, Tiêu hoá và Chữa lành” và
  2. Hệ thần kinh Căng thẳng hay Giao cảm (Sympathetic Nervous System) còn gọi là Trạng thái “Chống cự, chạy trốn hay chết cứng”.

Hai nhánh thần kinh này khởi động trạng thái sức khoẻ tinh thần và thể chất rất khác nhau.

Chẳng hạn như nhánh thần kinh căng thẳng cấp dưỡng năng lựợng cho cơ bắp mạnh đủ để chống cự, hoặc chạy trốn. Trạng thái căng thẳng (giao cảm) làm tim đập nhanh hơn trong khi trạng thái thư thái làm tim đập chậm lại. Trạng thái thư thái  kích hoạt tiêu hoá, nhưng khi chúng ta lo âu, trạng thái căng thẳng trở nên chủ động và tắt đi hoạt động tiêu hoá.

Hai nhánh thần kinh căng thẳng và thần kinh thư thái lúc nào cũng hoạt động, nhưng trong thăng bằng. Có lúc nhánh này sinh động hơn nhánh kia. Nhưng hai nhánh bình thường cùng nhau đảm bảo chúng ta có đủ năng lượng đúng chỗ và đúng lúc.

Cái bất thăng bằng và bất bình thường xảy ra khi chúng ta bị ở trong trạng thái căng thẳng quá nhiều, nhiều hơn tỉ lệ 20%. Chúng ta cần ở trong trạng thái thư thái càng nhiều càng tốt.

Lý do là vì tất cả công tác chữa lành và bảo trì sức khoẻ – gồm cả tiêu hoá, giải độc, đề kháng nhiễm bệnh, tái tạo mô tế bào và kích thích đều xãy ra trong trạng thái bình thản thư thái (đối giao cảm). Hầu hết tắt cả bệnh tật và rối loạn chức năng xãy ra trong cơ thể đều là vì chúng ta không có khả năng vào lại trạng thái thư thái khi cần.

Dây thần kinh chủ chốt giúp cho não bộ và các bộ phận trong cơ thể liên lạc với nhau để tạo sự cân bằng giữa trạng thái căng thẳng và trạng thái thư thái là dây thần kinh Vagus, Dây thần kinh này được gọi là Vagus-  có nghĩa là chu du hay lang thang- vì nó là dây thần kinh dài nhất trong cơ thể nối kết não bộ với hầu hết các bộ phận từ não bộ, tim, gan, bao tử, đường ruột, lá lách, thận, phổi đến các mạch máu. Dây thần kinh Vagus tạo con đường thông tin hai chiều, chuyển tín hiệu ra lệnh từ não bộ tới các bộ phận cơ thể và chuyển tín hiệu tình hình từ bộ phận cơ thể tới não bộ.

Khi dây thần kinh Vagus suy yếu thì chúng ta bị mắc kẹt trong trạng thái căng thẳng mà không vào lại được trạng thái thư thái. Không tiêu hoá tốt, không giải độc được, không chữa lành được các mô tế bào,  hệ miễn nhiễm suy yếu làm cho cơ thể bị các thứ bệnh mãn tính hành hạ, từ bịnh suy tim, trầm cảm, viêm cả người, tiểu đường, mệt mỏi, lo âu, rối loạn tiêu hoá, đầu óc thiếu minh mẫn, đau khớp, đau đa xơ , ung thư, nhức đầu …đến mất trí nhớ.

Hai nguyên nhân chính làm cho dây thần kinh Vagus suy yếu là

  • Tình trạng căng thẳng kéo dài, kể cả khi chúng ta không dứt được những ý nghĩ tiêu cực buồn lo, cay đắng, giận hờn, ghen ghét.
  • Tập hợp vi sinh trong đường ruột mất thăng bằng. Tình trạng này xãy ra khi trạng thái thái căng thẳng kéo dài vì theo Krishnan (2020), trong đường ruột chúng ta lúc nào cũng có những vi sinh trục lợi (opportunistic bacteria and viruses). Khi chúng ta mạnh khoẻ, số lượng những vi sinh này rất thấp nên hệ thống miễn nhiễm chúng ta không phát hiện. Ngược lại khi bi căng thẳng lâu dài, hoc môn căng thẳng cortisol, epinephrine, norepinephrine tràn lan tạo điều kiện thuận lợi cho những vi sinh trục lợi này nhanh chóng sinh trưởng gấp bội, trong khi vi sinh tốt bị thất sủng. Vi sinh trục lợi (xấu) này tiết ra chất độc. Những chất độc này lại làm cho cơ thể tiếp tục sản xuất thêm hoc môn căng thẳng (cortisol…)  Cơ thể chúng ta bị một vòng lẩn quẩn độc hại kiềm chế. Tình trạng này làm hỏng màng ruột non, gây ra rò rỉ đường ruột,  tạo điều kiện cho chất độc lipopolysaccharides lẻn vào cơ thể gây nên hầu hết các bịnh mãn tính như tiểu đường, trầm cảm, Alzheimer’s, Parkinson’s, bịnh tim, cao huyết áp, ung thư v.v.

Vi sinh hiền/tốt đóng vai trò rất quan trọng trong việc kích hoạt phần não bộ tạo nên trạng thái thư thái.  Khi thức ăn đi vào đường ruột, những vi sinh hiền này chuyển hoá thức ăn sản xuất ra axit mỡ ngắn xích (short-chain fatty acids) và đưa chúng vào hệ tuần hoàn. Chúng đến não và kích hoạt phần não bộ chịu trách nhiệm tạo ra trong thái thư thái. Chúng giúp chúng ta trở lại trạng thái thư thái. Vi sinh hiền cũng giúp sản xuất hoc môn serotonin trong đường ruột.90% serotonin được sản xuất trong ruột. Serotonin vừa giúp di chuyển thực phẩm phân hoá trong ruột, vừa gởi tín hiệu tới não yêu cầu chuyển cơ thể sang trạng thái thư thái.

Vi sinh càng nhiều và càng đa dạng thì càng có nhiều thợ làm những việc trên chi chúng ta. Chúng tạo ra càng nhiều những hoc mon hậu vi sinh (postbiotics) cần có để kích hoạt trạng thái thư thái như axit mỡ ngắn xích, serotonin, GABA … (Krishnan, 2020).Ngược lại, vi sinh càng ít đa dạng thì càng ít hoc môn đó được sản xuất. Ăn nhiều rau quả thật đa dạng ( diversity of fruits and vegetables), ăn nhiều thức ăn lên men đa dạng, uống spore probiotics (nếu đã có bịnh mãn tính) là cách hữu hiệu tăng lượng vi sinh đa dạng.

Cách hữu hiệu nhất để ra khỏi vòng lần quẩn chết người là vừa kích thích dây thần kinh vagus,  vừa cấy vào người vi sinh gây giống (spore probiotics). Loại vi sinh này giúp diệt vi sinh trục lợị và nuôi dưỡng vi sinh tốt (nên gọi là spore probiotics – spore có nghĩa là seed, hạt giống). Chúng ta có thể mua Sản phẩm vi sinh gây giống Megasprobiotic ở Microbiomelabs.com qua một y sĩ do họ giới thiệu khi đáng ký mua.

Hoặc chúng ta cũng có thể thử mua youtheory Spore probiotic ở iherb.com.  Sản phẩm này có 3 dòng vi sinh gây giống là Bacillus clausii, Bacillus subtilis và Bacillus coagulans.

Cùng một lúc chúng ta cần tập thở sâu chậm để kích thích dây thần kinh Vagus để ra khỏi trạng thái căng thẳng lâu dài.

  • Nhiễm độc (kim loại nặng), nhiễm trùng , nhiễm khuẩn, nhất là vi trùng vi khuẩn nhiễm qua răng hàm.

Cách làm mạnh dây thần kinh Chu du Vagus

Kết quả nghiên cứu cho thấy chúng ta có thể chữa lành hay làm mạnh lại dây thần kinh Vagus bằng cách kích thích dây thần kinh Vagus. Một khi dây thần kinh Vagus mạnh lại, nó sẽ giúp chúng ta vào trạng thái bình thản thư thái để cho cơ thể nghỉ ngơi, tiêu hoá tốt, giải độc và chữa lành.

Kết quả nghiên cứu cũng xác nhận nhiều thói quen lành mạnh giúp kích thích dây thần kinh Vagus cách có hiệu quả (Fallis, 2020). Chúng ta có thể sử dụng nhiều cách sau đây để kích thích dây thần kinh Vagus và trở về trạng thái thư thái:

  • Thở sâu và chậm bằng bụng . (Russo , 2017; Cuda , 2010). Tốt nhất là chúng ta thở sâu và chậm 5 phút sáng sớm và cứ sau vài tiếng đồng hồ  trong ngày.  Theo kinh nghiệm của khoa học gia Krishnan (2020) của Microbiome Labs thì thở thật sâu và chậm (tăng thời gian giữa hít vào và thở ra) là cách vô cùng hữu hiệu để chống lại sự sản xuất hoc môn căng thẳng  (cortisol, epinephrine, norepinephrine) vì nó kích thích dây thần kinh chu du vagus.Phát âm  kéo dài âm  “Ôm” khi thở ra, và chú tâm vào từng bộ phận cơ thể cũng là cách đưa cơ thể vào trạng thái bình thản, thư thái rất hữu hiệu. (Krishnan (2020).
  • Đi chân không trên bãi cỏ hay đường đất, bãi cát 5-10 phút 1 ngày để hội nhập với từ trường trái đất, và giảm căng thẳng và hưởng nhiều lợi ích cho sức khoẻ. (Chevalier et al, 2012; Radish, 2020; Buttar, 2020)
  • Rửa mặt nước thật lạnh sáng sớm và sau khi làm việc. Vì nước lạnh trên mặt giúp kích hoạt dây thần kinh Vagus và trạng thái thư thái. (Jungmann et al, 2018). Chuyên gia Kiran Karish cũng xác nhận, dây thần kinh vagus được kích thích khi tạt nước thật lạnh lên mặt.
  • Tắm nước lạnh vài phút sau khi tắm nước ấm xong. (Jungmann et al , 2018)
  • Xức 1 chút dầu tinh chất (essential oil) đinh hương (clove) trộn với 1 chút dầu tinh chất chanh (lime ) phía sau dái tai mỗi ngày 3 lần trước bữa ăn. (Cohen, 2020)
  • Cảm tạ, biết ơn: Mỗi ngày để thì giờ cảm tạ 10 điều tốt mới xảy đến hoặc người khác mới làm cho mình, nói lên và viết ra lời cảm ơn vói Thượng đế, Ơn Trên và những người đã cho mình những điều tốt, kể cả lời nói tử tế, khích lệ, chỉ bày cho mình. (Radish, 2020, Buttar, 2020)
  • Giải toả căng thẳng, nhất là căng thẳng tình cảm, lo âu, sợ hãi, chán nãn, tuyệt vọng… với một người chịu lắng nghe với sự cảm thông mà không chỉ trích, không chê trách. Việc này rất quan trọng đối với trẻ em đang bị đe doạ bị cha mẹ la rầy, bị bạn bè chê cười hoặc bắt nạt. (Radish, 2020; Song, 2020).
  • Cầu nguyện với đức tin và lòng thương cũng có công hiệu như tỉnh tâm đưa thân thể và tinh thần vào trạng thái thư thái có lợi cho sức khoẻ (Berstein, 2020) Đặc biệt cầu nguyện giúp phòng ngừa và cải thiện bịnh tim ( Tolentino). Kinh thánh có khuyên: “Trong moi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin và sự tạ ơn mà trình lên Đức Chúa Trời Tạo hoá. Sự bình an của Đức Chúa Trời, vượt qua mọi khả năng hiểu biết sẽ gìn giữ tắm lòng và tâm trí của anh chị em.(Philip 4:6-7)Nhiều lần Chúa Giê su bảo ” Dức tin ngươi đã chữa lành ngươi”  với những người đến với Chúa để được chữa bịnh. Khi có đức tin tuyệt đối, không nghi ngờ không sợ hãi lo lắng gì cả thì chúng ta bước vào trạng thái bình thản, thư thái, là trạng thái cơ thể cần có để tự chữa bịnh.
  • Làm những điều tốt ) có ích cho người khác, gồm cả ý nghĩ tốt, lời nói tử tế, nhẹ nhàng, chịu lắng nghe, cảm thông, khích lệ, giúp đở bằng việc làm và công sức, tài chánh đối với người thân trong gia đình cũng như với người lạ… (Radish, 2020). Theo kết quả nghiên cứu của Bác sĩ Herbert Henson, sức đề kháng bịnh đều tăng lên 30% cho người làm việc tốt lành, nhận việc làm tốt lành cũng như người chứng kiến việc lành  (Buttar, 2020)
  • Chơi thể thao để vui chứ không phải ăn thua. Vì tinh thần ăn thua háo thắng làm cho chúng ta bị căng thẳng.
  • Thể dục, làm việc tay chân trong tinh thần yêu thích chứ không phải bị ức chế. Vì yêu thích thì không bị căng thẳng như khi bị ức chế, bó buộc.
  • Tỉnh tâm, thiền, tập thái cực quyền ( Wan-An Lu, Cheng-Deng Kuo) yoga.. giúp chúng ta chú tâm đến hiện tại, không buồn bực vì quá khứ hoặc lo lắng về tương lai nên thư thái và thoát khỏi căng thẳng,
  • Ăn uống khoan thai điềm đạm, nhai lâu nhai kỹ, chú ý thưởng thức món ăn cũng là một thói quen cần có để giúp cơ thể vào trạng thái thư thái. Vừa ăn vừa xem TV, xem ipads, smart phone là thói quen nên bỏ và tránh. Y như Ca dao Việt nam:

Cái miệng nó hại cái thân

Bằng như ăn uống khoan thai

Thân bình, thanh thản, chẳng vay hiểm nghèo”

Xin cảm ơn quý bạn viếng thăm trang này. Nô Ên và Năm mới 2021 sắp đến. Xin cầu chúc quý bạn một mùa Giáng Sinh Vui Vẻ và Một Năm mới Thư Thái, Mạnh khoẻ, Vui thoả, An bình và Hạnh phúc.
Xin lưu ý:

Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến chỉ dẫn của bác sĩ.

Tham Khảo:

Bernstein E. (2020) The science of prayer. Association of Psychological Science. May 20, 2020. https://www.psychologicalscience.org/news/the-science-of-prayer-2.html#:~:text=it%20might%20help.%E2%80%9D-,Dr.,your%20fight%20or%20flight%20response.&text=Some%20scientists%20who%20study%20prayer,a%20feeling%20of%20emotional%20support

Buttar, R. A. (2020) Parasympathetic BioHacks. Parasymnpathetic Summit 2020. Pages 315-336.

Chevalier et al. (2012). Earthing: Health Implications of Reconnecting the Human Body to the Earth’s Surface Electrons. J Environ Public Health. 2012; 2012: 291541. Published online 2012 Jan 12. doi: 10.1155/2012/291541 https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3265077/

Cohen, J. Practical Overview: Your Parasympathetic State. . Parasymnpathetic Summit 2020. Pages 1-14.

Cuda, G.  (2010). Just Breathe: Body Has A Built-In Stress Reliever. https://www.npr.org/2010/12/06/131734718/just-breathe-body-has-a-built-in-stress-reliever

Fallis, J. (2020) How to Stimulate Your Vagus Nerve for Better Mental Health. Optimal Living Dynamics. October 6, 2020  https://www.optimallivingdynamics.com/blog/how-to-stimulate-your-vagus-nerve-for-better-mental-health-brain-vns-ways-treatment-activate-natural-foods-depression-anxiety-stress-heart-rate-variability-yoga-massage-vagal-tone-dysfunction

Jungmann, Vencatachellum, Van Ryckeghem & Voggle (2018). Effects of Cold Stimulation on Cardiac-Vagal Activation in Healthy Participants: Randomized Controlled Trial. JMIR Form Res. 2018 Jul-Dec; 2(2): e10257. Published online 2018 Oct 9. doi: 10.2196/10257https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6334714/

Krishnan, K. (2020). Mirocbiome and Your Parasympathetic State. Parasymnpathetic Summit 2020 etranscript. Pages 217-230

Russo, M. A., Danielle M. Santarelli,  D. M., & Dean O’Rourke.   The physiological effects of slow br earthing in the healthy human. Breathe 2017 13: 298-309; DOI: 10.1183/20734735.009817 https://breathe.ersjournals.com/content/13/4/298

Song, E. (2020) Cell Danger Response & the Parasympathetic State. Parasymnpathetic Summit 2020 etranscript pages 337-350

Wan-An Lu, Cheng-Deng Kuo (2003) The effect of Tai Chi Chuan on the autonomic nervous modulation in older persons. Med Sci Sports Exerc. 2003 Dec;35(12):1972-6. doi: 10.1249/01.MSS.0000099242.10669.F7.

Tolentino, J. C.  Cardiac autonomic modulation related to prayer may contribute to the reduced cardiovascular mortality associated with religiosity/spirituality. Science Repository. https://www.sciencerepository.org/cardiac-autonomic-modulation-related-to-prayer-may-contribute_JICOA-2019-2-105

 

 

 

 

 

 

 

Quả me ngọt: giảm đường máu và bảo vệ sức khoẻ tuyệt vời ( Amazing Tamarind for diabetes and overall health)

 

Quả me: thức ăn trị tiểu đường giảm đường máu và bảo vệ sức khoẻ tuyệt vời, kể cả tim mạch, huyết áp, máu mỡ, rối loạn tiêu hoá, lỡ bao tử, táo bón, tiêu chảy, kiết lỵ, trĩ nội ngoại, trị viên khớp, trị loãng xương, hệ miễn nhiễm và triêu chứng quá mập.

Ngày 12 tháng 9 năm 2020, TS Kỹ sư Thanh, trong nhóm Cựu Sinh Viên Việt nam ở New Zealand trước 1975, chia sẻ kinh nghiệm tình cờ uống nước me như sau (dịch từ nguyên văn tiếng Anh):

“ Bốn ngày trước đây, tôi uống một ly nước trái cây làm từ trái me ngọt. Mùi vị cũng được và tôi không nghĩ đến chuyện đó nữa cho tới khi đo lượng đường trong máu và để ý thấy mức đường máu giảm từ 140 xuống 96 mg/dL. Tôi sững sờ và bắt đầu lên mạng internet tìm hiểu thêm về trái me. Kinh ngạc với những gì tôi tìm ra, tôi quyết định ngừng uống Metformin, là thuốc tiểu đường tôi thường phải uống 2000mg mỗi ngày, và thay thế bằng nước trái me. Mức đường máu của tôi trung bình là 130 mg/dL từ đó.”

Bà Hienvy chia sẻ lại thông tin này trên facebook. Anh (hay em trai) bà thử làm theo và lượng đường máu của ông ta giảm xuống một cách tuyệt vời. (Hien Vy posted this information on her facebook. Her brother tried them and his sugar has dropped to an amazing level)

Một bà khác viết lời bình luận trên Facebook của Hien Vy như sau:
“ mình làm nước me cho ông xã uống được 3 ngày thì thấy có kết quả lắm, khi trước có thuốc nhưng vẫn cứ 170, 180 và ngày rồi thì 140, 130 và hôm nay 110. Cảm ơn chị nhiều”

Đó là kinh nghiệm và thông tin tuyệt vời cho những người đang khổ sở vì tiểu đường. That is wonderful news for those of us suffering from diabetes.
(For non Vietnamese readers please read the benefits of sweet tamarind at https://www.livestrong.com/article/516215-the-benefits-of-sweet-tamarind  on change to English at language button)

Điều đáng ngạc nhiên là công dụng trị tiểu đường không được phổ biến rộng rãi trên mạng internet.

Đặc biệt, công dụng này không được đề cập trong các trang mạng và sách vở y học Viêt nam. Theo trang mạng thầy thuốc của bạn thì Viêt nam chỉ dùng trái me để giải nắng, giúp tiêu hoá, lợi trung tiện và nhuận tràng (Việt nam). Ở Thái lan người ta chỉ dùng trái me để Trị bệnh rối lọan mật, sốt rét, giúp tiêu hoá. Còn ở Trung Quốc thì trái me chỉ được dùng trị viêm dạ dày mạn tính, thực tích, tiêu hoá không bình thường, đau khối cục ờ bụng, đàm ấm, nôn mửa khi có thai, trẻ con cam tích, bệnh giun đũa, dự phòng trúng nắng. (https://amp.thaythuocuaban.com/vithuoc/me.htm) và (https://caythuoc.org/cong-dung-cua-qua-me.html)
Tuy nhiên, trong trang mạng y học Ấn độ https://www.ayurvedum.com /6-tamarind-benefits-health/ giảm đường máu được nêu là một công dụng của me và người Ấn độ đã từng dùng me để kiểm soát đường máu.

Nhiều công trình nghiên cứu y khoa về dược tính và thành phần dinh dưỡng của me đã được thực hịện.

Làm sao me ngọt giúp trị tiểu đường:

Theo báo cáo trong Tập san Báo cáo khoa học (Scientific Reports) tháng 6 năm 2015, Me có tính chống viêm rất mạnh và chống oxit hoá, rất có ích cho những người bị tiểu đường. Chuyên gia dinh dưỡng Casey Seiden ở New York xác nhận “Trái me có dồi dào chất dinh dưỡng rất bổ ích cho đường máu như magnesium, thiết yếu cho việc điều hoà đường máu vì làm tăng độ nhạy insulin. Trái me còn chứa nhiều potassium và hợp chất polyphenol như flavonoid, cả hai đều quan trọng giúp chống viêm , chống oxit hoá và cải thiện chức năng tim mạch (Kerr, 2019; Kuru, 2014). Kết quả nghiên cứu trên chuột cho thấy chất flavonoid và polyphenol trong me giúp phục hồi “tế bào beta” trong lá lách bị hư hại, nhờ đó tăng sản suất insulin, cải thiện hấp thụ đường trong cơ thể và giảm đường máu. (Sole & Srinivasan, 2012). Có lẽ nhờ cơ chế này mà công hiệu trị tiểu đường của Me bền lâu.

Thêm vào đó, me ngọt có chỉ số đường huyết thấp (low glycemic index). Ngọt nhưng me ngọt có mức glucose thấp và không thay đổi theo thời gian. Vì vậy các nhà nghiên cứu kết luận rằng me ngọt là một trong những lựa chọn tốt nhất cho những người có mức đường huyết bất bình thường không kiểm soát được. (Passos et al, Food and Science Technology , 2015)

Kết qủa nghiên cứu hoá chất thực vật cho thấy trái me là môt thức ăn rất bổ dưỡng, chứa nhiều carb, hầu hết chất đạm thiết yếu và dồi dào vitamin (nhất là vitamin B) cũng như khoáng chất quan trọng cho sức khoẻ. Sau đây là những lợi ích khác cho sức khoẻ khi ăn thường xuyên me ngọt:

Giúp xương rắn chất không bị loãng: Me ngọt có dồi dào magnesium, potassium, Phốt pho, và nhiều khoáng chất quan trọng cho xương như can xi, đồng, sắt và kẽm. Vì vậy ăn me đều đều sẽ giúp xương rắn chắc, mạnh và tránh được nạn loãng xương khi về già. (Kerr, 2019)

Cải thiện tiêu hoá.
Nhờ có nhiều chất xơ, và những hợp chất polyphenols chủ yếu là procyanidin, epicatechin and polymeric tannins, chống viêm, chống oxy hoá nên me ngọt giúp cải thiện tiêu hoá, trị rối loạn tiêu hoá (IBS), chống táo bón, tiêu chảy, kiết lỵ (dysentery), chống trỉ (piles), trị lỡ loét bao tử (peptic ulcer) và ngăn ngừa ung thư ruột già. Axit malic, axit tartaric và potassium trong me ngọct giúp nhuận trường. (Kerr, 2019)

Tăng cường hệ miễn nhiễm:
Với nhiều hợp chất polyphenol, vitamin C, betacarotne, vitamin là những chất chống oxy hoá, cộng thêm chất chống viêm và kháng sinh, Me ngọt giúp tăng cường hệ miễn nhiễm, bảo vệ cơ thể tránh được nhiều bệnh mãn tính và cảm cúm (Kerr, 2019)

Bảo vệ tim mạch, điều hoà huyết áp:
Me ngọt chứa can xi, magnesium, và potassium là những khoáng chất cần thiết để bảo vệ tim và điều hoà huyết áp.
• Can xi giúp mạch máu thu trương theo nhu cầu và giúp ngừa cao huyết áp. Me ngọt là nguồn can xi tốt hơn hầu hết các trái cây khác.
• Magnesium trong me ngọt không những giúp điều tiết hàng trăm hệ thống hệ thống cơ thể, kể cả huyết áp, đường máu, chức năng cơ bắp và thần kinh, mà còn cần có để giúp mạch máu thư giãn. Tim là bộ phận cần magnesium nhiều nhất. Thiếu magnesium tim không hoạt động đúng chức năng được.
• Potassium trong me ngọt giúp bảo trì cân bằng chất lỏng trong cơ thể, tức là yếu tố ảnh hưởng huyết áp. Nó cũng cần trong cho cơ bắp làm việc, kể cả thư giãn thành ống mạch máu. Ngoài ra, potassium cần có mặt để chuyển tin giữa óc và tim để tránh nhịp tim bị rối loạn. (Kerr, 2019)

Giảm mỡ máu
Ăn me ngọt giúp giảm mức máu mỡ xấu (LDP cholesterol) và mỡ triglyceride nên cải thiện mạch máu hổ trợ tim. Nghiên cứu trên chuột thí nghiệm gợi ý là me chứa những chất đạm có khả năng chế hoá mỡ và giúp bảo vệ tim, đồng thời chất xơ trong me làm giảm múc hấp thụ cholesterol vào máu. (Lim et al, 2018)

Giảm đau, chống viêm cải thiện viêm khớp
Theo báo cáo kiểm kê các nghiên cứu về dược tính chống viêm và giảm đau trên báo Integr Med Res tháng 9 năm 2019, kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng chứng minh rằng việc dùng me để trị đau nhức trong cơ thể và chống những bịnh do viêm gây nên như thấp khớp (arthritis) là có cơ sở khoa học. Công hiệu này có thể là nhờ me chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học (bioactive compounds) khác nhau gồm cả alkaloids, flavonoids, tannins, phenols, saponins, and steroids.
Đặc biệt, hột me có công dụng đảo ngược và ngăn cản sự hư hại xương và sụn do viêm khớp gây ra. (Sandaram et al, 2015)

Giảm mỡ giúp kiểm soát chống bệnh lên cân quá mức.

Một số nghiên cứu cho biết me ngọt có thể giúp chống (trị) triệu chứng lên cân quá mức và có thê giảm cân. Đặc biệt hột me có thể chứa một hợp chất ức chế được trypsin, một enzyme phân hoá (breakdown) chất đạm (Carvalho et al., 2016) Người ta thí nghiệm cho thấy hợp chất này trong hạt me làm giảm cân chuột nhờ giúp chúng ăn bớt đi (Ribeiro et al, 2015)

Với những lợi ích tuyệt vời như trên của me ngọt, người nào ăn me ngọt thường xuyên chắc sẽ lúc nào cũng khoẻ mạnh, không hề bịnh tật. Bà H. Vy được đề cập ở phần đầu đã nói rằng: “Tôi ưa thích me ngọt và có thể ăn mỗi lần cả hộp me. Không biết có phải vậy mà đến tuổi này (67) tôi chưa phải uống viên thuốc nào cả”.

Xin cẩn thận.
Nếu đang dùng thuốc theo toa bác sĩ, nhất la thuốc loãng máu, thuốc chống viêm, thuốc tiểu đường, thuốc giảm đau, chúng ta cần hỏi ý kiến hay thông báo cho bác sĩ trước khi dùng thức ăn thiên nhiên như me ngọt để trị bịnh. Bác sĩ có thể phải theo dõi để giảm thuốc.
Thứ hai, ăn hay uống quá mức cái gì kể cả me ngọt, nước lạnh, vitamin… cũng không có lợi cho sức khoẻ. Nếu ăn me ngọt chúng ta cũng chỉ nên ăn vừa phải (4-5 trái một ngày) nhưng đều đặn thì có lợi tốt nhất.

Mua me ngọt ở đâu.
Ở Mỹ và Viêt nam , Me ngọt chắc không khó tìm.
Đây là thứ me ngọt của Thái lan có bán ở Mỹ
Riêng ở NZ thì có thể mua sweet dried tamarind online ở https://www.asiangrocer.co.nz/product/409-dried-tamarind-sweet-seedless-hoshi-150g

Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục tiêu thông tin chứ không thay thế chỉ dẫn của bác sĩ chăm sóc quý bạn.

Tham khảo:

Carvalho F. et al (2016). A Trypsin Inhibitor from Tamarind Reduces Food Intake and Improves Inflammatory Status in Rats with Metabolic Syndrome Regardless of Weight Loss. Nutrients. https://www.mdpi.com/2072-6643/8/10/544

Kerr, G. (2019). The benefits of sweet tamarind. Livestrong.com https://www.livestrong.com/article/516215-the-benefits-of-sweet-tamarind/

Komakech, R., Kim, Y., Matsabisa, G.B. & Kang, Y. Anti-inflammatory and analgesic potential of Tamarindus indica Linn. (Fabaceae): a narrative review. Integr Med Res. 2019 Sep;8(3):181-186. doi: 10.1016/j.imr.2019.07.002. Epub 2019 Jul 23.

Kuru, P. (2014) Tamarindus indica and its health related effects. Asian Pacific Journal of Tropical Biomedicine. Volume 4, Issue 9, September 2014, Pages 676-681
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2221169115300885#bib25

Lim, C.Y. et al (2018) The hypolipidemic effects of Tamarindus indica fruit pulp extract in normal and diet‐induced hypercholesterolemic hamsters are associated with altered levels of serum proteins. Electrophoresis. Analytical Science Advances. https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1002/elps.201800258
https://doi.org/10.1002/elps.201800258

Passos et al (2015) . Glycemic index and glycemic load of tropical fruits and the potential risk for chronic diseases. Food Sci. Technol (Campinas) vol.35 no.1 Campinas Jan./Mar. 2015.
https://doi.org/10.1590/1678-457X.6449

Ribeiro et al (2015) Trypsin inhibitor from tamarindus indica L. seeds reduces weight gain and food consumption and increases plasmatic cholecystokinin levels. Clinics ( Sao Paulo)
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/25789523/

Sandaram et al (2015). Tamarind Seed (Tamarindus indica) Extract Ameliorates Adjuvant-Induced Arthritis via Regulating the Mediators of Cartilage/Bone Degeneration, Inflammation and Oxidative Stress. [Abstract] Sci Rep. 2015. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/26059174/

Sole, S.S. & Srinivasan, B.P. (2012) Aqueous extract of tamarind seeds selectively increases glucose transporter-2, glucose transporter-4, and islets’ intracellular calcium levels and stimulates β-cell proliferation resulting in improved glucose homeostasis in rats with streptozotocin-induced diabetes mellitus. Nutrition Research
Volume 32, Issue 8, August 2012, Pages 626-636.

 

 

 

Triệu chứng thiếu Can-xi (Calcium)

Can-xi hay Calcium là khoáng chất có khối lượng lớn nhất trong cơ thể (khoảng 1,4 kilo). 99% calcium của cơ thể nằm trong xương và răng. Tuy nhiên 1% calcium còn lại nằm bên trong các tế bào cơ thể và  trong máu, bạch huyết (lymph) và lưu chất trong cơ thể (body fluids). Phần calcium này tuy nhỏ nhưng đóng vai trò rất thiết yếu trong việc điều hợp hoạt động cơ thể, từ diễn trình đông máu đến vận động cơ bắp, khởi động các enzymes và nhiều quy trình vi bào (cellular processes) trong cơ thể. Cơ thể cần Calcium để kiểm soát lượng magnesium, phốt pho và potassium trong máu . Những khoáng chất này làm việc với nhau để giữ cân bằng với nhau. Vì vậy cần nên tránh tình trạng thiếu calcium cũng như thiếu magnesium và postassium.

Cơ thể thường cần hấp thụ mỗi ngày 1 gram calcium nguyên chất (elemental) mỗi ngày. Tuy nhiên đàn bà trên 50 tuổi và đàn ông trên 70 tuổi cần nhiều hơn, trung bình 1.2 gram calcium nguyên chất một ngày..

Thiếu calcium lâu dài có thể gây những triêu chứng sau đây :

  • Xương dòn, yếu, dễ gãy vì chứng loãng xương.
  • Rối loạn đông máu
  • Yếu sức và mệt mõi.
  • Co giật cơ bắp (muscle spasm) và chuột rút
  • Cảm giác tê hoặc bị kim đâm chich (feeling pins and needles)
  • Dễ cáu gắt
  • Trẻ em chậm lớn và chậm pháp triễn.
  • Cao huyết áp và nhịp tim bất thường
  • Trầm cảm, rối trí và hay quên

Nguyên nhân thiếu calcium trong máu

  • Ăn uống thức ăn không có đủ calcium – thường xãy ra cho những người ăn rau cải mà thiếu sản phẩm sữa có nhiều calcium.
  • Calcium không được hấp thụ đúng mức hoặc bị thất thoát vì
    • Thiếu vitamin D
    • Ăn uống nhiều thức ăn uống có chất caffeine
    • Ăn uống thức ăn có calcium cùng với thức ăn có axit oxalic. Axit oxalic ngăn cản không cho calcium hấp thụ vào cơ thể khiến calcium bị thải ra với phân. Những thức ăn có axit oxalic gồm  cây đại hoàng (rhubarb), củ cải beet, rau cần tây (celery), cà tím, và trái cây như dâu tây, trái việt quất (blueberries), trái mâm xôi (blackberries), trái lý gai (gooseberries), hạt có dầu như đâu phụng, hạt pecans (nuts) và thức uống như cacoa, trà, Ovaltine.
    • Nhiều magnesium và zinc tiêu thụ cùng lúc tiêu thụ calcium hoặc thức ăn chứa calcium.
    • Hệ tiêu hoá và lá lách bị bịnh như viêm lá lách, viêm đường ruột, xơ nang (cystic fibrosis)
    • Uống thuốc tây có ảnh hưởng giảm mức hấp thụ calcium. Điển hình là thuốc trị ợ hơi hay lỡ loét thuộc loại ức chê bơm proton (pump inhibitors) như Prilosec [omeprazole], Prevacid , Nexium [esomeprazole] và thuốc  phenytoin, phenobarbital, rifampin, corticosteroids
  • Thay đổi hoc môn – thường xãy ra cho phụ nữ sau mãn kinh.
  • Yếu thận làm giảm khả năng thu hồi calcium.
  • Ăn quá nhiều chất đam như thịt hoặc nhiều muối làm cho cơ thể tăng mức thải calcium.

Phương cách bồi bổ và tránh thiếu hụt calcium

Chúng ta có thể và nên phòng chống tình trạng thiếu calcium bằng cách bao gồm thức ăn chứa nhiều calcium trong chế độ ăn uống của mình.

Thức ăn giàu calcium gốm:

  • Thực phẩm gốc sữa bò như phó mat, sữa bò, và sữa chua
    • Rau màu xanh đậm như hoa cải xanh (broccoli) và cải xoăn (kale), rau cải ngọt, rau dền, okra.
    • Đâu phụ và đậu ve
    • Hạt vừng (mè), hạt hạnh nhân (almonds)
    • Trái sung (vả) khô (dried figs0
    • Yến mạch (oats)
    • Cá trạch, cá hồi , cá trích, cá mòi

(http://soha.vn/8-thuc-pham-giau-canxi-nhat-an-hang-ngay-se-khoi-can-uong-thuoc-20160712180740561.htm)

Tuy nhiên chúng ta phải để ý tránh những yếu tố làm giảm khả năng hấp thụ calcium kể trên. Chẳng hạn như

  • không uống thuốc tây có hại cho việc hấp thụ calcium trong vòng 2 tiếng đồng hồ trước và sau bữa ăn có calcium.
  • Không ăn thức ăn nhiều calcium cùng một lúc với rau quả có axit oxalic và axit phytic như cần tây,  dâu tây, đậu phộng…
  • Tránh uống magnesium và zinc gần bữa ăn có nhiều calcium.
  • Tránh ăn quá nhiều thịt và thức ăn mặn.

Trong khi đó chúng ta cần phơi nắng hay uống vitamin D cho đủ để tăng khả năng hấp thụ calcium. Lượng vitamin D cần có cho người trên 50 tuổi là 800-1000 đơn vị quốc tế (UI) mỗi ngày.

Đối với chứng bịnh loãng xương, chỉ thêm calcium trong chế độ ăn uống không đủ để làm xương bớt loãng. Xin xem “ cách trị bệnh loãng xương tự nhiên”

Bổ sung Calcium (Calcium supplements)

Ngay cả khi chúng ta có chế độ ăn uống lành mạnh, cân bằng, chúng ta vẫn thấy khó hấp thụ đủ calcium, nhất là khi chúng ta

  • chỉ ăn rau quả,
  • bị loãng xương,
  • không chịu được lactose trong sữa,
  • phải uống thuốc tây corticosteroids dài hạn.
  • Bị rối loạn viêm đường ruột, bệnh celiac (không chịu được thức ăn có gluten nhất là trong lúa mì)

Trong những trường hợp này, thuốc bổ sung calcium có thể giúp chúng ta hấp thụ đủ calcium. Chúng ta nên hỏi ý kiến của bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để biết có nên uống thuốc bổ sung calcium hay không và nên uống loại nào, bao nhiêu và thế nào uống thế nào.

Thiếu calcium trong máu gây triệu chứng bịnh, nhưng nhiều calcium quá trong máu cũng có thể gây nguy hiểm cho sức khoẻ. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy dùng thuốc bổ sung calcium làm mức calcium trong máu vọt lên cao thình lình có thể có hại cho tim. Nhiều calcium quá trong máu cũng có thể tạo mãng mỡ trên thành mạch máu, làm cứng mạch máu và có thể làm đứng tim (heart attacks) hay gây đột quỵ (strokes). Một số nghiên cứu khác nếu lên nguy cơ ung thư tiền liêt tuyến lien hệ đến calcium cao trong máu. Vì vậy hấp thụ thụ calcium qua chế độ ăn uống là tốt nhất.

Nếu cần phải uống thuốc bổ sung calcium thì nên uống liều thấp mỗi lần. Có 4 loại thông dụng sau đây:

  • Calcium carbonate (40 % là calcium nguyên chất)
  • Calcium citrate (21% là calcium nguyên chất)
  • Calcium gluconate (9 % là calcium nguyên chất)
  • Calcium lactate (13 % là calcium nguyên chất)

Phản ứng phụ bất lợi

Không phải tất cả các loại thuốc bổ sung trên đều thích hợp cho mọi người. Phản ứng phụ không nhiều nhưng cũng có thể gồm táo bón, no hơi, buồn nôn đối với một số người. Calcium carbonate là loại bổ sung rẽ nhất nhưng cũng thường gây táo bón nhất. Chúng ta phải thử mới biết thứ nào hợp nhất cho mình.

Phản ứng với thuốc trị bịnh

Ngoài ra thuốc bổ sung calcium có thể phản ứng với những thuốc tậy chúng ta đang uống, nhất là thuốc huyết áp, thuốc trị tuyến giáp trạng, trụ sinh ,.. Vì vậy nên hỏi ý dược sĩ hay bác sĩ trước khi dùng thuốc bổ sung calcium.X

Xin Lưu ý: Bài này chỉ có mục đích thong tin chứ không chỉ cách trị bệnh.

Tham khảo:

Gropper S.S. & Smith, J.L. (2013)  Advanced Nutrition and Human Metabolism. International Edition (6th edition). WADSWORTH CENGAGE Learning. Canada

Khan, A. and Ana Gotter, A (2018). Hypocalcemia (Calcium deficiency Diseases). Healthline. https://www.healthline.com/health/calcium-deficiency-disease

Levy, J, (2018). Calcium deficiency. Are supplements the answer? https://draxe.com/calcium-deficiency/

Lewis JL III. (n.d.). Hypocalcemia (low level of calcium in the blood). 
merckmanuals.com/home/hormonal-and-metabolic-disorders/electrolyte-balance/hypocalcemia-low-level-of-calcium-in-the-blood

Mayo Clinic Staff. (2018) Calcium and calcium supplements: Achieving the right balance

https://www.mayoclinic.org/healthy-lifestyle/nutrition-and-healthy-eating/in-depth/calcium-supplements/art-20047097

Whitbread, D. (2019). 10 top foods highest in calcium. Myfooddata

https://www.myfooddata.com/articles/foods-high-in-calcium.php

T

Bệnh Loãng xương (Osteoporosis)

Phân nửa giới nữ và một phần tư nam giới trên 50 tuổi bị gãy xương vì bịnh loãng xương. 20 phần trăm người bị gãy xương mông chết trong vòng 1 năm và một phần ba thì không còn tự lo cho mình được nữa.

Chúng ta có thể phòng ngừa chứng loãng xương bằng cách ăn uống đầy đủ thức ăn có can–xi, vitamin D (hay hằng ngày phơi nắng đủ), rau quả, thức ăn chứa nhiều potassium, magnesium, chất đạm, vitamin C và vitamin K suốt cả đời từ lúc còn trẻ. Đổng thời chúng ta cần giới hạn tiêu thụ nước ngọt (chai hay hộp) / cà fê  và cần tập thể dục chịu nặng và tăng cường cơ bắp đều đều.

Nếu bị loãng xương thì ngoài cách ăn uống và sinh hoạt trên, chúng ta cần phải

  • Tái tạo cơ cấu căn bản của xương và sụn bằng thuốc bổ sung chứa glucosamine, chondroitin, MSM, Collagen, Gelatin, and Hyaluronic Acid
  • Làm cho xương mạnh khoẻ lại bằng cách bồi dưỡng xương với những chất dinh dưỡng  thiết yếu như  calcium, magnesium, vitamin D, Vitamin K2,  bô ron, strontium
  • Giảm đau và viêm để giúp xương chữa lành nhanh chóng và dễ dàng hơn bằng cách mỗi ngày bổ sung dầu cá hoặc dầu cây gai (hempseed) chứa nhiều ô-mê ga 3, uống trà xanh Matcha, ăn 1 nắm hạt thì là (fennel seeds), dầu dừa, nghệ, gừng, tỏi, ớt và
    • tránh uống rượu, tránh ăn đường, tránh thức ăn nhất là thịt biến chế, tránh dầu ăn thực vật (ngoại trừ dầu dừa).
  1. Sơ lược bệnh

“Bệnh loãng xương, hay còn gọi là bệnh giòn xương hoặc xốp xương, là hiện tượng xương liên tục mỏng dần và mật độ chất trong xương ngày càng thưa dần, điều này khiến xương giòn hơn, dễ tổn thương và dễ bị gãy dù chỉ bị chấn thương nhẹ.”

“Xương là một cơ quan luôn trong trạng thái liên tục đổi mới, xương mới sẽ liên tục được tạo ra và xương cũ bị phá vỡ. Khi còn trẻ, cơ thể tạo ra xương mới nhanh hơn, do đó khối lượng xương sẽ tăng lên. Hầu hết mọi người đạt được khối lượng xương cao nhất vào khoảng năm 20 tuổi. Khi lớn tuổi, khối lượng xương bị mất đi nhanh hơn được tạo ra, từ đó gây nên bệnh loãng xương.” (Nguồn: https://www.vinmec.com/vi/benh/loang-xuong-3027/)

Hình dưới đây cho thấy cấu trúc xương bình thường (hình 1 từ trái), xương loãng (hình 2 từ trái), lưng bình thường (hình 3) và lưng người loãng xương (hình 4)

Cơ cấu xương bình thường và xương bị loãng
Bình thường Loãng xương

(Nguồn: https://www.life-saving-naturalcures-and-naturalremedies.com/natural-cures-for-osteoporosis.html

B.  Triệu chứng:

Không nên coi thường chứng loãng xương vì một khi xương yếu và gãy thì gay go mới phục hồi và chữa trị được.Gãy xương hoặc phẩu thuật để chỉnh lại, có  thể gây biến chứng nguy hiểm cho tánh mạng và gây tật nguyền vĩnh viễn. Xương bị gãy có thể giới hạn khả năng di chuyển, sinh hoạt và gây tuyệt vọng, sầu khổ cho mình và cho người thân.

Một khi bị loãng xương thì sau đây là những triệu chứng thường gặp nhất

  • Nứt hoăc gãy xương, nhất là xương ở mông, cột sống và cổ tay. Xương chân, đầu gối và nơi khác trong cơ thể cũng có thể bị ảnh hưởng. (5)
  • Thấy khó khăn, bị giới hạn trong việc đi lại và sinh hoạt hằng ngày. Người già bị gãy xương cần có người chăm sóc lâu dài.
  • Đau xương, có khi đau thường xuyên và đau gắt, dữ dội.
  • Lùn đi, teo người lại
  • Khòm lưng vì cột sống yếu đi.
  • Có cảm giác cô đơn hay trầm cảm.
  • Dễ tử vong hơn bình thường. Khoảng 20 phần trăm người lớn tuổi bị gãy xương mông chết trong vòng 1 năm.

C. Nguyên Nhân

Bệnh loãng xương do nhiều yếu tố gây nên. Những nguyên nhân chính gồm

  • Lối sống sinh hoạt không hợp lý, ít vận động
  • Tuổi già
  • Có chế độ ăn uống thiếu dinh dưỡng nhất là những chất cần thiết cho sức khoẻ xương như canxi, phốt pho và vitamin D, K.
  • Giới tính: nữ giới có nguy cơ mắc bệnh loãng xương nhiều hơn nam giới (vì qua tuổi mãn kinh, lượng hoc môn estrogen cần thiết cho xương phát triển suy giảm nhanh chóng). Khi thiếu estrogen thì xương bị huỷ  nhiều hơn xương mới tạo.
  • Lượng canxi tạo xương lúc trẻ không được bổ sung đầy đủ. Khi về già, cùng với sự lão hóa, quá trình tạo xương giảm xuống và quá trình hủy xương diễn ra nhanh, mạnh khiến cho mật độ xương giảm sút, làm cho xương giòn và yếu, giảm sức chịu lực và dễ gãy hơn.”
  • Từng bị những bịnh như bịnh tự miễn, bịnh phổi, yếu gan, yếu thận.
  • Thiếu vitamin D lâu dài.
  • Dùng dài hạn một số thuốc tây có phản ứng hại cho xương như

– loại thuốc ức chế bơm proton dung để chữa no hơi, ợ chua, lở bao tử (omeprazole, lansoprazole, rabeprazole, esomeprazole, Prilosec, Prevacid, Dexilent, aspirin, Nexium, Zegerid, Naproxen,

– loại thuốc SSRIs trị trầm cảm (antidepressants) như Citalopram, Escitalopram, Fluoxetine, Fluvoxamine, Paroxetine, Sertraline.

– Loại thuốc ức chế aromatase (dung để trị ung thư vú bằng cách ức chế qui trình chuyển androgen thành estrogen) như letrozole, anastrozole, testolactone, exemestane.

– Loại thuốc trị hiếm muộn, trị rối loạn hóc môn

– Loại thuốc chống động kinh và

– Thuốc steroids như glucocorticoids or corticosteroids.

  • Bị căng thẳng tình cảm và trầm cảm cao độ.
  • Sút cân với chế độ ăn uống giới hạn khắt khe gây thiếu dinh dưỡng.

Những bệnh gây nguy cơ loãng xương có thể nêu lên là

  • Ung thư vú hay tiền liệt tuyến
  • Tiểu đường
  • Bệnh tuyến giáp trạng (Hyperparathyroidism or hyperthyroidism)
  • Hội chứng Cushing (do cơ thể tạo quá nhiều hoc môn cortisol)
  • Viêm ruột
  • Bệnh tự miễn như phong thấp (RA) , sài lang (lupus), đa xơ cứng (MS), viêm cột sống (ankylosing spondylitis)
  • Bịnh Parkinson
  • Phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), kể cả khí thủng (emphysema)
  • Hư thận mãn tính (chronic kidney disease)
  • Bệnh gan, kể cả xơ gan (cirrhosis)
  • Thay nội tạng


D. Phòng ngừa và chữa trị.

  • Tây y chữa trị bệnh loãng xương bằng những loại thuốc giúp cản qui trình huỷ xương như Bisphosphonates, Thuốc Ức chế Rank Ligand. Tây y cũng khuyên thay đổi chế độ ăn uống và tăng thể dục. Tuy nhiên những thuốc tây là hổn hợp nhân tạo (synthetic) này có phản ứng rất tai hại. Chúng có thể tăng tỉ trọng xương làm xương đặc hơn với thành phần hư hoại đáng phải huỷ chứ không phải loại xương mới lành mạnh. Vì vậy một trong những phản ứng phụ gồm cả tăng nguy cơ gãy xương. Những phản ứng tai hại khác còn tệ hại hơn là gây ung thư thực quản, loạn nhịp tim..
  • Liệu pháp tự nhiên:

Loãng xương là kết quả của một tiến trình lâu năm nên cũng không có cách chữa trị nhanh chóng. Tuy nhiên, khi áp dụng triệt để liệu pháp tự nhiên mỗi ngày, chúng ta có thể thấy dễ chịu một cách đáng để ý sau 3-4 tuần. Còn muốn hết hẵn thường cần 1 năm hoạc lâu hơn.

Liệu pháp tự nhiên gồm ba phần:

Thứ nhất là tái tạo cơ sở cấu trúc xương và xương sụn. Cơ sở cấu trúc xương (bone matrix) là nền tảng của xương giống như nền nhà. Xương sụn là phần bảo vệ xương khoi bị hư mòn vì va xát. Chúng ta cần thuốc bổ sung chứa glucosamine, chondroitin, MSM, Collagen, Gelatin, and Hyaluronic Acid để tái tạo cơ sở cấu trúc xương đã bị thoái hoá .

Tất cả những thứ này đều cần thiết để tái tạo cấu trúc cơ bản cho xương và sụn.. Chondroitin và axit hyaluronic có vai trò then chốt làm trơn khớp và cơ bắp. Chúng ta phải kiên trì uống những chất dinh dưỡng đó, không bỏ ngày nào. Nhưng cũng phải cẩn thận chọn nguồn cung cấp có chất lượng và đang tin tưởng. Thường thường tiền nào của nấy, nhưng nên đọc phản hồi của những người tiêu dùng trước khi chọn thuốc bổ sung. 

 Kế đó, quý bạn nên nấu và tiêu thụ nước hầm xương mỗi ngày. Nước xương hầm (bone broth) chứa đầy tất cả những thành phần cơ bản xây dựng  xương, khớp và mô nối kết. Nó chứa mọi chất dinh dưỡng cần có để chữa trị ( hay đảo ngược) chứng loãng xương. Hầm xương bò, xương heo, xương gà, xương cừu hay xương cá trong ít nhất 4-6 tiếng đồng hồ  là có được nước hầm xương ngon lành, bổ dưỡng cho xương.

Thứ hai là phải làm cho xương mạnh khoẻ trở lại bằng cách bồi bổ chúng với những chất dinh dưỡng xương thiết yếu như can xi, magnesium, bô ron, vitamin D, strontium và vitamin K. Can xi chiếm 70 % trọng lượng xương, nhưng không phải là chất dinh dưỡng quan trọng nhất cho xương. Hơn nữa nhiều can xi quá có thể tăng nguy cơ đột quỵ và đứng tim (strokes và heart attacks). Cấu tạo xương gồm hàng tá khoáng chất, chúng hoà hợp với nhau tạo nên xương mạnh mẽ. Calcium, magnesium, boron và strontium là 4 khoáng chất chủ yếu, nhưng còn nhiều khoáng chất khác với lượng nhỏ nhưng không kém quan trọng. Cần uống liều lượng thích hợp mới bảo đảm hấp thụ đầy đủ. Vitamin D và vitamin K2 cũng cực kỳ thiết yếu. Thiếu hai vitamin này thì không khoáng chất nào có thể tới xương và dính ở đó.

Calcium: Tốt nhất  là chọn coral calcium loại tốt có thêm vitamin D.

Magnesium tốt nhất là loại magnesium lỏng trong bình có thể xịt lên da bụng, chân và cánh tay mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần xịt 10-15 lần mỗi chổ.

Bô ron: Có thể bổ sung bằng thuốc bổ sung bô ron. Hàn the (borax) có chứa boron , Nhưng có nhiều quan điểm khác nhau về tai hại của hàn the cho sức khoẻ, nên chỉ dùng borax nếu được y sĩ bảo đảm an toàn.

Strontum có bán dưới dạng thuốc bổ sung. Liều lượng 680 mg 1 ngày trong 1 thử nghiệm lâm sàng cho thấy có công hiệu giảm hơn 40% nguy cơ gãy xương. Hiệu Doctor’s Best Strontium bone maker được nhiều người ưa chuộng.

Vitamin D: Cần 8.000-10.000 UI mỗi ngày mới đủ để trị loãng xương.

Vitamin K2: Có thể trước tiên dùng thuốc bổ sung probiotics nhưng vitamin K có nhiều trong thức ăn lên men nên cố ăn uống nhiều thức ăn lên men, như kim chi, cải chua muối, natto, sửa chua.

Thứ ba là phải giảm đau và viêm để qui trình chữa lành xương không bị ngăn trở bằng cách mỗi ngày bổ sung

  • dầu cá hoặc dầu cây gai (hempseed) chứa nhiều ô-mê ga 3,
  • uống trà xanh Matcha: Trà xanh Matcha chứa rất nhiều chất chống oxyt hoá, nhiều gấp 17 lần blueberries và 7 lần nhiều hơn so co la đậm (dark chocolate). Người Nhật dùng trà xanh, nhất là Trà xanh Matcha, và đậu nành lên men Natto là nhóm người ít bị loãng xương và gãy xương nhất thế giới.
  • ăn 1 nắm hạt thì là (fennel seeds). Hạt thì là có tính chất chống viêm và chống oxit hoá rất mạnh. Thêm vào đó hạt thì là chứa nhiều can xi, magnesium và những khoáng chất chất cần cho xương.
  • dung dầu dừa thay cho dầu ăn. Dầu dừa chứa axit lauric có tính chống viêm và chống đau rất hay. Dầu dừa cũng giúp cơ thể tang hấp thụ can xi và magnesium. Nó lại còn giúp đảo ngược chứng loãng xương do thiếu hoc mon estrogen gây ra nên rất hợp cho giới nữ. Ngoài ra hợp  chất chống oxy hoá của dầu dừa giúp bảo tồn cơ cấu của xương và phòng ngừa tình trạng huỷ xương do tình trạng thay đổi hoc môn gây ra. Xin nhớ là chỉ nên dung dầu dừa hữu cơ nguyên chất (organic virgin coconut oil).
  • dùng nghệ, gừng, tỏi, ớt trong thức ăn. Đây là những loại thức ăn gia vị tự nhiên chống viêm, chống oxit hoá rất tốt.

Tránh uống rượu, tránh ăn đường, tránh thức ăn nhất là thịt biến chế, tránh dầu ăn thực vật (ngoại trừ dầu dừa) cũng cần thiết để tránh cho cơ thể không bị thêm viêm và đau.

Lưu ý: Bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay ý kiến y sĩ.

Tham khảo

Goldschmidt, V. (2016) Top 5 Reasons Why You Should Never Take Osteoporosis Drugs. SaveInstitute. https://saveourbones.com/top-5-reasons-why-you-should-never-take-osteoporosis-drugs/#

Gropper S.S. & Smith, J.L. (2013)  Advanced Nutrition and Human Metabolism. International Edition (6th edition). WADSWORTH CENGAGE Learning. Canada

Levy, J. (2018). Osteoporosis Treatment and 7 natural ways to boost bone density. https://draxe.com/osteoporosis-treatment/

Sawyer, T. (2019). Best Natural Treatments for Osteoporosis & Bone Loss… https://www.life-saving-naturalcures-and-naturalremedies.com/natural-cures-for-osteoporosis.html