Trầm cảm do trình trạng căng thẳng lâu dài.

Tình trạng căng thẳng lâu dài, thiếu vận động và ăn uống thiếu chất xơ là 3 nguyên nhân chính làm mất thăng bằng hệ vi sinh đường rụột, làm giảm vi sinh tốt tăng vi sinh xấu, nghĩa là đường ruột có quá nhiều vi sinh xấu và ít vi sinh tốt.
Vi sinh tốt giúp cơ thể tạo vitamins, tổng hợp sinh axit amino (đạm) thiết yếu, giúp hấp thụ dinh dưỡng/ khoáng chất, tạo enzim tiêu hoá, hoá giải độc tố, tạo kháng sinh…. Trong khi đó, vi sinh xấu giành vitamins, gìành dinh dưỡng, làm cạn dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất, thải độc tố… thay thế tín hiệu, chất truyền dẫn thần kinh vui sướng bằng tín hiệu truyển dẫn thần kinh rối loạn, căng thẳng… Tình trạng căng thẳng lầu dài vi thế cũng làm cạn chất dinh dưỡng và khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cơ thể.

Kết quả nghiên cứu tổng hợp 7 thử nghiệm lâm sàng với những bịnh nhân bị trầm cảm nhiều (major depression) cho thấy triệu chứng trầm cảm được cải thiện một cách đáng kể trong mọi thử nghiệm dùng bổ sung vi sinh tốt (prebiotic và/hoặc probiotic) để chữa trị trầm cảm, bất kể mức độ trầm cảm nặng hay nhẹ, bất kể có thêm bịnh khác hay không và bất kể thời gian chữa trị ngắn hay dài (Noonan, Zaveri, Macaninch & Martyn, 2020). Những dòng vi sinh được dùng trong 7 thử nghiệm này gồm hoặc Lactobacilus plantarum 299 (2 x 10 tỉ CFU/1 ngày trong 11 ngày) hoặc Lactobacillus helveticus và Bifidobacterium longum (10 tỉ/ngày) hoặc Clostridium butyricum MIYAIRI 588 (40-60mg /ngày) hoặc Lactobacilus casaei, Lactobacillus acidophilus, Lactobacillus bulgarigus, Lactobacillus rhamnosus, Bifidobacterium breve, Bifidobacterium longum, Streptococus thermophilus và thức ăn Fructo-oligosaccharide cho vi sinh (prebiiotic) hoặc Lactobacillus acidophilus, Bifidobacterium bifidum, và Streptoccocus thermophiles (2 tỉ CFU tất cả /ngày) hoặc Lactobacillus acidophilus, Lactobacillus casei, Bifidobacterium bifidum (mỗi dòng 2 tỉ/ ngày).

Kết quả nghiên cứu y học cũng cho thấy người vận động / thể dục đều đặn có nhiều loại và lượng vi sinh tốt trong đường ruột hơn là những người không vân động/ thể dục và lượng vi sinh tốt trong người có thể tăng 40% nhờ thể dục (Morea, 2017).
Theo Bác sĩ Miller ở Đại học Harvard, vận động thể dục cũng là một liệu pháp trị trầm cảm có hiệu lực. Vì thể dục giúp phát triển tế bào thần kinh trong não (hippocampus), cải thiện sự kết nối các tế bào thần kinh, nên giúp giải toả chứng trầm cảm. (Harvard Medical School, 2021).
Thư giãn bằng cách thở sâu bằng bụng cũng cần thiết để giảm căng thẳng và giảm trầm cảm.

Liệu pháp tự nhiên trị trầm cảm vì căng thẵng trong cuộc sống vì vậy gồm

1/ Bổ sung đa vitamin B, vitamin C và khoáng chất khi còn bị căng thẳng. Những bổ sung dưới dạng Stress Formula, hay Stress Support có thể sử dụng cho mục đích này.
2/ uống bổ sung vi sinh tốt. có chứa một hay nhiều dòng vi sinh kể trên,
3/ vận động thể dục đều đặn mỗi ngày
4/ thư giãn bằng cách thở sâu bằng bụng 4-5 lần mỗi ngày mỗi lần 3-5 phút.
5/ ăn nhiều rau quả đa dạng có nhiều chất xơ mỗi ngày để giúp vi sinh tốt tăng trưởng.

Xin lưu ý:

Bài viết này chỉ có mục  đích thông tin chứ không thay thế chỉ dẫn của bác sĩ.

Tham khảo:

Harvard Medical School (2021). Exercise is an all-natural treatment to fight depression. https://www.health.harvard.edu/mind-and-mood/exercise-is-an-all-natural-treatment-to-fight-depression

Morea, J. (2017) Is Gut Health the key to a Good Night’s Sleep? Take care of the friendly flora within to help the sleep you need. Thrive Global. https://medium.com/thrive-global/is-gut-health-the-key-to-a-good-nights-sleep-414e9e7df545

Noonan S., Zaveri M., Macaninch E. & Martyn K. (2020). Food & Mood: a review of supplementary prebiotic and probiotic interventions in the treatement of anxiety and depression in adults. BMJ Nutrition, Prevention and Health.
https://nutrition.bmj.com/content/early/2020/06/09/bmjnph-2019-000053

 

Trầm cảm do hậu quả của Thuốc Tây y

Nguyên nhân trầm cảm thường gặp nhất là hậu quả sử dụng lâu ngày một số thuốc Tây có tác dụng làm cạn dinh dưỡng, vitamins B và khoáng chất quan trọng trong cơ thể.

Liệu pháp tự nhiên trị trầm cảm do hậu quả của thuốc tây là bồi dưỡng những dinh dưỡng và khoáng chất mà thuốc tây đã và đang làm cạn. Chẳng hạn như khi bị trầm cảm vì uống thuốc trị lo lắng thì chúng ta uống thuốc bổ sung melatonin. Hoặc sau khi uống thuốc trụ sinh, chúng ta nên bổi dưỡng thuốc bổ sung vi sinh tốt, bổ sung đa sinh tố và khoáng chất (multi vitamin).

Chúng ta có thể dùng bảng lịệt kê sau đây để biết cần uống bổ sung những chất dinh dưỡng nào để hoá giải hậu quả trầm cảm của thuốc tây mình đang hoặc đã uống.

Thuốc trị lo lắng: Diazepam (Valium) và Alprazolam (Xanax) làm cạn Melatonin
– Hầu hết thuốc kháng sinh antibiotics làm cạn Vi sinh tốt , Vitamin B1, B2, B3(niacin), B5 (pantothenic acid), B6 (peridoxine), B7, B9, B12, Vitamin K,
Potassium (đặc biệt là penicillin, amoxicillin and amoxicillin/clavulanic acid), Calcium (đặc biệt là tetracycline, minocycline, doxycycline),
Magnesium (đặc biệt là tetracycline, minocycline, doxycycline)
Iron ( đặc biệt là tetracycline, minocycline, doxycycline)
Zinc (đặc biệt là tetracycline, minocycline, doxycycline)
Trụ sinh Isoniazid làm cạn B3 (niacin, B6 (pyridoxine), Vitamin D Và Calcium
Trụ sinh Cycloserine (Seromycin) làm cạn Vitamin B3 (niacin), Vitamin B6 (pyridoxine), Vitamin B9 (folic acid), Vitamin B12, Calcium, Magnesium, Vitamin K.
Thuốc chống động kinh (anticonvulsion) làm cạn Vitamin B7 (biotin), B9 (folic acid), Vitamin D, Vitamin K, Calcium
Thuốc trị tiểu đường Metformin làm cạn Coenzyme Q10, Vitamin B12 và B9.
Thuốc trị dị ứng như Hydroxyzine (Atarax, Vistaril) lam cạn melatonin.
Thuốc chống viêm như Corticosteroids (prednisone, prednisolone (Orapred), methylprednisolone (Solu-Medrol, Medrol), dexamethasone (Decadron) làm cạn Vitamin A, B9 (folic acid), B12, Vitamin C, Vitamin D, Calcium, Chromium

Thuốc Levodopa trị Parkinson’s làm cạn Potassium, Vitamin B6 (pyridoxine), SAMe

Thuốc trị hô hấp Theophylline (Theo-24) làm cạn Vitamin B6 (Pyridoxin và Potassium)

Thuốc trị bịnh tim Digoxin (Lanoxin) làm cạn Calcium, Magnesium, Phosphorous, Vitamin B1 (Thiamine). Còn beta blockers như Acebutolol (Sectral), atenolol (Tenormin, Tenoretic), betaxolol (Kerlone), bisoprolol (Zebeta, Monocor), esmolol (Brevibloc), labetolol (Trandate), metoprolol (Lopressor, Toprol-XL), nadolol (Corgard), pindolol (Visken), propranolol (Inderal), sotalol, timolol (Blocadren) làm cạn Enzyme CoQ10 và Melatonin. Calcium channel blockers như Nifedipine (Nifedical, Procardia), verapamil (Calan, Verelan) làm cạn potassium.

Thuốc trị cao huyết áp Hydralazine (Apresoline) làm cạn CoQ10 và vitamin B6. Furosemide (Lasix) bumetanide (Bumex), ethacrynic acid (Edecrin), torsemide (Demadex) làm cạn Calcium, Magnesium, Potassium, Sodium, Zinc, Vitamin B1 (Thiamine), Vitamin B6 (pyridoxine), và Vitamin C.

– Thuốc giảm mỡ máu như Clofibrate (Atromid-S), fenofibrate (Tricor) làm cạn Vitamin B12, Vitamin E, Copper và Zinc

Thuốc uống ngừa thai làm cạn Vitamin B1 (Thiamine), Vitamin B2 (Riboflavin), Vitamin B3 (niacin), Vitamin B6 (pyridoxine), Vitamin B9 (folic acid), Vitamin B12, Vitamin C, Vitamin E, Magnesium, Selenium và Zinc

Thuốc trị gút Colchicine (Zyloprim) làm cạn Vitamin A, Vitamin B12, Calcium, Potassium, Phosphorous, Sodium

Thuốc chống trầm cảm Chlorpromazine (Thorazine), promazine (Sparine), thioridazine (Thioril), fluphenazine (Prolixin), perphenazine, prochlorperazine (Compazine) làm cạn Coenzyme Q10, Melatonin, Vitamin B2 (Riboflavin). Còn phenelzine (Nardil) làm cạn Vitamin B6 (pyridoxine).

Thuốc trị đường ruột như Cimetidine (Tagamet), famotidine (Pepcid), ranitidine (Zantac) làm cạn Vitamin B9 (folic acid), Vitamin B12, Vitamin D, Calcium, Iron và Zinc. Còn thuốc Esomeprazole (Nexium), dexlansoprazole (Kapidex), lansoprazole (Prevacid), omeprazole (Prilosec, Zegerid), pantoprazole (Protonix) làm cạn Vitamin B12.

(Nguồn:  Drug induced nutrient depletion. Pharmacy Solutions. https://pharmacysolutionsonline.com/drug-induced-nutrient-depletion.php

Xin lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thể chỉ dẫn của y bác sĩ.

Chứng Trầm Cảm (Depression)

Một người có triệu chứng trầm cảm khi cảm thấy chán nản, mệt mỏi, vô vọng, không muốn làm gì cả, không chú tâm được, thấy mình vô dụng, thấy sống vô ích, có lúc nghĩ tới chuyện tự tử, ngủ quá nhiều hoặc không ngủ được. Chứng trầm cảm có thể biểu hiện rối loạn tâm lý, hoặc rối loạn trong cơ thể. Tuổi càng cao, nguy cơ trầm cảm càng lớn. Tuy nhiên chứng trầm cảm cũng xãy ra khá nhiều trong giới trẻ. Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới, số người bị chứng trầm cảm gia tăng nhanh chóng, và họ ước lượng năm 2015, trên thế giới có 300 triệu người hay 4,4% dân cư thế giới bị chứng trầm cảm.

Có nhiều yếu tố / nguyên nhân gây chứng trầm cảm. Tuỳ trường hợp, tuỳ người trầm cảm có mức độ nặng nhẹ và thời gian kéo dài khác nhau. Dầu vậy bất cứ vì nguyên nhân nào, chúng ta bị trầm cảm khi thiếu hụt serotonin trong người. Serotonin là hoá chất dẫn truyền thần kinh được cơ thể tổng hợp thành từ dinh dưỡng tryptophan. Nó có tác dụng kích thích giúp chúng ta ăn, ngủ, tiêu hoá và cảm thấy vui, trầm tỉnh, chú tâm, lạc quan.

Liệu pháp tây y thì chỉ nhắm vào biện pháp ngăn cản tiến trình thu dọn serotonin (Selective Serotonin Re-uptake inhibitors – SSRI) để giữ serotonin trong máu lâu, không cho mất serotonin chứ không trị nguyên nhân tại sao mức serotonin suy giảm. Thuốc chống trầm cảm Tây y có thể có tác dụng nhanh chóng. Nhưng vì chúng thay đổi hoạt động tự nhiên trong cơ thể nên dùng lâu dài sẽ có nhiều tác dụng phụ có hại như làm chúng ta bất ổn, lo âu, buồn nôn, khó tiêu, rối loạn tiêu hoá, ăn không ngon, chóng váng, mất ngủ hoăc rất buồn ngủ, nhức đầu, tim đập không đều, rối trí… theo NHS (Cơ quan y tế quốc gia Anh quốc).

Liệu pháp tự nhiên thì chú trọng nguyên nhân nhiều hơn.

Liệu pháp tự nhiên vì thế chia chứng trầm cảm thành từng nhóm như sau:
– Trầm cảm vì ảnh hưởng của thuốc tây y đã và đang sử dụng
– Trầm cảm vì thiếu dinh dưỡng và vận động, phần lớn ở những người lớn tuổi
– Trầm cảm vì cuộc sống bị căng thẳng liên tục lâu dài.
– Trầm cảm vì lạm dụng / nghiện ngập rượu, cần sa hoặc ma tuý.
– Trầm cảm vì lâm vào hoàn cảnh nghiệt ngã vô vọng kể cả trong liên hệ tình cảm, xã hội, tài chánh, sự nghiệp, pháp luật.

1. Liêu pháp tự nhiên cấp thời:
Một trong 3 liệu pháp tự nhiên sau đây có thể được sử dụng cấp thời để giảm triệu chứng trầm cảm và giúp cho người bịnh lạc quan phấn khởi trong vóng 1 tuần lễ. Không phải liệu pháp nào cũng thích hợp và công hiệu cho mọi người. Vì vậy, nếu liệu pháp nào không công hiệu sau 7-10 ngày thì ngưng và thử liệu pháp khác (Bowden, 2011):

1.1 Bồi dưỡng chất 5-HTP (5-hydroxytrytophan): Cơ thể tạo ra serotonin từ chất đạm L-trytophan có trong chất đạm như thịt và hải sãn qua hai giai đoạn. Trước hết là chuyển L-tryptophan thành 5-HTP, rồi với B6 chuyển 5-HTP thành serotonin. Không những vậy, 5-HTP còn giúp tăng sản xuất hai chất dẫn truyền thần kinh(neurotransmitters) gây cảm giác vui sướng khác là dopamine và norepinephrine. Nhiều cuộc thừ nghiệm lâm sàng cho thấy 5-HTP có thể có công dụng nhanh hơn thuốc Tây flovoxamine đối với nhiều người.

Liều lượng được dùng: bắt đầu với 50 mg 5-HTP 3 lần 1 ngày và nếu cần tăng thêm sau 2 tuần. Liều thườbg dùng cho trầm cảm và nhức đầu là 300 mg một ngày. (Bowden, 2011)

1.2 Dược thảo St John’s Wort. Dược thảo này có công dụng tăng mức sản xuất seratonin của cơ thể. (Rowles, 2017) Dược thảo này được dân Âu châu sử dụng hàng ngàn năm nay đê trị chứng lo âu và trầm cảm. Công dụng của dược thảo này đối với trầm cảm được chứng nhận qua nhiều thử nghiệm lâm sàng, với ít phản ứng xấu so với thuốc tây và được đăng 1996 trên Tạp chí Y khoa Anh quốc (British Medical Journal ).Tại Đức từ năm 1998, dược thảo St John’s Wort được chính thức công nhận là một trong những thuốc chống trầm cảm chính. Và là thuốc chống trầm cảm số một được cho toa ở Đức và nhiều nước Âu châu. Tuy nhiên công dụng của St John’s wort thường chậm hơn thuốc chốnh trầm cảm Tây y và không thích hợp cho trường hợp trầm cảm nghiêm trọng. (Pietrangelo, 2018).
Tuy nhiên không ai cho bệnh nhân uống St John’ s Wort uống chung với thuốc chống trầm cảm Tây y khác vì sẽ làm tăng lượng serotonin lên quá cao và gây hội chứng serotonin nguy hiểm. Hội chứng serotonin gồm chứng rối trí, sốt, khích động, tim đập nhanh, run rẩy, đổ mồ hôi, tiêu chảy và co giật bắp thịt) (Pietrangelo, 2018). St Jon’s wort cũng có thể có phản ứng có hại với các thứ thuốc Tây khác.

Liều uống St John’s Wort: 300 mg 1 ngày, (loại St John’s Wort tiêu chuẩn 0,3%) (Bowden, 2011).

1.3 Bồi dưỡng SAMe (S-Adenosyl methionine). SAMe không phải là một loại vitamin hay dược thảo mà một phân tử do mọi tế bào sống kể cả tế bào trong cơ thể chúng ta sản xuất. Theo Tiến sĩ Jonny Bowden, một nhà nghiên cứu và tác giả nhiều sách về dinh dưỡng, SAMe hầu như là chất tự nhiên chống trầm cảm hữu hiệu nhất. Điều hay nhất, theo Jonny, là chỉ trong vòng 1 tuần bệnh nhân biết ngay nó có công dụng hay không. SAMe có công dụng như một số thuốc tây chống trầm cảm nhưng với rất ít tác dụng phụ xấu. Đặc biệt một bài tổng hợp kết qủa nghiên cứu của 11 thử nghiệm lâm sàng sử dụng SAMe đăng trên Clinical Investigative Medicine tháng 6 năm 2005 kết luận rằng SAMe đóng một vai trò đáng kể trong việc chữa trị chứng trầm cảm chính của người lớn (Bowden).

Liều lượng SAMe được sử dụng: 800 mg một ngày chia làm 2 lần (mỗi lần 400mg, sáng và chiều) và không nên dùng SAMe khi bị chứng rối loạn lưỡng cực (bipolar – lúc thì rất chán nản, lúc thì quá lạc quan).

Liệu pháp tự nhiên trị trầm cảm do hậu quả thuốc Tây, do thiếu dinh dưỡng, do cuộc sống căng thẳng …. Sẽ được trình bày trong những bài viết kế tiếp.

Xin lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế chỉ dần của y sĩ, bác sĩ.

Xin thông báo: Tử 16 tháng 8 năm 2021. TRang mạng www.yhoctunhien.online sẽ không còn trên mạng internet nữa. Những bài viết trong thời gian qua sẽ được gộp lại thành một ebook pdf cho mọi người doanload và bài mới sẽ tiếp tục trên facebook page “Tôi học y học tự nhiên”.

Tham khảo:

Bowden, J. (2011). The Most Effective Natural Cures on Earth. Fair Winds Press, Beverly, Massachusetts.

Pietrangelo A. (2018). St John’s Wort: the benefits and the dangers. Healthline. URL: https://www.healthline.com/health-news/is-st-johns-wort-safe-080615#The-benefits-of-St.-Johns-wort

Rowles, A. (2017) How St John’s Wort fight Depression. Healthline. URL: https://www.healthline.com/nutrition/st-johns-wort