Triệu chứng thiếu Can-xi (Calcium)

Can-xi hay Calcium là khoáng chất có khối lượng lớn nhất trong cơ thể (khoảng 1,4 kilo). 99% calcium của cơ thể nằm trong xương và răng. Tuy nhiên 1% calcium còn lại nằm bên trong các tế bào cơ thể và  trong máu, bạch huyết (lymph) và lưu chất trong cơ thể (body fluids). Phần calcium này tuy nhỏ nhưng đóng vai trò rất thiết yếu trong việc điều hợp hoạt động cơ thể, từ diễn trình đông máu đến vận động cơ bắp, khởi động các enzymes và nhiều quy trình vi bào (cellular processes) trong cơ thể. Cơ thể cần Calcium để kiểm soát lượng magnesium, phốt pho và potassium trong máu . Những khoáng chất này làm việc với nhau để giữ cân bằng với nhau. Vì vậy cần nên tránh tình trạng thiếu calcium cũng như thiếu magnesium và postassium.

Cơ thể thường cần hấp thụ mỗi ngày 1 gram calcium nguyên chất (elemental) mỗi ngày. Tuy nhiên đàn bà trên 50 tuổi và đàn ông trên 70 tuổi cần nhiều hơn, trung bình 1.2 gram calcium nguyên chất một ngày..

Thiếu calcium lâu dài có thể gây những triêu chứng sau đây :

  • Xương dòn, yếu, dễ gãy vì chứng loãng xương.
  • Rối loạn đông máu
  • Yếu sức và mệt mõi.
  • Co giật cơ bắp (muscle spasm) và chuột rút
  • Cảm giác tê hoặc bị kim đâm chich (feeling pins and needles)
  • Dễ cáu gắt
  • Trẻ em chậm lớn và chậm pháp triễn.
  • Cao huyết áp và nhịp tim bất thường
  • Trầm cảm, rối trí và hay quên

Nguyên nhân thiếu calcium trong máu

  • Ăn uống thức ăn không có đủ calcium – thường xãy ra cho những người ăn rau cải mà thiếu sản phẩm sữa có nhiều calcium.
  • Calcium không được hấp thụ đúng mức hoặc bị thất thoát vì
    • Thiếu vitamin D
    • Ăn uống nhiều thức ăn uống có chất caffeine
    • Ăn uống thức ăn có calcium cùng với thức ăn có axit oxalic. Axit oxalic ngăn cản không cho calcium hấp thụ vào cơ thể khiến calcium bị thải ra với phân. Những thức ăn có axit oxalic gồm  cây đại hoàng (rhubarb), củ cải beet, rau cần tây (celery), cà tím, và trái cây như dâu tây, trái việt quất (blueberries), trái mâm xôi (blackberries), trái lý gai (gooseberries), hạt có dầu như đâu phụng, hạt pecans (nuts) và thức uống như cacoa, trà, Ovaltine.
    • Nhiều magnesium và zinc tiêu thụ cùng lúc tiêu thụ calcium hoặc thức ăn chứa calcium.
    • Hệ tiêu hoá và lá lách bị bịnh như viêm lá lách, viêm đường ruột, xơ nang (cystic fibrosis)
    • Uống thuốc tây có ảnh hưởng giảm mức hấp thụ calcium. Điển hình là thuốc trị ợ hơi hay lỡ loét thuộc loại ức chê bơm proton (pump inhibitors) như Prilosec [omeprazole], Prevacid , Nexium [esomeprazole] và thuốc  phenytoin, phenobarbital, rifampin, corticosteroids
  • Thay đổi hoc môn – thường xãy ra cho phụ nữ sau mãn kinh.
  • Yếu thận làm giảm khả năng thu hồi calcium.
  • Ăn quá nhiều chất đam như thịt hoặc nhiều muối làm cho cơ thể tăng mức thải calcium.

Phương cách bồi bổ và tránh thiếu hụt calcium

Chúng ta có thể và nên phòng chống tình trạng thiếu calcium bằng cách bao gồm thức ăn chứa nhiều calcium trong chế độ ăn uống của mình.

Thức ăn giàu calcium gốm:

  • Thực phẩm gốc sữa bò như phó mat, sữa bò, và sữa chua
    • Rau màu xanh đậm như hoa cải xanh (broccoli) và cải xoăn (kale), rau cải ngọt, rau dền, okra.
    • Đâu phụ và đậu ve
    • Hạt vừng (mè), hạt hạnh nhân (almonds)
    • Trái sung (vả) khô (dried figs0
    • Yến mạch (oats)
    • Cá trạch, cá hồi , cá trích, cá mòi

(http://soha.vn/8-thuc-pham-giau-canxi-nhat-an-hang-ngay-se-khoi-can-uong-thuoc-20160712180740561.htm)

Tuy nhiên chúng ta phải để ý tránh những yếu tố làm giảm khả năng hấp thụ calcium kể trên. Chẳng hạn như

  • không uống thuốc tây có hại cho việc hấp thụ calcium trong vòng 2 tiếng đồng hồ trước và sau bữa ăn có calcium.
  • Không ăn thức ăn nhiều calcium cùng một lúc với rau quả có axit oxalic và axit phytic như cần tây,  dâu tây, đậu phộng…
  • Tránh uống magnesium và zinc gần bữa ăn có nhiều calcium.
  • Tránh ăn quá nhiều thịt và thức ăn mặn.

Trong khi đó chúng ta cần phơi nắng hay uống vitamin D cho đủ để tăng khả năng hấp thụ calcium. Lượng vitamin D cần có cho người trên 50 tuổi là 800-1000 đơn vị quốc tế (UI) mỗi ngày.

Đối với chứng bịnh loãng xương, chỉ thêm calcium trong chế độ ăn uống không đủ để làm xương bớt loãng. Xin xem “ cách trị bệnh loãng xương tự nhiên”

Bổ sung Calcium (Calcium supplements)

Ngay cả khi chúng ta có chế độ ăn uống lành mạnh, cân bằng, chúng ta vẫn thấy khó hấp thụ đủ calcium, nhất là khi chúng ta

  • chỉ ăn rau quả,
  • bị loãng xương,
  • không chịu được lactose trong sữa,
  • phải uống thuốc tây corticosteroids dài hạn.
  • Bị rối loạn viêm đường ruột, bệnh celiac (không chịu được thức ăn có gluten nhất là trong lúa mì)

Trong những trường hợp này, thuốc bổ sung calcium có thể giúp chúng ta hấp thụ đủ calcium. Chúng ta nên hỏi ý kiến của bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để biết có nên uống thuốc bổ sung calcium hay không và nên uống loại nào, bao nhiêu và thế nào uống thế nào.

Thiếu calcium trong máu gây triệu chứng bịnh, nhưng nhiều calcium quá trong máu cũng có thể gây nguy hiểm cho sức khoẻ. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy dùng thuốc bổ sung calcium làm mức calcium trong máu vọt lên cao thình lình có thể có hại cho tim. Nhiều calcium quá trong máu cũng có thể tạo mãng mỡ trên thành mạch máu, làm cứng mạch máu và có thể làm đứng tim (heart attacks) hay gây đột quỵ (strokes). Một số nghiên cứu khác nếu lên nguy cơ ung thư tiền liêt tuyến lien hệ đến calcium cao trong máu. Vì vậy hấp thụ thụ calcium qua chế độ ăn uống là tốt nhất.

Nếu cần phải uống thuốc bổ sung calcium thì nên uống liều thấp mỗi lần. Có 4 loại thông dụng sau đây:

  • Calcium carbonate (40 % là calcium nguyên chất)
  • Calcium citrate (21% là calcium nguyên chất)
  • Calcium gluconate (9 % là calcium nguyên chất)
  • Calcium lactate (13 % là calcium nguyên chất)

Phản ứng phụ bất lợi

Không phải tất cả các loại thuốc bổ sung trên đều thích hợp cho mọi người. Phản ứng phụ không nhiều nhưng cũng có thể gồm táo bón, no hơi, buồn nôn đối với một số người. Calcium carbonate là loại bổ sung rẽ nhất nhưng cũng thường gây táo bón nhất. Chúng ta phải thử mới biết thứ nào hợp nhất cho mình.

Phản ứng với thuốc trị bịnh

Ngoài ra thuốc bổ sung calcium có thể phản ứng với những thuốc tậy chúng ta đang uống, nhất là thuốc huyết áp, thuốc trị tuyến giáp trạng, trụ sinh ,.. Vì vậy nên hỏi ý dược sĩ hay bác sĩ trước khi dùng thuốc bổ sung calcium.X

Xin Lưu ý: Bài này chỉ có mục đích thong tin chứ không chỉ cách trị bệnh.

Tham khảo:

Gropper S.S. & Smith, J.L. (2013)  Advanced Nutrition and Human Metabolism. International Edition (6th edition). WADSWORTH CENGAGE Learning. Canada

Khan, A. and Ana Gotter, A (2018). Hypocalcemia (Calcium deficiency Diseases). Healthline. https://www.healthline.com/health/calcium-deficiency-disease

Levy, J, (2018). Calcium deficiency. Are supplements the answer? https://draxe.com/calcium-deficiency/

Lewis JL III. (n.d.). Hypocalcemia (low level of calcium in the blood). 
merckmanuals.com/home/hormonal-and-metabolic-disorders/electrolyte-balance/hypocalcemia-low-level-of-calcium-in-the-blood

Mayo Clinic Staff. (2018) Calcium and calcium supplements: Achieving the right balance

https://www.mayoclinic.org/healthy-lifestyle/nutrition-and-healthy-eating/in-depth/calcium-supplements/art-20047097

Whitbread, D. (2019). 10 top foods highest in calcium. Myfooddata

https://www.myfooddata.com/articles/foods-high-in-calcium.php

T

Bệnh Loãng xương (Osteoporosis)

Phân nửa giới nữ và một phần tư nam giới trên 50 tuổi bị gãy xương vì bịnh loãng xương. 20 phần trăm người bị gãy xương mông chết trong vòng 1 năm và một phần ba thì không còn tự lo cho mình được nữa.

Chúng ta có thể phòng ngừa chứng loãng xương bằng cách ăn uống đầy đủ thức ăn có can–xi, vitamin D (hay hằng ngày phơi nắng đủ), rau quả, thức ăn chứa nhiều potassium, magnesium, chất đạm, vitamin C và vitamin K suốt cả đời từ lúc còn trẻ. Đổng thời chúng ta cần giới hạn tiêu thụ nước ngọt (chai hay hộp) / cà fê  và cần tập thể dục chịu nặng và tăng cường cơ bắp đều đều.

Nếu bị loãng xương thì ngoài cách ăn uống và sinh hoạt trên, chúng ta cần phải

  • Tái tạo cơ cấu căn bản của xương và sụn bằng thuốc bổ sung chứa glucosamine, chondroitin, MSM, Collagen, Gelatin, and Hyaluronic Acid
  • Làm cho xương mạnh khoẻ lại bằng cách bồi dưỡng xương với những chất dinh dưỡng  thiết yếu như  calcium, magnesium, vitamin D, Vitamin K2,  bô ron, strontium
  • Giảm đau và viêm để giúp xương chữa lành nhanh chóng và dễ dàng hơn bằng cách mỗi ngày bổ sung dầu cá hoặc dầu cây gai (hempseed) chứa nhiều ô-mê ga 3, uống trà xanh Matcha, ăn 1 nắm hạt thì là (fennel seeds), dầu dừa, nghệ, gừng, tỏi, ớt và
    • tránh uống rượu, tránh ăn đường, tránh thức ăn nhất là thịt biến chế, tránh dầu ăn thực vật (ngoại trừ dầu dừa).
  1. Sơ lược bệnh

“Bệnh loãng xương, hay còn gọi là bệnh giòn xương hoặc xốp xương, là hiện tượng xương liên tục mỏng dần và mật độ chất trong xương ngày càng thưa dần, điều này khiến xương giòn hơn, dễ tổn thương và dễ bị gãy dù chỉ bị chấn thương nhẹ.”

“Xương là một cơ quan luôn trong trạng thái liên tục đổi mới, xương mới sẽ liên tục được tạo ra và xương cũ bị phá vỡ. Khi còn trẻ, cơ thể tạo ra xương mới nhanh hơn, do đó khối lượng xương sẽ tăng lên. Hầu hết mọi người đạt được khối lượng xương cao nhất vào khoảng năm 20 tuổi. Khi lớn tuổi, khối lượng xương bị mất đi nhanh hơn được tạo ra, từ đó gây nên bệnh loãng xương.” (Nguồn: https://www.vinmec.com/vi/benh/loang-xuong-3027/)

Hình dưới đây cho thấy cấu trúc xương bình thường (hình 1 từ trái), xương loãng (hình 2 từ trái), lưng bình thường (hình 3) và lưng người loãng xương (hình 4)

Cơ cấu xương bình thường và xương bị loãng
Bình thường Loãng xương

(Nguồn: https://www.life-saving-naturalcures-and-naturalremedies.com/natural-cures-for-osteoporosis.html

B.  Triệu chứng:

Không nên coi thường chứng loãng xương vì một khi xương yếu và gãy thì gay go mới phục hồi và chữa trị được.Gãy xương hoặc phẩu thuật để chỉnh lại, có  thể gây biến chứng nguy hiểm cho tánh mạng và gây tật nguyền vĩnh viễn. Xương bị gãy có thể giới hạn khả năng di chuyển, sinh hoạt và gây tuyệt vọng, sầu khổ cho mình và cho người thân.

Một khi bị loãng xương thì sau đây là những triệu chứng thường gặp nhất

  • Nứt hoăc gãy xương, nhất là xương ở mông, cột sống và cổ tay. Xương chân, đầu gối và nơi khác trong cơ thể cũng có thể bị ảnh hưởng. (5)
  • Thấy khó khăn, bị giới hạn trong việc đi lại và sinh hoạt hằng ngày. Người già bị gãy xương cần có người chăm sóc lâu dài.
  • Đau xương, có khi đau thường xuyên và đau gắt, dữ dội.
  • Lùn đi, teo người lại
  • Khòm lưng vì cột sống yếu đi.
  • Có cảm giác cô đơn hay trầm cảm.
  • Dễ tử vong hơn bình thường. Khoảng 20 phần trăm người lớn tuổi bị gãy xương mông chết trong vòng 1 năm.

C. Nguyên Nhân

Bệnh loãng xương do nhiều yếu tố gây nên. Những nguyên nhân chính gồm

  • Lối sống sinh hoạt không hợp lý, ít vận động
  • Tuổi già
  • Có chế độ ăn uống thiếu dinh dưỡng nhất là những chất cần thiết cho sức khoẻ xương như canxi, phốt pho và vitamin D, K.
  • Giới tính: nữ giới có nguy cơ mắc bệnh loãng xương nhiều hơn nam giới (vì qua tuổi mãn kinh, lượng hoc môn estrogen cần thiết cho xương phát triển suy giảm nhanh chóng). Khi thiếu estrogen thì xương bị huỷ  nhiều hơn xương mới tạo.
  • Lượng canxi tạo xương lúc trẻ không được bổ sung đầy đủ. Khi về già, cùng với sự lão hóa, quá trình tạo xương giảm xuống và quá trình hủy xương diễn ra nhanh, mạnh khiến cho mật độ xương giảm sút, làm cho xương giòn và yếu, giảm sức chịu lực và dễ gãy hơn.”
  • Từng bị những bịnh như bịnh tự miễn, bịnh phổi, yếu gan, yếu thận.
  • Thiếu vitamin D lâu dài.
  • Dùng dài hạn một số thuốc tây có phản ứng hại cho xương như

– loại thuốc ức chế bơm proton dung để chữa no hơi, ợ chua, lở bao tử (omeprazole, lansoprazole, rabeprazole, esomeprazole, Prilosec, Prevacid, Dexilent, aspirin, Nexium, Zegerid, Naproxen,

– loại thuốc SSRIs trị trầm cảm (antidepressants) như Citalopram, Escitalopram, Fluoxetine, Fluvoxamine, Paroxetine, Sertraline.

– Loại thuốc ức chế aromatase (dung để trị ung thư vú bằng cách ức chế qui trình chuyển androgen thành estrogen) như letrozole, anastrozole, testolactone, exemestane.

– Loại thuốc trị hiếm muộn, trị rối loạn hóc môn

– Loại thuốc chống động kinh và

– Thuốc steroids như glucocorticoids or corticosteroids.

  • Bị căng thẳng tình cảm và trầm cảm cao độ.
  • Sút cân với chế độ ăn uống giới hạn khắt khe gây thiếu dinh dưỡng.

Những bệnh gây nguy cơ loãng xương có thể nêu lên là

  • Ung thư vú hay tiền liệt tuyến
  • Tiểu đường
  • Bệnh tuyến giáp trạng (Hyperparathyroidism or hyperthyroidism)
  • Hội chứng Cushing (do cơ thể tạo quá nhiều hoc môn cortisol)
  • Viêm ruột
  • Bệnh tự miễn như phong thấp (RA) , sài lang (lupus), đa xơ cứng (MS), viêm cột sống (ankylosing spondylitis)
  • Bịnh Parkinson
  • Phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), kể cả khí thủng (emphysema)
  • Hư thận mãn tính (chronic kidney disease)
  • Bệnh gan, kể cả xơ gan (cirrhosis)
  • Thay nội tạng


D. Phòng ngừa và chữa trị.

  • Tây y chữa trị bệnh loãng xương bằng những loại thuốc giúp cản qui trình huỷ xương như Bisphosphonates, Thuốc Ức chế Rank Ligand. Tây y cũng khuyên thay đổi chế độ ăn uống và tăng thể dục. Tuy nhiên những thuốc tây là hổn hợp nhân tạo (synthetic) này có phản ứng rất tai hại. Chúng có thể tăng tỉ trọng xương làm xương đặc hơn với thành phần hư hoại đáng phải huỷ chứ không phải loại xương mới lành mạnh. Vì vậy một trong những phản ứng phụ gồm cả tăng nguy cơ gãy xương. Những phản ứng tai hại khác còn tệ hại hơn là gây ung thư thực quản, loạn nhịp tim..
  • Liệu pháp tự nhiên:

Loãng xương là kết quả của một tiến trình lâu năm nên cũng không có cách chữa trị nhanh chóng. Tuy nhiên, khi áp dụng triệt để liệu pháp tự nhiên mỗi ngày, chúng ta có thể thấy dễ chịu một cách đáng để ý sau 3-4 tuần. Còn muốn hết hẵn thường cần 1 năm hoạc lâu hơn.

Liệu pháp tự nhiên gồm ba phần:

Thứ nhất là tái tạo cơ sở cấu trúc xương và xương sụn. Cơ sở cấu trúc xương (bone matrix) là nền tảng của xương giống như nền nhà. Xương sụn là phần bảo vệ xương khoi bị hư mòn vì va xát. Chúng ta cần thuốc bổ sung chứa glucosamine, chondroitin, MSM, Collagen, Gelatin, and Hyaluronic Acid để tái tạo cơ sở cấu trúc xương đã bị thoái hoá .

Tất cả những thứ này đều cần thiết để tái tạo cấu trúc cơ bản cho xương và sụn.. Chondroitin và axit hyaluronic có vai trò then chốt làm trơn khớp và cơ bắp. Chúng ta phải kiên trì uống những chất dinh dưỡng đó, không bỏ ngày nào. Nhưng cũng phải cẩn thận chọn nguồn cung cấp có chất lượng và đang tin tưởng. Thường thường tiền nào của nấy, nhưng nên đọc phản hồi của những người tiêu dùng trước khi chọn thuốc bổ sung. 

 Kế đó, quý bạn nên nấu và tiêu thụ nước hầm xương mỗi ngày. Nước xương hầm (bone broth) chứa đầy tất cả những thành phần cơ bản xây dựng  xương, khớp và mô nối kết. Nó chứa mọi chất dinh dưỡng cần có để chữa trị ( hay đảo ngược) chứng loãng xương. Hầm xương bò, xương heo, xương gà, xương cừu hay xương cá trong ít nhất 4-6 tiếng đồng hồ  là có được nước hầm xương ngon lành, bổ dưỡng cho xương.

Thứ hai là phải làm cho xương mạnh khoẻ trở lại bằng cách bồi bổ chúng với những chất dinh dưỡng xương thiết yếu như can xi, magnesium, bô ron, vitamin D, strontium và vitamin K. Can xi chiếm 70 % trọng lượng xương, nhưng không phải là chất dinh dưỡng quan trọng nhất cho xương. Hơn nữa nhiều can xi quá có thể tăng nguy cơ đột quỵ và đứng tim (strokes và heart attacks). Cấu tạo xương gồm hàng tá khoáng chất, chúng hoà hợp với nhau tạo nên xương mạnh mẽ. Calcium, magnesium, boron và strontium là 4 khoáng chất chủ yếu, nhưng còn nhiều khoáng chất khác với lượng nhỏ nhưng không kém quan trọng. Cần uống liều lượng thích hợp mới bảo đảm hấp thụ đầy đủ. Vitamin D và vitamin K2 cũng cực kỳ thiết yếu. Thiếu hai vitamin này thì không khoáng chất nào có thể tới xương và dính ở đó.

Calcium: Tốt nhất  là chọn coral calcium loại tốt có thêm vitamin D.

Magnesium tốt nhất là loại magnesium lỏng trong bình có thể xịt lên da bụng, chân và cánh tay mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần xịt 10-15 lần mỗi chổ.

Bô ron: Có thể bổ sung bằng thuốc bổ sung bô ron. Hàn the (borax) có chứa boron , Nhưng có nhiều quan điểm khác nhau về tai hại của hàn the cho sức khoẻ, nên chỉ dùng borax nếu được y sĩ bảo đảm an toàn.

Strontum có bán dưới dạng thuốc bổ sung. Liều lượng 680 mg 1 ngày trong 1 thử nghiệm lâm sàng cho thấy có công hiệu giảm hơn 40% nguy cơ gãy xương. Hiệu Doctor’s Best Strontium bone maker được nhiều người ưa chuộng.

Vitamin D: Cần 8.000-10.000 UI mỗi ngày mới đủ để trị loãng xương.

Vitamin K2: Có thể trước tiên dùng thuốc bổ sung probiotics nhưng vitamin K có nhiều trong thức ăn lên men nên cố ăn uống nhiều thức ăn lên men, như kim chi, cải chua muối, natto, sửa chua.

Thứ ba là phải giảm đau và viêm để qui trình chữa lành xương không bị ngăn trở bằng cách mỗi ngày bổ sung

  • dầu cá hoặc dầu cây gai (hempseed) chứa nhiều ô-mê ga 3,
  • uống trà xanh Matcha: Trà xanh Matcha chứa rất nhiều chất chống oxyt hoá, nhiều gấp 17 lần blueberries và 7 lần nhiều hơn so co la đậm (dark chocolate). Người Nhật dùng trà xanh, nhất là Trà xanh Matcha, và đậu nành lên men Natto là nhóm người ít bị loãng xương và gãy xương nhất thế giới.
  • ăn 1 nắm hạt thì là (fennel seeds). Hạt thì là có tính chất chống viêm và chống oxit hoá rất mạnh. Thêm vào đó hạt thì là chứa nhiều can xi, magnesium và những khoáng chất chất cần cho xương.
  • dung dầu dừa thay cho dầu ăn. Dầu dừa chứa axit lauric có tính chống viêm và chống đau rất hay. Dầu dừa cũng giúp cơ thể tang hấp thụ can xi và magnesium. Nó lại còn giúp đảo ngược chứng loãng xương do thiếu hoc mon estrogen gây ra nên rất hợp cho giới nữ. Ngoài ra hợp  chất chống oxy hoá của dầu dừa giúp bảo tồn cơ cấu của xương và phòng ngừa tình trạng huỷ xương do tình trạng thay đổi hoc môn gây ra. Xin nhớ là chỉ nên dung dầu dừa hữu cơ nguyên chất (organic virgin coconut oil).
  • dùng nghệ, gừng, tỏi, ớt trong thức ăn. Đây là những loại thức ăn gia vị tự nhiên chống viêm, chống oxit hoá rất tốt.

Tránh uống rượu, tránh ăn đường, tránh thức ăn nhất là thịt biến chế, tránh dầu ăn thực vật (ngoại trừ dầu dừa) cũng cần thiết để tránh cho cơ thể không bị thêm viêm và đau.

Lưu ý: Bài này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay ý kiến y sĩ.

Tham khảo

Goldschmidt, V. (2016) Top 5 Reasons Why You Should Never Take Osteoporosis Drugs. SaveInstitute. https://saveourbones.com/top-5-reasons-why-you-should-never-take-osteoporosis-drugs/#

Gropper S.S. & Smith, J.L. (2013)  Advanced Nutrition and Human Metabolism. International Edition (6th edition). WADSWORTH CENGAGE Learning. Canada

Levy, J. (2018). Osteoporosis Treatment and 7 natural ways to boost bone density. https://draxe.com/osteoporosis-treatment/

Sawyer, T. (2019). Best Natural Treatments for Osteoporosis & Bone Loss… https://www.life-saving-naturalcures-and-naturalremedies.com/natural-cures-for-osteoporosis.html