Công dụng và cách dùng Dầu Ô liu, dầu ăn tuyệt vời cho sức khoẻ

Dầu ô liu là loại mỡ chính đóng góp khoảng 30 % năng lượng thực phẩm của dân vùng Địa Trung Hải. Họ được công nhận là có một trong những chế độ ăn uống lành mạnh nhất trên thế giới nên sống khoẻ mạnh, ít bị bệnh tim mạch và những bệnh mãn tính.

Người dân Địa Trung Hải (CDDTH) trung bình dùng dầu mỡ để cung ứng 36-40 % tổng số năng lượng ca lô ri hằng ngày (so vói 33% ở Mỹ) trong đó mỡ bảo hoà cung ứng 7-10% (so với 11% ở Mỹ), mỡ đơn kết không bảo hoà (MUFA) 19-25% (so với 12.5 % ở Mỹ) và mỡ đa kết không bảo hoà (PUFA) chỉ có 3-6% (so với 7% ở Mỹ).

Dầu ô liu là dầu ăn tốt nhất cho sức khoẻ trong các loại dầu ăn vì nó có thành phần chủ yếu (71%) là axit béo Ômêga 9 còn gọi là axit oleic và popyphenol oleocanthal.

Chủ yếu dầu Ô liu gồm những thành phần dinh dưỡng chính sau đây:

• Mỡ béo bảo hoà (Saturated fat): 13.8%.
• Mỡ béo đơn kết không bảo hoà (Monounsaturated fat): 73% – hầu hết là axit ô lê ic có 18 car bon

• Omega-6: 9.7%.
• Omega-3: 0.76%.
• Vitamin E: 72% of the RDA.
• Vitamin K: 75% of the RDA.

Cơ thể cần axit Ôleic để giữ màng tế bào mềm dẻo linh động, đảm bảo cho màng bọc tế bào dày đủ để chống ngoại xâm, vận chuyển khóang chất và ứng đáp tác động hoc môn. Axit Ô lê ic còn là nguồn năng lượng chính cho các tế bào trong việc sản xuất và sinh tổng hợp (biosyntheisis) nhiều chất chuyển hoá (metabolites

Axit ô lê ic giúp dầu ô liu có công dụng

  1. giảm huyết áp
  2. Bảo vệ màng mạch máu
  3. Ngừa máu đông – giảm nguy cơ quỵ tim (heat attacks) hay đột quỵ (strokes)
  4. giảm mỡ máu (lowering cholesterol),
  5. giảm mập phì (burning fat)
  6. trị tiểu đường 2
  7. bồi dưỡng trí tuệ (boosting cognitive brain function)
  8. ngừa viêm loét ruột già (Ulcerative Colitis)
  9. tăng khả năng miễn nhiểm và chống nhiễm trùng
  10. dưỡng da và làm lành da,
  11. chống ung thư .

Ngoài ra , hoạt chất Popyphenol oleocanthal được khẵng định giúp dầu ô liu có thêm công dụng

  • chống viêm mãn tính kể cả chống phát triển ung thư (anti cancer growth) và di căn ung thư (anti metastasis)
  • chống diễn tiến thoát hoá thần kinh (Alzheimer’s) và
  • chống thoái hoá khớp.

Dầu vậy theo nghiên cứu của University Health News thì không phải loại dầu nào cũng có nhiều chất Oleocanthal. Muốn mua dầu ô liu có nhiều Oleocanthal thì phải chọn dầu Ô liu đầu mùa nguyên si ép lạnh. (Early Harvest extra virgin cold pressed Olive Oil )

Chọn dầu Ô liu:
Không phải mọi loại dầu Ô liu bán trên thị trường đều giống nhau. Chúng ta ta phải chọn loại tốt nhất cho sức khoẻ theo những tiêu chuẩn sau đây:

  1. Phải là dầu Ô liu nguyên thuỷ ép lạnh (Virgin or extra virgin cold pressed Olive oil)
  2. Phải chứa trong chai màu đậm.
  3. Chọn chai có ghi ngày sản xuất hoặc ít nhất có ghi hạn ngày tốt nhất (best before date)
  4. Tránh những chai dầu không có ghi rõ chính xác điểm sản xuất ( tên nhà máy cụ thể – specific mill)
    Nếu có bằng chứng nhận hoặc giải thưởng của những Hiệp hội/ Hội đoàn Dầu Ô liu thì có thể đảm bảo dầu sản xuất đúng tiêu chuẩn, chẳng hạn như Hiệp hội Ôliu Úc ( Australian Olive Association), Hội đồng Dầu Ô Liu California (the California Olive Oil Council),

Dùng dầu Ôliu nấu ăn được không?

Theo nghiên cứu thử nghiệm của nhóm Allouche năm 2007 và nhóm Casal et al năm 2010, dầu Ô liu không thay đổi bao nhiêu sau khi nấu nóng ở 180 độ C và cũng không biến chất khi dùng để chiên ngập lâu cả ngày. Tuy nhiên không nên dùng dầu Ô liu để chiên đi chiên lại vì nó sẽ mất chất bổ dưỡng mà có thể có hại cho sức khoẻ.

Dùng dầu Ô liu như thế nào để có lợi ích tối đa cho sức khoẻ

Dùng dầu Ô liu càng tươi càng tốt. Theo chuyên gia chế độ ăn uống Địa Trung Hải, nên ăn dầu thu hoạch sản xuất không quá 1 năm. Nhưng sau khi đã mở chai thì nên dùng hết trong vòng 3 tháng thôi. Vì vậy không nên mua chai quá lớn. Nếu ăn mỗi ngày thì sẽ không có vấn đề.
Dùng 2-3 muỗng canh dầu Ô liu mỗi ngày. Đây là mức tiêu thụ dầu Ô liu trung bình của mỗi người dân Địa Trung Hải. Dân Địa Trung Hải trưa ăn dầu ô liu trộn xà lách, tối ăn dầu ô liu rưới lên rau cải nướng, trên thịt cá nướng, và ăn dầu ô liu chiên xào rau cải. Dùng với rau cải và thịt cá như vậy, mỗi người họ ăn 2-3 muỗng canh (30-50 phân khối) dầu ô liu mỗi ngày.
Xin lưu ý là chế độ ăn uống dân Địa Trung Hải, ngoài dầu Ô liu là nguồn mỡ chính, họ ăn nhiều rau cải, đậu (legume), trái cây. Trái lại họ ăn vừa phải sản phẩm sửa bò và ít ăn thịt (kể cả gà vịt – trung bình 1-2 lần 1 tuần hoặc ít hơn)
• Nếu muốn tránh bệnh Alzheimer’s tri nhớ thì mỗi ngày nên tiêu thụ 1-2 muỗng canh dầu Ô liu ép lạnh đầu mùa (early harvest extra virgin olive oil) và tăng mức tiêu thụ thức ăn gốc thực vật.

Lưu ý: Bài này chỉ có mục tiêu thông tin chứ không thay thế ý kiến chỉ dẫn của y sĩ, bác sĩ.

Tham khảo:

Allouche, Y., Jimenez, A., Gaforio, J.J. Uceda, M. & Beltran, G. (2007) How heating affects extra virgin olive oil quality indexes and chemical composition. J Agric Food Chem. 2007 Nov 14;55(23):9646-54. Epub 2007 Oct 13. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/17935291
Casal, S., Malheiro, R, Senda, A.. Oliveira, B.P. & Pereira, J.A. (2010) Olive oil stability under deep-frying conditions. Food Chem Toxicol. 2010 Oct;48(10):2972-9. doi: 10.1016/j.fct.2010.07.036. Epub 2010 Aug 3. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/20678538
Gunnars, K. (2017) Why Extra Virgin Olive Oil is The Healthiest Fat on Earth. Nutrition. Healthline https://www.healthline.com/nutrition/extra-virgin-olive-oil
Paravantes, E. (2013) How to use olive oil to get the most benefits. OliveTomato. https://www.olivetomato.com/how-to-use-olive-oil-to-get-the-most-benefits/
Paravantes, E. (2014) 5 ways you are using olive oil wrong. OliveTomato. https://www.olivetomato.com/5-ways-you-are-using-olive-oil-wrong/Parkinson, L. & Keast, L. (2014) Oleocanthal, a Phenolic Derived from Virgin Olive Oil: A Review of the Beneficial Effects on Inflammatory Disease . Int J Mol Sci. 2014 Jul. doi: 10.3390/ijms150712323
Romagnolo, D.F. & Selmin, O.I. (2017) Mediterranean Diet and Prevention of Chronic Diseases. Nutrition Today. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5625964/pdf/nt-52-208.pdf
Ruggeri, C. (2018) Oleic Acid: Top 9 Uses & Benefits of This Healthy Fat. Dr Axe Food is Medicine. https://draxe.com/oleic-acid/


Tại sao không nên ăn dầu thực vật tinh chế

Dầu thực vật tinh chế (khác với dầu thực vật ép lạnh) có hại cho sức khoẻ vì 1. chúng có quá nhiều axit béo ômega 6 so với ômega 3 nên gây viêm cho cơ thể đưa đến những bịnh của thời đại như là tiểu đường, cao huyết áp, ung thư, mất trí nhớ, phong thấp… 2. Chứa nhiều hoá chất dùng trong qui trình sản xuất có hại cho cơ thể và 3. Các dầu này thoá hoá sinh ra chất độc có hai cho cơ thể dùng để nấu ăn (từ 70 độ C hay 158 độ F) gây ra nhiều bịnh mãn tính như ung thư, tim mạch và bịnh tâm thần.

Dầu ăn tốt nhất là dầu ôliu nguyên chất ép lạnh và dầu trái bơ ép lạnh.

Dầu ăn tốt nhất cho việc chiên  xào nấu nướng là dầu dừa ép lạnh, vì 90% dầu dừa là axit béo bảo hoà không thay đổi khi bị nóng. Nhưng dầu ô liu cũng tốt cho việc chiên xào vì có nhiều mỡ đơn kết nên ít bị biến chất ở nhiệt độ cao.

Cho tới thời gian gần đây tôi nghe bác sĩ và nhiều nguồn thông tin bảo rằng ăn mỡ động vật có thể gây bịnh tim mạch. Còn dầu thực vật là tốt cho sức khoẻ, nhất là tim mạch. Nhưng bây giờ tôi mới biết đó là lời khuyên sai, dựa trên cơ bản khoa học què quặt. Nghiên cứu y học đã làm sáng tỏ vấn đề cho biết mỡ động vật, hãy mỡ bảo hoà có vai trò quan trọng cho sức khoẻ khi dùng vừa phải. Trong khi đó dầu thực vật tinh chế có hại cho cơ thể vì những lý do sau đây:

1. Dầu thực vật tinh chế có quá nhiều a-xit mỡ ô-mê-ga 6 so với a-xit mỡ ô-mê-ga 3, gây viêm cho cơ thể.

Cơ thể chúng ta cần cả hai thứ mỡ omega 6 và omega 3, tỉ lệ omega 6 và o mega 3 phải cân bằng. Tốt nhất là tỉ lệ này nằm trong khoảng 1:1 – 4: 1. Phần lớn Ômêga 6 có khuynh hướng tăng viêm trong khi omega 3 hạ viêm.  

Tỉ lệ omega 6 và ômega 3 rất cao trong những dầu thực vật tinh chế thịnh hành.

Tỉ lệ này là

  • 54:1    dầu hạt bông (cotton seed)
  • 58:1    dầu bắp ngô (corn)  
  • 51:7    dầu đậu nành (soya bean)
  • 66 : 0  dầu hạt hoa hướng dương (standard sunflower)
  • 31:0    dầu phụng (peanut)
  • 75:0    dầu hạt nho  (grapeseed)

Ngoại trừ dầu phộng, axit béo ômega 6 chiếm hơn 50 % trọng lượng những loại dầu này. Xem thành phần axit béo trong dầu thực vật

Xin lưu ý là dầu ô liu và dầu bơ (ép lạnh ) có tỉ lệ omega 6 /omega3 khá cao nhưng lại là loại dầu tốt nhất cho sức khoẻ vì tổng số axit mỡ đa kết không bảo hoà rất thấp (10-13% trọng lượng) trong khi có tỉ lệ tổng axit béo đơn kết không bảo hoà  oleic ômega 9 rất cao (70-73%) xin xem bảng 1). Hơn nữa không phải thêm hoá chất  trong qui trình sản xuất dầu ép lạnh.

Tiêu thụ dầu ăn chứa quá nhiều omega 6 so với ômega 3 lâu dài làm cho cơ thể bị viêm mãn tính trầm trọng. Nhịp độ gia tăng viêm cơ thể quá nhanh trên thế giới  trong 50 năm nay là nguyên nhân gia tăng những bịnh mãn tính nguy hiểm như

  • Tiểu đường loại 2
  • Rối loạn chuyển hoá / tiền tiểu đường (Metabolic syndrome or pre-diabetic)
  • Rối loạn đường ruột (IBS)
  • Viêm đường ruột (inflammatory bowel disease IBD)
  • Bịnh mỡ gan- không vì rượu (nonalcoholic fatty liver disease NAFLD),
  • Bịnh tim mạch (cardiovascular disease),
  • Mập phì (obesity),
  • Hen suyển (asthma)
  • Ung thư
  • Phong thấp (rheumatoid arthritis),
  • Bịnh tự miễn nhiễm (Autoimmune disease)
  • Alzheimer’s  (AD) và 
  • Những bệnh rối loạn tâm thần.

2. Dầu ăn tinh chế chứa nhiều hoá chất có hại cho sức khoẻ.

Dầu ăn tinh chế được sản xuất bằng cách dùng hoá chất để chiết dầu từ các hạt và cũng dùng hoá chất, nhất là hai chất BHA and BHT (Butylated Hydroxyanisole and Butylated Hydroxytoluene) để bảo quản. Hai chất này được các cơ quan y tế thế giới cảnh báo là có thể gây ung thư, gây hại cho thận, gây rối hệ thống miễn nhiễm và ảnh hưởng tâm thần trẻ em. Thêm vào đó, dầu ăn thực vật tinh chế còn chứa tàn dư hoá chất diệt sâu diệt bịnh và sinh thể gen biến đổi (gen modified organism) có ảnh hưởng bất lợi cho sức khoẻ.

Điển hình là dầu Canola. 87-90% canola trồng ở Mỹ và Canada thuộc giống bị biến gen. Dầu Canola có lượng ômega 3 và axit béo đơn không bảo hoà khá cao. Nhưng Canola giống như các loại dầu tinh chế khác  đều phải đi qua qui trình sản xuất gồm tinh chế (refining), tẩy trắng (bleaching) và loại bỏ chất nhựa (degumming) tất cả đều cần hoá chất và nhiệt độ cao làm mất ômega 3, tạo ra mỡ “trans fat” có hại cho sức khoẻ.

Theo tạp chí nghiên cứu Environmental Sciences Europe năm 2011, 19 công trình nghiên cứu về hạt biến gen đều đi đến kết luận thức ăn biến gen gây thiệt hại cho gan và thận.

Axit erucic và transfat trong Canola gây bịnh tim mạch, gây viêm và làm đóng vôi thành mạch máu, tăng huyết áp và tăng nguy cơ đột quỵ, cũng như tai biến mạch máu não.

3.  Dầu thực vật  tạo ra chất độc khi dùng nấu ăn

Ngoại trừ dầu dừa chứa 90% là axit béo bảo hoà và dầu ô liu chứa 71 % axit béo đơn kết không bảo hoà, tất cả dầu thực vật khác phần lớn là axit béo đa kết không bảo hoà nên dễ bị oxy hoá biến thành chất cực hại tự do (free radicals) gây viêm cho cơ thể.

Chỉ cần nóng tới 70 độ C hay (158 độ F), các loại dầu thực vật tinh chế cũng như ép lạnh đều bị thoái hoá (degraded). Chiên xào thì sinh ra hydroperoxides  trước tiên, rồi đến aldehydes. Dùng lò vi sóng (microwave oven) để nấu thức ăn có dầu ăn tinh chế thì dầu ăn tinh chế thoái hoá thành aldehydes. Hydroperoxide là một chất ROS (reactive oxygen species) dễ dàng lan tràn qua các thế bào gây hậu quả tai hại cho các tế bào. Aldehydes là  chất độc liên hệ đến nhiều chứng bịnh thoái hoá kể cả bịnh tim, ung thư và bịnh mất trí nhớ (Dementia, Alzheimer’s).

Xin lưu ý là hầu hết thực phẩm chế biến đều dùng dầu thực vât tinh chế qua qui trình chế biến ở  nhiệt độ cao. Vì vậy nên tránh tối đa thực phẩm chế biến bao gói sẵn kể cả biscuits, potato chips..

Vậy nên dùng dầu nào.

Thứ nhất nên chỉ nên dùng dầu thực vật sản xuất bằng qui trình ép lạnh. Như dầu ô liu, dầu avocado ép lạnh, dầu hạt lanh  ép lạnh, dầu dừa ép lạnh…

Dầu vậy ngoại trừ dầu dừa và dầu ô liu, chỉ nên ăn sống những thứ dầu ép lạnh khác vì chiên xào sẽ làm chúng biến chất. Bài kế tiếp tôi sẽ tóm tắt thông tin về lợi ích của dầu avocado, dầu ôliu và dầu dừa.

Xin lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến của bác sĩ và y sĩ chăm sóc sức khoẻ cho quý bạn.

Tham khảo:

Alexander, S. (2015) The oil guide: which to use for frying, drizzling and roasting. Telegraph November 2015. https://www.telegraph.co.uk/health-fitness/nutrition/everything-you-know-about-cooking-with-oil-is-wrong/

David Suzuki Foundation (n.d.) The Dirty Dozen: BHA and BHT. https://davidsuzuki.org/queen-of-green/dirty-dozen-bha-bht/

Fundazioa. E. (2005) Toxic substances in the Oxidation of Fats and Oils. Science Daily. July 17, 2005. https://www.sciencedaily.com/releases/2005/06/050617065306.htm

Gropper S. S. & Smith J.L. (2009) Advanced Nutrition and Human Metabolism. 6th Edition. Wadsworth Cengage Learning. Trang 418.

Held, P. (2015)  An Introduction to Reactive Oxygen Species – Measurement of ROS in Cells. Biotek White Paper. https://www.biotek.com/assets/tech_resources/ROS%20White%20Paper_2015.pdf

Healthline News. Why Heart Disease is on the Rise in America https://www.healthline.com/health-news/why-is-heart-disease-on-the-rise#3

Hyman, M. (2016) Why oil is bad for you. https://drhyman.com/blog/2016/01/29/why-oil-is-bad-for-you/

Patterson, E., Wall, R., Fitzegerald, G.F., Ross, R.P. & Stanton, C. (2012). Health Implications of High Dietary Omega-6 Polyunsaturated Fatty Acids. Review Article. Journal of Nutrition and Metabolism. Volume 2012, Article ID 539426, 16 pages. http://dx.doi.org/10.1155/2012/539426

Sifferlin , A. (2018). The 10 best and worst Oils for your health. Time. http://time.com/5342337/best-worst-cooking-oils-for-your-health/

Trị lở miệng, lở lưỡi, nhiệt miệng

Xin giới thiệu và phổ biến một phương pháp trị bịnh lở miệng, lở môi, lở lưỡi rất đơn giản, rẻ tiền, hữu hiệu cách tuyệt vời. Đó là uống vitamin B3 hay Niacin liều cao 500mg trong vài ngày, nhiều lắm là 1 tuần lễ. Không những cách này có kết quả nhanh chóng mà công hiệu về lâu về dài, hầu như giúp người bị vĩnh viễn không còn bị chứng nhiệt miệng nữa.

Lý do rất đơn giản: nghiên cứu y học về vitamin ghi rõ: Cơ thể thiếu Vitamin B3 thì bị nhiệt miệng, tức là lở môi lở lưỡi. Rất tiếc là bác sĩ Tây y, Đông Y và Y học tự nhiên không đọc đến hay đọc mà không nhớ sự kiện này. Tôi tìm ra phương pháp này không phải là nhờ đi học y học tự nhiên mà vì tôi là một bệnh nhân khổ sở với bệnh này mấy chục năm trời.

Số là từ tuổi trung học tôi hay bị lở miệng, lúc thì trên môi trong, lúc thì trên lưỡi lúc thì dưới lưỡi hoặc cạnh lưỡi , có lúc lở nướu nữa. Thật khổ sở, khó chịu, Cứ như vậy ít nhất hai ba tuần mới hết. Vài tuần sau bị lại, nhất là khi lỡ cắn phải môi hay lưỡi. Ở Việt nam khi còn đi học, tôi không bao giờ có tiền đi bác sĩ nên theo lời chỉ dẫn của người lớn thỉnh thoảng thoa chút mật ong lên môi và lưỡi. Không biết nó có ích lợi gì không nhưng mỗi lần thoa lên là rát đến chảy nước mắt. Khi đi du học, bác sĩ NZ cho nhiều thứ thuốc uống và ngậm trong 6 năm giảm đau chút ít nhưng cũng không hết và phải nhăn nhó chịu đựng dài dài. Về lại Việt Nam, cái bịnh bất trị này không chịu buông tha hằng chục năm nữa.

Khi học ở NZ tôi đã nghiên cứu tìm xem nguyên nhân của bịnh này. Theo tác giả sách “Raw Juice Therapy” (Liêu pháp nước rau quả tươi) thì lở miệng là triệu chứng thiếu Vitamin PP, tức là Vitamin B3 hiện nay. Sách này chỉ bày những thứ rau quả có nhiều Vitamin PP. Tôi tìm và ăn uống những thứ đó nhưng vẫn không hết bịnh nên nghĩ là họ nói không đúng. Cho đến khoảng năm 1988, tôi mới nghĩ tại sao mình không kiếm Vitamin PP uống. May mắn mua được một hộp vitamin PP tại nhà thuốc Tây ở quận 1 Saigon. Tôi uống gấp bốn năm lần liều thuốc ghi trên lọ thuốc trong 4 ngày liên tiếp. Ngay từ ngày đầu thuốc đã có hiệu quả rồi. Sau đó tôi không còn bị lở môi lở lưỡi nữa. Dầu tôi có lỡ cắn môi, cắn lưỡi, vết cắn không lở, không đau và lành nhanh chóng.

Một số người thân của tôi cũng nhờ uống Niacin mà hết khổ sở vì chứng nhiệt miệng, lở môi lở miệng lở lưỡi. Xin lưu ý Vitamin B3 uống liều trị bịnh có thể làm cho mặt nóng rần rần. Lúc đầu có thể khó chịu nhưng chừng 1 tiếng đồng hồ là hết. Nếu ngại bị nóng mặt thì hiện giờ có loại vitamin B3 không gây móng mặt, gọi là No-flush Niacin

Khi học môn y học tự nhiên, tôi kiểm lại sách học ” Advanced Nutrition and Human Metabolism” của Sareen S. Gropper và Jack L. Smith thì những triệu chứng bịnh do thiếu Niacin , tức Vitamin B3 gồm:

Viêm lở lưỡi (glossitis), viêm lở môi, viêm lở góc môi (cheilosis, angular stomatitis)
Buồn nôn (nausea), nôn mữa (vomiting), tiêu chảy.
Đau đầu, thờ ơ (apathy), mất trí nhớ, viêm dây thần kinh ngoại vi (peripheral neuritis)
Tê liệt đầu bàn tay/ chân (paralysis of extremities), bối rối (confusion), hay quên (dementia) hay mê sảng (delirium).

Lưu ý: Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thể ý kiến của bác sĩ.

Tham khảo:

Gropper S. S. & Smith J.L. (2009) Advanced Nutrition and Human Metabolism. 6th Edition. Wadsworth Cengate Learning.

Trị bịnh giời leo hay giời ăn

Tôi xin giới thiệu cách trị bịnh giời leo theo phương pháp dân gian dùng đậu xanh sống , nhưng vẫn khuyên quý bạn hãy đi bác sĩ để yên lòng khi thấy có triệu chứng bị giời ăn. Phương pháp này hoàn toàn không gây trở ngại cho việc chữa trị của Tây y. Đây là phương pháp mẹ tôi chỉ cho tôi khi tôi bị giời leo. Kết quả thần kỳ nên vài chục năm sau tôi chỉ cho chị tôi và kết quả cũng thần kỳ làm cho bác sĩ ngạc nhiên (chị tôi không nói cho bác sị biết mà chỉ nói nhờ thuốc bác sĩ cho). Tôi mong thông tin này có ích cho những ai bị giời ăn.

Theo bài viết của Bác sĩ Hồ văn Cưng về “giời leo” trong mạng soha.vn thì

Bệnh giời leo do nhiễm viút herpes Zoster, chứ không phải do con giời nào bò ngang qua cơ thể chúng ta như lâu nay người dân vẫn nghĩ và bệnh thường xảy ra vào mùa mưa, thời tiết lạnh, độ ẩm cao. Bệnh còn do cơ thể mệt mỏi, stress kéo dài sức đề kháng yếu… 

Người bệnh có thể bị sốt, nóng rát, sưng vùng da chỗ bị bệnh, nhất là khi trời nắng nóng thì cảm giác càng khó chịu hơn. Sốt nhẹ khoảng 37 – 3805, người mệt mỏi, khó chịu, căng thẳng.

Giời leo có thể phát bệnh ở bất cứ vùng da nào của da trên cơ thể, nó kéo dài 10 – 15 ngày và gặp ở mọi lứa tuổi.

Tại vùng da bị bệnh, đầu tiên là cảm giác ngứa, đau rát, nhức nhối, sưng đỏ, sau đó nhanh chóng mọc nhiều nốt kế tiếp dạng phỏng nước, lúc đầu có màu đục nhạt sau chuyển sang màu đỏ nhạt rồi sau đó nhanh chóng bị phát tán ra nhiều phía và bên trong các nốt giời mọng nước, sưng to dần, đồng thời vẫn ngứa ngáy khó chịu nơi vùng da bị bệnh.

Sau khi các dấu hiệu của zona (tức là bịnh giời leo) chấm dứt, người bệnh luôn cảm thấy đau nhức nhiều tại vùng da bị bệnh, nhất là tại các sẹo cho nên hình thành gọi là chứng đau sau zona, với đặc điểm là không giảm đau bằng các loại thuốc giảm đau thông thường.

Đã từ lâu, trong dân gian cho rằng chữa bệnh giời leo bằng cách đắp đậu xanh, gạo nếp hoặc các lá thuốc nam lên tổn thương da..

Tuy nhiên làm như vậy không chữa được bệnh mà còn tăng nguy cơ nhiễm trùng, gây loét, kích ứng da…

Bởi vì, trong tuần lễ đầu, khi bệnh đang phát triển, dẫu cho có nhai gạo nếp đậu xanh hay bất cứ thứ gì lên vùng da bị bệnh thì không những bệnh không giảm mà còn làm cho chỗ bị bệnh bị bội nhiễm từ nước bọt của người nhai.

Tuy nhiên, có trường hợp sau khi đắp khoảng một tuần lễ bệnh sẽ khỏi nên càng làm cho mọi người tin tưởng vào cách trị này. Đó là do có sự trùng hợp ngẫu nhiên, bởi vì sau 7 – 10 ngày, bệnh không điều trị cũng tự lui, vì đây là bệnh do virút. (Nguồn : http://soha.vn/gioi-leo-cho-xem-thuong-20170921151743656.htm)

Theo kinh nghiệm bản thân, của chị tôi, của mẹ tôi và những người trong làng đã dùng và truyền lại cho con cháu, thì khi áp dụng đúng cách,  phương thuốc đậu xanh công hiệu chứ không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Thứ nhất, nó công hiệu qua 1 đêm chứ không cần 1 tuần lễ.

Thứ hai, khi triêu chứng bịnh giời leo chấm dứt nhờ  phương pháp này, chúng tôi không cảm thấy đau nhức gì cả tại vùng da bị bệnh, nhất là tại các sẹo cho nên không bị  chứng đau sau zona như những bệnh nhân chỉ dùng Tây y.

Thứ ba, phương pháp này không gây trở ngại cho cách trị Tây y. Chị tôi dùng phương thuốc đậu xanh trong khi đang sử dụng thuốc Tây y của bác sĩ cho.

Phương pháp dân gian Quảng Nam dùng đâu xanh sống trị giời leo:

Nguyên thuỷ thì tôi chỉ cần nhai  nát một nắm đậu xanh hột sống (cả vỏ) rồi lấy  bột đâu xanh nhão  trong miệng ra đắp lên cả vùng da bị giời leo. Xong lấy băng hay dải vải dài băng vùng bị giời leo lại. Ngủ qua đêm sáng dậy sẽ thấy hết đau hết ngứa, mở băng ra xem sẽ thấy chổ bị giời leo khô lại, các nốt phỏng nước hôm qua nay xẹp xuống và đang lành lại. Nếu cần thì dùng băng hay vải sạch băng lỏng lỏng lại (không nên băng chặt) cho nó lành luôn. Cháu tôi cũng làm cho chị tôi như vậy.

Tuy nhiên, không phải ai cũng nhai được đậu xanh sống như vậy. Hơn nữa, dùng nước miếng cũng không có vẻ vệ sinh. Vì vậy cách sau này có thể phù hợp hơn:

Nguyên liệu cần có

1 dải băng dài hoặc một dải vải để băng vết thương

1 nắm đậu xanh còn vỏ (nguyên hột hay tách đôi cũng được).

1 ly nước lạnh

1 cái cối chày hoặc một máy xay nhỏ.

Cách chuẩn bị bột nhão đâu xanh:

  • Ngâm đâu xanh trong nước khoãng 4-5 giờ cho đâu xanh mềm.
  • Chắt nước, lấy đậu xanh bỏ vào cối giã đâu xanh cho nát nhuyễn.
  • Thêm từ từ một ít nước sạch vào cối, đủ để quậy đậu xanh giã thành bột nhão. (Cũng có thể bỏ đậu xanh nát và ít nước vào máy xay, xay  thành bột nhão)
  • Đắp bột đậu xanh nhão  lên cả vùng da bị giời leo. Xong lấy băng hay dải vải dài băng vùng bị giời leo lại.
  • Ngủ qua đêm sáng dậy sẽ thấy hết đau hết ngứa, mở băng ra xem sẽ thấy chổ bị giời leo khô lại, các nốt phỏng nước hôm qua nay xẹp xuống và đang lành lại. Nếu cần thì dùng băng hay vải sạch băng lỏng lỏng lại (không nên băng chặt) cho nó lành luôn.

Tôi không biết phương pháp này có công hiệu cho mọi người hay không và cũng không biết nước miếng có cần thiết không. Nhưng vì chị tôi đã kinh nghiệm dùng phương pháp này thành công cùng lúc với thuốc bác sĩ cho, tôi nghĩ dùng nó cùng lúc với thuốc tây y chỉ có lợi chứ  không có hại. Nhất là yên tâm là không bỏ sót phương pháp của Tây y.

Lưu ý:

Bài viết này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế chỉ dẫn của bác sĩ.

Rối Loạn Đường Ruột (IBS)

Phương pháp tự nhiên chữa trị HỘI CHỨNG RỐI LOẠN ĐƯỜNG RUỘT

Hội chứng rối loạn đường ruột còn gọi là “Hội chứng ruột kích thích”  Hoặc Hội chứng đường ruột  thất thường(Irritable Bowel Syndrome – IBS)

Hội chứng này có các triệu chứng như – no hơi hay sình bụng, – đau bụng khi ăn hoặc khi đi tiêu – táo bón hoặc tiêu chảy – hoặc lúc táo bón lúc tiêu chảy – kéo dài ít nhất 6 tháng và – xãy ra ít nhất 1 lần mỗi tuần trong 3 tháng qua.  Các triệu chứng này có lúc nặng lúc nhẹ, có lúc như biến mất nhưng rồi trở đi trở lại nhiều năm Tây y chính thức tuyên bố là họ không biết nguyên nhân của hội chứng này và không có thuốc chữa.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm chữa bịnh thì phần lớn nguyên nhân gây ra IBS là tình trạng “Vi sinh tăng trưởng quá mức trong ruột non hay SIBO” (Small Intestinal Bacteria overgrowth), thường xãy ra sau khi bị ngộ độc thực phẩm mặc dầu IBS cũng có thể do nguyên nhân khác gây nên.

Quý bạn có thể thử nghiệm xem mình có bị SIBO hay không bằng cách ăn 1 củ hành sống hoặc chín (ăn luôn một lần hay trải ra vài lần trong ngày cũng được). Nếu quý bạn thấy bị no hơi sình bụng nhiều sau khi ăn củ hành, thì có nghĩa là bạn bị SIBO. Tuy nhiên IBS cũng có thể xãy ra vì rò rỉ đường ruột (chẳng hạn như vì thường ăn thức ăn chứa nhiều lectins như ngũ cốc và các loại đậu ) mà không bị SIBO.

PHƯƠNG PHÁP CHỮA TRỊ TỰ NHIÊN:

Sau đây là 5 cách chữa trị tự nhiên được sử dụng với nhiều nghiên cứu và kinh nghiệm của các chuyên gia y học đông tây .

1. Chườm nóng gan theo sáng kiến của Y sĩ Dương Quang Châu,

2.Chế độ dinh dưỡng và dược thảo của bác sĩ Siebecker

3. Chế độ dinh dưỡng đặc biệt tránh những thực phẩm khó tiêu (FODMAPs)

4. Chế độ dinh dưỡng GAPS của bác sĩ Campell McBride..

5. Dùng phụ trợ Total Restore của Bác Sĩ Gundry và tránh ăn mễ cốc và các loại hạt chứa lectin nhằm chữa lành ruột rò rỉ.

Nước xương hầm hoặc nước rau cải hầm (nếu ăn chay  xin xem thành phần và cách nấu rau cải hầm vege broth vn) có vai trò quan trọng trong phương pháp thứ hai và thứ tư vì nó có chứa những chất đạm đạc biệt như proline và glycine có công dụng giúp cơ thể tăng cường sản xuất collagen (là chất đạm cần thiết để tạo nên tế bào kết nối – connective tissue) như màng ruột, màng tim, màng phổi, tóc, da, gân, sụn… trong cơ thể. Qua vai trò đó, nó giúp chữa lành màng ruột nếu có rò rỉ, lở loét hay hư hại.

ĐIỀU KIỆN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC CÁCH CHỮA TRỊ: Dầu có dùng cách nào để chữa trị bịnh rối loạn tiêu hoá, chúng ta đều cần một số điều kiện chung như sau:

– Trong khi chữa trị, chúng ta cần loại trừ mọi căng thẵng tinh thần, tình cảm, tâm linh để lòng bình an, vui vẻ, nhân từ, tha thứ, tạ ơn thay vì giận ghét, trách móc, qui lỗi người khác. Vì căng thẳng tinh thần, tình cảm, tâm linh sẽ hút hết năng lượng của cơ thể để ứng phó sự căng thẳng. Kết quả là bộ tiêu hoá sẽ thiếu năng lượng để hoạt động hữu hiệu.

– Sau khi chữa trị chúng ta cũng phải giảm thiểu tình trạng và thời gian căng thẳng.

– Chúng ta luôn luôn cần sinh hoạt thể dục hoặc thể thao và ngủ đủ theo giờ giấc ổn định mỗi ngày để giúp bộ tiêu hoá làm việc hữu hiệu. Tuy nhiên cần điều độ vừa phải. Sinh hoạt cơ bắp và ngủ quá mức đều có hại cho thân thể.

– Chúng ta cần ăn uống lành mạnh. Giảm thiểu thịt, thức ăn gốc động vật, ăn nhiều hơn rau quả đủ loại và uống đủ nước. Điều độ cũng là tiêu chuẩn trong chế độ ăn uống lành mạnh.

CÁCH THỨ NHẤT

Chườm nóng gan.

“Chườm gan là sáng kiến của Y sĩ Dư Quang Châu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Bấm huyệt Thập Chỉ Liên Tâm, được chính bác sĩ Dư Quang Châu phổ biến bắt đầu từ ngày 1/9/2014 tại Việt Nam và nhanh chóng lan rộng ra thế giới.”

Theo Y sĩ Dư Quang Châu: ” Gan là cơ quan nội tạng lớn nhất trong cơ thể. Vì gan là cơ quan đầu tiên, tiếp nhận các chất dinh dưỡng và hóa tố khác nhau hấp thụ từ hệ thống tiêu hóa, gan đã trở thành “nhà máy lọc máu” chính và quan trọng nhất trong cơ thể.

Gan là một cơ quan có nhiều chức năng của cơ thể, giúp chuyển hóa đường. Gan giúp sản xuất và chuyển hóa chất acid béo, các loại mỡ này có thể được so sánh như những viên gạch của một căn nhà. Vì thế, khi gan bị tổn thương, “nhà” sẽ bị rạn nứt, dễ đổ vỡ. Gan giúp bào chế và thoái biến chất đạm, thanh lọc độc tố và tổng hợp các chất mật. Khi gan không khỏe mạnh sẽ gây ra rất nhiều bệnh tật cho cơ thể.

Gan là một nhà máy chuyển hóa, nên “chất thải và phụ phẩm” của nhà máy này rất đa dạng. Đặc biệt là khi thực phẩm ngày nay có nhiều độc tố khiến các “chất thải và phụ phẩm” này không đào thải được, bị ứ lại sẽ nằm trong tĩnh mạch gan. Khi tĩnh mạch gan lưu thông kém, gan bị nhiễm độc bởi chính các chất thải ấy.

 vậy, chườm nóng gan sẽ làm giãn tĩnh mạch gan, tăng lưu thông máu và tạo điều kiện để các chất độc được chuyển ra ngoài. Việc ngủ ngon sau khi chườm nóng là một dấu hiệu của việc thải độc ấy.

Chườm nóng ở vùng gan mỗi ngày 1 giờ làm cho các mao mạch ở gan được giãn nở, và làm nóng dòng máu trong hệ tuần hoàn giúp tẩy sạch các chất vữa trong máu, là phương pháp không dùng thuốc đạt hiệu quả cao nhất hiện nay.

Ngoài ra, khi các cơ quan liền kề lá gan là mật và tụy cũng được sức nóng giúp đả thông các mao mạch thì kích thích sự tiết dịch của các cơ quan, giúp cải thiện chức năng tiêu hóa, cải thiện chứng táo bón, điều hòa đường huyết.  Nó cũng kích thích hoạt động của enzyms giúp tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, nấm, ký sinh trùng đường ruột…, tăng khả năng miễn dịch của cơ thể.” (Nguồn :  dachuomgan )

Y sĩ Dư Quang Châu khuyên dùng đá diệu kỳ của Viện Thập Chỉ Liên Tâm để chườm gan vì “Cặp Đá Diệu Kỳ chính là loại đá bazan – loại đá phun trào hay còn gọi là đá núi lửa được tạo thành do sự đông nguội của dung nham nóng chảy, nó tích trữ một nguồn năng lượng từ đất trời qua hàng ngàn năm sau những vụ phun trào núi lửa, do đó đá Bazan có thể giúp loại bỏ các chất thải độc hại từ các cơ thể, giảm căng thẳng, trầm cảm, đau khớp và thúc đẩy thư giãn sâu, giúp ngủ ngon, ăn ngon, tiêu hóa tốt..” (xin xem cách chườm gan bằng đá kỳ diệu của Viện này)

Theo nguyên lý trên  thì chỉ cần chườm nóng vùng gan là làm nở mao mạch trong gan cùng các nội tạng tiêu hoá liên hệ. Kết quả là “giúp cải thiện chức năng tiêu hóa, cải thiện chứng táo bón, điều hòa đường huyết.  Nó cũng kích thích hoạt động của enzyms giúp tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, nấm, ký sinh trùng đường ruột.” Như vậy nếu chưa tiện mua đá diệu kỳ, chúng ta cũng có thể thử dùng những cách khác để chườm nóng vùng gan: Ví dụ, bình cao su nước nóng, túi đựng 1/2 đến 1 kg  lúa mì (wheat bags). Nếu dùng túi lúa mì thì có thể dùng microwave để làm nóng từ 3-4 phút  chung với 1 ly nước vì lý do an toàn (bắt buộc). Phương pháp này cũng phù hợp với thuyết âm dương của Đông y. Chườm gan chính là bồi bổ gan với khí dương (hơi nóng).

Theo cách chỉ dẫn của Y sĩ Dư Quang Châu thì nên chườm gan 1 tiếng đồng hồ mỗi ngay trong khoảng từ 9 giờ tối đến 11 giờ tối. Và có thể thấy  chức năng tiêu hoá bắt đầu cải thiện sau 2-4 tuần. Chườm gan là áp “đá nóng, bình nước nóng, túi lúa mạch nóng bọc trong khăn” vào khu vực liên sườn bên phải và vùng thượng vị.

(Xin xem các video về chườm gan trong youtube sẽ thấy chườm gan còn có nhiều công dụng khác – kể cả trị bịnh mất ngủ, giảm mỡ mập, ngừa làm đẹp và trẻ da, chống đột quỵ, thiếu máu cơ tim, tai biến mạch máu não vì gan là bộ phận chủ yếu lọc máu và điều hoà chuyển hoá của cơ thề – xem thêm  http://tamduc.net.vn/news.php?id=453 .

CÁCH THỨ HAI

Chế độ dinh dưỡng và dược thảo của bác sĩ Siebecker

Cách này dựa theo lời chỉ dẫn của Bác sĩ Siebecker phát biểu trong hội nghị thượng đỉnh về rối loại tiêu hoá (IBS) và tình trạng vi sinh tăng trưởng quá mức trong ruột non (SIBO). Phương pháp này phù hợp cho những ai có dấu hiệu SIBO và gồm những công đoạn như sau:

– Nhịn ăn ít ba ngày, chỉ uống nước hầm xương hay nước hầm rau cải.

– Uông trà gừng ngay từ đầu ngay cả khi nhịn đói. Gừng có công dụng giúp tiêu hoá và nếu uống trà gừng liều cao trước khi đi ngủ, sẽ giúp bao tử và ruột co bóp chuyển thực phẩm nhanh trong đường tiêu hoá và đẩy vi sinh ra khỏi ruột non.

– Sau ba ngày nhịn đói ăn lại từ từ. Ăn ít mỗi lần ăn và có thể ăn nhiều lần hơn để giảm phản ứng của cơ thể với thức ăn.

– Tránh ăn thực phẩm có bột mì, lúa mì và những thức ăn có đường và thực phẩm chế biến.

– Uống hổn hợp dược thảo (dạng lỏng) nước tên Iberogast do Steigerwald Arzneimittelwerk GmbH của Đức sản xuất. Hổn hợp này gồm 9 dược thảo có tên khoa học là Iberis amara, Angelica archangelica (bạch chi), Matricaria recutita (cúc La mã), Carum carvi, Silybum marianum (cúc gai), Melissa offcialnalis (kinh giới) Mentha piperitae (rau húng) Chelidonium majus, và Glycyrrhiza gabra (cam thảo) để giải toả triệu chứng ( 80-90 % công hiệu). Ở VN có bán ở http://hang-duc.com/shop/duoc-pham/thuoc-duoc-pham/da-day-ruot/day-hoi-truong-bung/iberogast-20-ml/

– Nếu không tiện mua Iberrogast: Uống trà gồm cam thảo, hạt thì là xanh (fennel) húng khô (peppermint), gừng, kinh giới và hồi (anise) cũng có công hiệu gỉam no hơi, lở ruột và đau bụng khi dùng 3 lần một ngày trong 10-14 ngày . (Bổ sung công thức của BS Siebecker)

– Từ từ ăn thêm sản phẩm có kích thích vi sinh đường ruột (probitics ) như thực phẩm lên men, sửa chua, cải chua, kim chi mỗi bữa ăn.

– (Bổ sung công thức của Bác sĩ Siebecker) Nếu mua được dầu hạt thì là đen thì nên dùng 1 muỗng cà phê với mật ong hay nước cam ba lần 1 ngày (khi ngủ dậy, trước bữa trưa 10-20 phút, và trước khi đi ngủ) ít nhất 1 tháng rồi giảm xuống 1 ngày 1 lần. (xem bài dầu hạt thì là đen)

CÁCH THỨ BA

 CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG FODMAPS THẤP (LOW FODMAPS DIET)

Cách này cũng đặc biệt dùng cho trường hợp bạn bị SIBO. FODMAPS là viết tắt của “fermentable oligo-, di-, mono-saccharides and polyols” Đây là những thức ăn có carbohydrate (carbs) ngắn chuổi, khó tiêu hoá. Thay vì được hấp thụ vào máu, thức ăn này dồn lại ở cuối ruột là nơi vi sinh ruột sinh sống. Các vi sinh này dùng carbs ngắn chuổi này làm nhiên liệu, sản xuất ra hơi hy dro và gây triệu chứng tiêu hoá bực bội cho những ai nhạy tính. (Dr Gertsmar, 2017). Chế độ ăn uống này do Đại học Monash ở Úc nghiên cứu, và phổ biến năm 2004. Đặc đểm của chế độ ăn uống này là giới hạn những thức ăn chứng tỏ có hại cho ruột gây triệu chứng rối loạn tiêu hoá (IBS) như no hơn, sình và đau bụng. Theo Đại học Monash thì khi áp dụng phương cách này tốt nhất là bệnh nhân có một y sĩ hay chuyên gia dinh dưỡng có kinh nghiệm trong lãnh vực này theo dõi và giám sát. Thời gian gắt gao có thể từ 2 đến 6 tuần, sau đó có thể từ từ thử ăn lại món ăn bình thường.

TUYỆT ĐỐI TRÁNH THỨC ĂN FODMAPS CAO NHƯ:

• Bột lúa mì, amaranth (hột dền), lúa mạch (barley) lúa mạch đen (rye)

• Tỏi

• Hành

• Sản phẩm sửa bò như sửa, phó mát tươi, phó mát kem va sửa chua (yogurt)

• Trái cây như táo, mơ, se ri (cherries), trái vả (figs), xoài, xuân đào (nectarine), đào (peachs), trái lê (pears), mận (plums) và dưa hấu (watermelons)

• Rau cải như măng tây (asparagus), brussels sprouts, hoa cải trắng, ac ti sô, tỏi tây (leeks), nấm và đậu Hoà lan (snow peas)

• Các loại đậu như đậu nướng đóng hộp (baked beans), đậu mắt đen (black eye beans), đậu tằm (broad beans), đậu bơ (butter beans), đậu tròn hột (chickpeas), đậu đen, đâu đỏ, đậu lăng (lentil), đậu nành, đậu tẻ (split peas)

Sau một tuần lễ cử ăn những thức ăn trên, quý bạn có thể thử ăn lại ít ít từng món. Nếu không gây lại triệu chứng tiêu hoá khó chịu thì có thể ăn lại món đó một cách chừng mực. Nếu gây triệu chứng tiêu hoá khó chịu như no hơi đau bụng thì ngừng ăn món đó.

ĂN ÍT NHẤT 7 NGÀY NHỮNG THỨC ĂN CÓ TÍNH FODMAPS THẤP NHƯ

• Thịt, cá và trứng

• Tất cả mỡ và dầu lành mạnh (như dầu dừa, dầu ô liu sống, dầu phụng ép, dầu avocado, dầu hạnh nhân)

• Hầu hết rau thơm và gia vị

• Các loại hat có dầu (ngoại trừ pistachios)

• Trái cây như chuối, nho, quả mọng xanh ( blueberries), bưởi, kiwi, chanh, quýt, dưa (ngoại trừ dưa hấu), cam, dâu tây…

• Chất pha ngọt: xi rô cây thích (Maple syrup), mật mía (molasses), và cac loại rượu đường

• Sản phẩm sửa : không có lac tu lô, phó mát cứng, và phó mát già mềm như camembert .

• Rau cải gồm ớt không cay (bell peppers) cải làng (bok choy), cà rốt , cần tây, dưa leo, cà tím, gừng, đậu tươi xanh, kale, xà lách, hành tăm (củ nén -chives) trái ô liu, khoai tây, rau bi na, hành lá, khoai lang, cà chua, củ cải da đỏ (radish), củ cải (parsnips, turnips, yams), củ năn (water chestnuts) bí xanh ( zucchini), bí đao.

• Mễ cốc: Bắp, gạo, ki noa (quinoa), bột sắn (tapioca), yến mạch (oats) lúa miến (sorghum).

• Thức uống: Nước lọc, cà phê, trà v.v.

CÁCH THỨ TƯ

CHẾ ĐỘ GAPS – NHỊN ĂN TẤT CẢ THỨC ĂN CÓ CHẤT XƠ TRONG 1 THỜI GIAN

Cách này thích hợp nếu bạn bị SIBO (dùng cách thử nghiệm ăn hành đề cập ở đầu bài viết) Chủ yếu phải nhịn ăn ít nhất 3 ngày, chỉ uống nước xương thịt hầm hoặc rau cải hầm thôi. Cách này không những loại trừ vi sinh ra khỏi ruột non mà còn chữa lành rò rỉ ruột, viêm ruột, lở ruột nếu có. Vì vậy không những thích hợp cho IBS và SIBO mà còn có công hiệu giúp cơ thể chữa lành đường ruột liên qua đến bịnh da liễu, dị ứng thực phẩm (food allergies), sưng lở đường ruột (bowel inflammatory diseases, colon cancer, diverticulitis). Đây cũng là cách giúp trị gốc những bịnh liên quan đến tâm thần như bịnh tự ký (autism), bịnh quá năng động mà mất khả năng chú tâm (ADHD Attention deficit hyperactivity disorder), biếng ăn (anorexia), rối loạn thần kinh lưỡng cực (bipolar disorder), mà càng ngày càng nhiều trẻ em mắc phải. Cách này nằm trong chế độ dinh dưỡng GAPS (Gut and Psychology Syndrome) do Bác sĩ Natasha Campbell-McBride tìm ra để trị những bịnh tâm lý liên hệ đế rối loạn đường ruột được gọi là CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG GAPS (xin bấm vào dưới đây để xem chi tiết)

Chế độ GAPS

CÁCH THỨ NĂM:

DÙNG PHỤ TRỢ “TOTAL RESTORE” CỦA BS GUNDRY.

Theo nghiên cứu của bác sĩ Gundry, thì đường ruột có thể bị rò rỉ vì chất lectins trong thức ăn hàng ngày đưa đến rối loạn tiêu hoá. Lectins còn cản trở bộ tiêu hoá hấp thụ nhiều chất dinh dưỡng. Bác Sĩ Gundry đã nghiên cứu tổng hợp 16 dược thảo và khoáng chất có khả năng không những chữa lành màng ruột mà còn ngăn cản ảnh hưởng tai hại của chất lectin trong thức ăn trên màng ruột. Lưu ý là cơ thể mỗi người khác nhau. Có nhiều người chịu được lượng lectins cao hơn người khác nên có thể không bị rò rỉ ruột vì lectins mà vì lý do khác như SIBO.

Phụ gia gồm 16 thành phần này có tên là Total Restore . Bốn thành phần chính của Total Restore là 1. L-Glutamine : một axit amino không những xoa dịu màng ruột mà còn giúp giảm cơn đói cồn cào thèm ăn và giúp kiểm soát trọng lượng thân thể. 2. N-acetyl D-glucosamine Hợp chất này không những giảm đau khớp mà còn giúp thu thập chất lectin trong ruột, không cho nó bám vào màng ruột làm hư màng ruột. 3. Chất chiết củ cam thảo. Nghiên cứu gần đây chứng minh củ cam thảo có thể giúp làm lành màng ruột. 4. PepZin GI™ Là hổn hợp gồm chất kẻm và L-carnosine, hai thành phần “anh hùng đường ruột” chứng tỏ có công hiệu xoa dịu màng ruột. Theo Bác sĩ Gundry thì Total Restore có công hiệu

– Cải thiện triệu chứng rối loạn tiêu hoá như no hơi, sình bụng và tiêu hoá bất thường.

– Giải quyết chứng phì mập giảm trọng lượng cơ thể xuống mức dễ chịu, không còn phải khổ sở với những mãng mỡ khó trị.

– Giảm chứng da liễu khó giải thích nguyên do.

– Tăng sinh lực, giảm mệt mỏi , thêm sức sống vui trẻ.

Total Restore có bán với giá đặc biệt cho khách hàng mới tại http://gundrymd.com/total-restore/first-time-customers-offer/

Theo phản hồi của hơn 120 khách hàng thì phụ gia này rất cóng hiệu giải trừ chứng rối loạn tiêu hoá của họ. Họ muốn tiếp tục dùng phụ gia này, nhưng quý bạn không cần làm như vậy, với điều kiện bạn giảm chất lec tin và axit phytic trong thức ăn khi uống Total Restore và sau khi tiêu hoá hết bị rối loạn. Bạn cũng có thể uống N-Acetyl D-Glucosamine để ngăn ngừa ảnh hưởng của lectin trong thức ăn nếu có.

Thức ăn có nhiều nhất lectins gồm:

  • Các loại hạt đậu khô (legumes) nhất là đậu nành
  • Tất cả ngũ cốc kể cả lúa mì, lúa gạo.
  • Hạt có dầu sống
  • Sữa bò
  • Ngô bắp
  • Những cây trái loại nightshade (tạm dịch cây trái bóng đêm)  gồm khoai tây, cà tím, cà chua và ớt trái.

Chúng ta khó có thể loại bỏ hoàn toàn lectins trong thức ăn của mình. Theo Bác sĩ Jockers thì thật ra có một ít lectin cũng có lợi là vì một ít lectin tạo chút căng thẳng giúp bộ tiêu hoá mạnh lên. Vấn đề là tránh đừng ăn nhiều lectin đến nổi có hại cho đường tiêu hoá.

Chúng ta có thể gỉam ít nhất 50% lectin trong ngũ cốc và các loại đậu khô bàng cách

– Ngâm ngũ cốc, hạt có dầu và các loại đậu khô 12 tiếng đồng hồ trong nước với 1 muỗng lớn dấm táo sống, rữa sạnh trước khi nấu ăn.

– Cho hạt ngũ cốc, và đậu nẩy mầm rồi hãy nấu ăn. Cách làm nẩy mầm giống như là giá đỗ (hay đậu), nhưng không chờ đến khi mầm dài ra thành giá. Mà cất tủ lạnh hoặc dùng ngay khi hạt và đậu vừa nẫy mầm. (Xin google “cách là giá” đỗ trên mạng thì sẽ biết cách làm đơn giản). (Xin lưu ý là gạo trắng ít lectin hơn gạo thô và đậu chà vỏ (bóc vỏ) ít lectin hơn đậu nguyên vỏ.)

Xin lưu ý:

Cơ thể mỗi người khác nhau, cách này có thể có hiệu quả với người này mà không hiệu quả với người khác.

Tài liệu này chỉ có mục đích thông tin chứ không thay thế ý kiến của bác sĩ hay y sĩ của các bạn.

Tham khảo:

Aimee (2016) . Gut-healing vegetable broth (why it’s better than bone broth). Wallflower Kitchen. http://wallflowerkitchen.com/gut-healing-vegetable-broth-better-bone-broth/

Campbell-McBride. (n.d.) GAPS Introduction Diet. http://www.gapsdiet.com/gaps-introduction-diet.html

Campbell-McBride. (n.d.). Full GAPS diet. http://www.gapsdiet.com/gaps-full-diet.html

Gertsmar, T. (Dr) (2017). The IBS Answer. 6 Natural Ways to deal with IBS, Stop your gut pain, Break Free from the bathroom, and Get back to your life. Aspire Natural Health. https://aspirenaturalhealth.com/ibs-answer/

Gundry MD (2019) Total Restore. https://gundrymd.com/supplements/total-restore/

Jockers (2018). Why You Should Avoid Lectins in Your Diet! https://drjockers.com/avoid-lectins-diet/

Kris Gunnars (2018) FODMAP 101: A detailed Beginner’s Guide. https://www.healthline.com/nutrition/fodmaps-101

Mercola, J. (2012) Why Gut Flora Powerfully Dictates Whether You Are Healthy or Sick. https://articles.mercola.com/sites/articles/archive/2012/03/18/mcbride-and-barringer-interview.aspx

Monash University (2018). FODMAPS and Irritable Bowel Syndrome https://www.monashfodmap.com/about-fodmap-and-ibs/

Siebecker (2018). IBS & SIBO SOS™ Summit (2018) Interviewing Dr Allison Siebecker